Vô tự thị chân kinh (Sujata)

118

Sujata

Sujata, tiếng Pali được tạm dịch là Tu Già Đa, tên một cô bé nhà giầu ở thôn Uruvela, gần Gaya, cách thủ phủ Patna của tỉnh Bihar 80 dặm về hướng đông nam Ấn Độ. Trong quốc gia mênh mông và phức tạp đó, thôn làng Uruvela quá nhỏ bé, sẽ chẳng ai cần biết đến, nếu nơi đó không có giòng sông Ni Liên Thuyền mà Đức Phật từng xuống tắm, không có khu rừng mà Đức Phật từng trú ngụ, không có cây bồ đề mà Đức Phật thường ngồi thiền định và sau cùng, tìm ra Đạo Lớn. Tất cả đều đã trở thành Linh Địa, với lòng ngưỡng kính của Phật tử muôn phương hướng về.

Nhưng còn Sujata? Có mấy ai nhắc tới cô bé đã dâng bát sữa cứu mạng Đấng Thế Tôn khi Ngài còn là sa-môn Gotama? Vì tu khổ hạnh lâu ngày, sa-môn Gotama quá đuối sức đã ngất xỉu bên bờ sông. Dưới ánh nắng chói chang và sức nóng như thiêu đốt, Sujata mặc sari mầu hồng, bưng một mâm đầy thực phẩm tinh sạch vào rừng để cúng thần linh. Tới bờ sông thì cô bé chợt nhìn thấy một vị sa-môn gầy yếu, nằm lả trên nền đất. Cô bé biết ngay đây là một nhà tu khổ hạnh bị kiệt sức. Cô bèn vội vã rót sữa rồi quỳ xuống, từ từ đổ từng giọt sữa cho sa-môn. Khi bát sữa cạn, cô bé hồi hộp chờ đợi phản ứng của sa-môn. Quả thật, sữa đã như thần dược với người kiệt sức vì chỉ một lát thì vị sa-môn mở mắt. Cô bé vội dâng bát sữa thứ hai. Ngài nhận lấy, chậm rãi uống cạn và không bao lâu, Ngài có thể tự ngồi dậy, nói lời cám ơn cô bé và cho cô biết Ngài là ai.

Sujata! Sao âm thanh ngắn ngủi, xa lạ đó cứ mãi luẩn quẩn tâm tôi? Nếu ngày rằm đó, Sujata không đi bằng đường bờ sông để vào rừng cúng thần linh? Hoặc đi bằng đường ấy mà không nhìn thấy sa-môn Gotama? Hoặc thấy Ngài, nhưng đã quá trễ?

Những “nếu”, những “hoặc” đó mà xẩy ra thì nhân loại đã không được có Phật Thích Ca, không được có Đạo Cả để nương theo! Chao ơi! Sự bất hạnh đó khủng khiếp quá! lớn lao quá!

Nhưng cô bé Sujata đã tới kịp và đã lập tức làm ngay những gì cô biết là phải làm. Khi hai bàn tay nhỏ nâng bát sữa, kê miệng vị sa-môn và dịu dàng đổ vào, cô không hề biết là cô đang góp phần vào một biến cố trọng đại của nhân loại, một phước báu vượt trên mọi phước báu vô lượng vô biên của cả muôn người muôn loài thâu gồm lại! Mà cô cần biết chi điều đó! Cô chỉ cần nhìn thấy vị sa-môn kiệt sức kia hồi tỉnh lại. Chỉ thế thôi! Và Ngài đã không phụ lòng cô. Ngài đã tỉnh lại để hàng ngày cô được cúng dường Ngài một nắm cơm muối mè cho tới khi Ngài thành đạo.

Ơn cứu mạng lớn lắm chứ! Vậy mà chúng ta không thấy Đức Phật đặc biệt ưu ái Sujata. Sau khi thành đạt, Ngài lưu lại Uruvela một tuần trăng để dạy đạo cho đám trẻ trong thôn, trong đó có Sujata. Ngài coi tất cả như nhau, từ những trẻ con nhà giầu mặc gấm lụa tới những trẻ nghèo chỉ có mảnh vải rách che thân, đều đến ngồi trên nền cỏ, xúm xít quanh ngài.

Và Sujata, có công cứu mạng một vị Phật thì phước đức nhường bao! nhưng cô bé chẳng hề thấy mình khác những đứa trẻ trong làng. Trái lại, được có chút học thức, cô hiểu về lễ nghi và thường hết sức cung kính Phật để đám trẻ noi theo.

