Vô tự thị chân kinh (Thiếp trả nợ chàng)

129

Thiếp trả nợ chàng

Trương Chi, Mỵ Nương

Khoa học không tin có kiếp sau, có luân hồi, không tin có ân oán vay trả nhưng cho tới nay, khoa học vẫn hoàn toàn thất bại trong việc chứng minh những điều không tin ấy. Khi đã không tin thì những câu chuyện quanh vấn đề đó sẽ trở thành hoang đườnglố bịch, hoặc nhẹ nhàng hơn thì chỉ như câu chuyện mua vui, vô thưởng vô phạt mà thôi. Nhưng ngay với những người chỉ coi là chuyện “làm quà”, đôi khi họ cũng vô tình không nhận ra những món quà ấy thấp thoáng theo họ suốt chặng đời, nhiều khi còn ở lại với họ lâu hơn cả những món ân tình mà họ tưởng là bền bỉ keo sơn. Tạm thí dụ, ít người Việt Nam nào không biết chuyện Trương Chi Mỵ Nương. Cô công nương con quan, cành vàng lá ngọc, đêm đêm tựa lầu son nghe tiếng hát du dương của anh chèo đò ven sông mà mê mẩn tương tư.

Khi nàng mình hạc vóc mai, lương y khắp nơi triệu về đành bó tay trước căn bệnh lạ kỳ thì người thị nữ thân tín của nàng mới đành rụt rèsợ hãi thưa với Vương Quan rằng, cô chủ mê đắm tiếng hát ven sông mà sanh bệnh. Lập tức anh chèo đò nghèo khổ được triệu đến cửa quan. Bên giường bệnh của công nương, chàng được lệnh cất tiếng hát để cứu nàng. Trong cơn mê thiêm thiếp giữa mộng và thực, tiếng hát trầm bổng du dương có ma lực đưa nàng về dần sinh lộ. Với niềm hoan lạc ngập tràn, nàng từ từ mở mắt và trực diện người trong mộng mang gương mặt quá dị kỳ xấu xí, xấu đến mức vừa thất vọng, vừa kinh hãi, nàng đã hét rú lên rồi ngất xỉu. Lẽ dĩ nhiên, anh lái đò nghèo khổ lập tức bị đuổi khỏi dinh quan; nhưng oái oăm thay, nợ tình từ phút đó mới thực sự thành oan nghiệt vì vừa nhìn thấy dung nhan Mỵ Nương, lưới tình đã cột chặt lấy chàng trai “trời bắt xấu”. Tự biết thân phận mình, nhưng quá đau khổ, chàng ôm mối tình tuyệt vọng mà:

“Cắm sào cho chặt, hát thề một câu:

Kiếp này đã dở dang nhau

Thì xin kiếp khác duyên sau lại thành”

Khóc nguyện xong, chàng trầm mình xuống sông, tự vẫn. Không ai thấy xác người chèo đò nhưng ven sông đó bỗng mọc lên cây lạ. Một người thợ tiện đi ngang, biết là gỗ quý bèn cưa mấy nhánh, đẽo thành bộ tách trà rồi đem ra chợ bán. Duyên nghiệp nào run rủi, bộ tách được người trong dinh quan mua về, và khi thị nữ rót trà dâng công nương thì lung linh đáy chén, nàng nhìn rõ bóng con đò và người lái đò bất hạnh năm xưa! Chẳng phải chỉ nhìn thấy bóng hình mà tiếng hát mê hồn còn cất lên, nghẹn ngào tức tưởi như oán như than. Công nương vô vàn ân hận, giọt châu lã chã rơi xuống chén. Nước mắt nàng rơi đến đâu, bóng hình chàng mờ nhạt đến đấy; và khi nàng òa lên, ôm chén ngọc vào lòng nức nở rằng “Duyên xưa đã lỡ phũ phàng. Thiếp trả nợ chàng nước mắt đầy vơi”, là lúc hương trà sóng sánh, đưa hồn chàng tan biến, thoát vòng oan nghiệt trần gian …..

Câu chuyện thực hay hư, hình như chẳng ai buồn bỏ công truy tìm vì tình tiết đẹp quá! Diễm lệ quá! Thơ mộng quá! Đẹp đến nỗi có người mơ mộng, mong được là Trương Chi để tận hưởng cái thú đau thương tột đỉnh của một tâm hồn nghệ sỹ! Có người lại muốn được là Mỵ Nương để biết tận đáy cảm xúc rung động tuyệt vời của con tim! Chúng ta thường nói “thương lắm” hay “ghét lắm” mà thật ra thương, ghét đó vẫn chỉ là hời hợt. Phải đi tới nỗi đau cùng cực trộn lẫn niềm hoan lạc vô bờ thì con sâu kinh dị mới hóa thành cánh bướm muôn mầu rực rỡ giữa ngàn hoa.

Hầu hết những câu chuyện dân gian đều nói đến sự thắt, mở của ân oán, của việc lánh ác, làm lành, của việc gieo nhân nào gặt quả nấy, không đời này thì đời sau. Chẳng phải vô tình chuyện dân gian Á Đông xoay quanh những tình tiết đó mà chính vì Đạo Phật thấm nhuần chúng ta. Không ai bảo ai, chúng sanh chào đời đều cất tiếng khóc như nhau. Sao thế? Khóc hay cười khi đó đều vô nghĩa, sao không trẻ thơ nào cất tiếng cười vang mà đều là khóc òa, khóc thét? Có phải vì nhận kiếp người đã là nhận một, trong tứ khổ rồi không? Chư Phật thị hiện cõi ta-bà cũng chỉ vì một nhân duyên duy nhất là Khai, Thị, Ngộ, Nhập Phật tri kiến. Khai là mở ra, thị là chỉ cho thấy, ngộ là giải cho hiểu được, nhập là bước vào, là một, với Phật tánh sẵn có của mình. Chúng sanh nào Nhập được Phật tri kiến mới mong “khi chào đời cất tiếng khóc, lúc lìa đời cười mỉm nụ an nhiên”.

Nhưng cuộc đời là một bãi chiến trường triền miên thống hận. Chẳng phải ta chỉ thắng người mà còn phải thắng ta. Làm sao để giảm bớt địa bàn ở bãi chiến trường đó? Chỉ cần tỉnh thức đừng tạo nghiệp. Chẳng phải ghét bỏ nhau mới là tạo nghiệp mà yêu thương cũng là nghiệp đấy! Giải lụa mềm mà đủ sức trói chặt ta trong ảo tưởng, khiến nợ nhau đời này khôn trả, đời sau còn tìm nhau vì tưởng nhớ tiền thân!

Chiều nay bỗng nhiều gió quá, chạnh thương những chùm hoa bưởi mới đơm bông khiến tôi viết đôi giòng lẩn thẩn này. Lẩn thẩn viết chưa đủ, tôi còn lẩn thẩn nghĩ rằng, nếu tôi là cô thiếu nữ có bó hoa sen trên tay trong câu chuyện tiền thân của Đức Phật thì tôi đã tặng hết cho anh chàng Megha lành thiện, đã năn nỉ ngỏ lời mua lại 5 bông để có sen cúng dường Đấng Toàn Giác Dipankara. Tặng hết, vô điều kiện may ra tránh được vướng mắc tơ duyên kiếp sau! Nhưng duyên và nợ tuy vô hình mà chằng chịt tinh vi khiến chúng sanh cứ quẩn quanh chìm nổi mãi, người cho tuy không đòi mà người nhận vẫn mắc nợ! Có nợ lại tìm nhau!

Làm sao, trong đời này chúng ta sớm biết vay, trả nhau cho đủ, đừng muộn màng như Trương Chi-Mỵ Nương mà để lại trường hận ngàn đời cho nhân gian thương cảm:

“Duyên năm xưa,

Ai đã trả cho ai?

Cho chén tan thành lời

Đem xuống nơi tuyền đài

Để thành ngọc đá bao giờ phai …..”

Tháng 5, 2005
Mùa Phật Đản lần thứ 2629
Diệu Trân