Kẻ cúng dường, người nhận lãnh đều an nhiên tự tại.

Gần một năm, sau khi Đức Phật rời thôn Uruvela để bắt đầu hoằng pháp, Sujata chỉ còn được gặp Ngài một lần khi Ngài trở lại thăm bọn trẻ. Cũng thời gian đó, tăng đoàn của đạo sĩ Kassapa – giáo phái thờ Thần Lửa – đang tu học đông đảo ở khu rừng bên kia sông. Đức Phật đã đàm đạo với đạo sĩ Kassapa và thuyết phục được ba anh em đạo sĩ đem cả tăng đoàn gần 900 trăm người về tu học Đạo Giác Ngộ.

Đó là lần cuối cùng Sujata được diện kiến Đức Phật, cùng với bọn trẻ trong làng!.

Cô bé có một tâm lành như vậy, sao không nương theo Đạo Cả Đức Phật vừa mở ra mà tìm đường giải thoát? Suốt dặm trường hoằng phápĐức Phật đã độ cho biết bao người từ vua, quan, trưởng giả đến cùng khổ, nghèo hèn, sao Ngài không độ cho người đã cứu mạng mình? Ngay cả đến mười năm sau, khi Đức Phật trở lại thôn Uruvela như lời hứa với Svastika – chú bé chăn trâu thường cúng dường cỏ tươi để Ngài trải làm tọa cụ khi ngồi thiền dưới gốc cây bồ đề – để tiếp nhận chú vào tăng đoàn của Ngài, mà không nhắc đến cô thí chủ nhỏ bé năm xưa?

Đem tâm thế gian mà luận sự nhiệm mầu thì những dấu hỏi ấy sẽ chẳng có lời giải đáp ổn thỏa.

Hãy thử gột rửa thân tâm.

Hãy lắng mọi giao động xôn xao.

Hãy tĩnh lặng thiền định.

Hãy ươm trong tâm mình một mầm sen.

Hãy khai giòng Cam Lộ cho đóa sen hé nở.

Hãy lấy lửa bản thể đốt lên Tâm Hương…….

May ra, tâm-thế-gian có cơ duyên chuyển hóa, thấy được phần nào biển trí bao la của Pháp Phật nhiệm mầu.

Sa-môn Gotama nhận lãnh ơn cứu mạng như một sắp đặt cho cô bé Sujata có cơ duyên được gieo trồng phước báu ở đời này và đời sauPhải chăng đời này cô còn những nợ duyên chưa dứt nên Ngài chỉ độ cô gieo được hạt lành? Nếu vì ơn đó mà phải ưu đãi Sujata hơn những đứa trẻ khác thì chính Ngài đã không thực thi được sự bình đẳng như Ngài thuyết giảngSâu xa hơn, ai nói Ngài chưa trả đủ ơn cứu mạng? Ngài đã trả bát sữa đó bằng trọn vẹn trí tuệ và tình thương qua 49 năm hoằng pháp và 84 ngàn pháp môn phương tiệnlưu truyền cho đến đời này và muôn ngàn đời sau, đem phúc lợi cho muôn người, muôn loài. Đó là cách trả ơn của Đấng Toàn Giác. Nếu chỉ nghĩ đối tượng là cá nhân cô bé dâng sữa thì quá hẹp hòi, cạn cợt!

Phần Sujata, khi sa-môn Gotama đạt đạo, cô biết rằng Ngài sẽ là một vị Phật tối thượng, muôn người muôn loài đều cung kính. Đứng trước Ngài, cô chỉ thấy mình là một chúng sanh bé nhỏ, rạp đầu kính lễ. Nếu kiêu mạn nghĩ rằng mình đã có công cứu mạng vị Phật uy linh kia, thì còn chi phước báu!

Phải chăng, chính Đức Phật đã truyền cho cô trí tuệ này để cô nhận thức được như thế mà thể hiện tinh thần Vô Ngãthể hiện hạnh đầu tiên trong Lục Độ Ba La Mật bằng tuyệt đích của ý nghĩa CHO và NHẬN.

Cho không dính.

Nhận không mắc.

Không dính mắc mới đạt được an nhiên tự tại để khởi đi những bước vững chãi trên con đường Trung Đạo./.

Tháng bẩy 2004

Diệu Trân