Vô tự thị chân kinh (Mưa núi)

50

Mưa núi

Người bạn đạo rủ tôi lên chùa trên núi nghe pháp vì có người cho quá giang. Thật là duyên lành vì đấy là ngôi chùa tôi mong một lần được viếng mà chưa có phương tiện.

Buổi chiều trước ngày đi, tin khí tượng báo, đêm sẽ mưa và hôm sau còn mưa nữa! Bạn tôi gọi, và lo lắng:

– Mưa, làm sao mà lên núi?

– Thế người cho quá giang có đi không?

– Chưa nghe họ nói gì cả.

– Vậy mình cứ coi như trời không mưa, sáng mai mình cứ đến điểm hẹn.

Điểm hẹn chính là tư gia của người sẽ cho chúng tôi quá giang. Tin khí tượng lâu lâu đoán sai nhưng lần này họ lại đoán đúng quá! Đêm qua tôi nằm thao thức nghe mưa rạt rào bên khung cửa, nghĩ đến bầy chim sẻ đông đảo làm tổ trên cây thông rậm rạp tàn lá, lối cửa vào nhà bếp. Bản năng sinh tồn thật là kỳ diệu, sau những cơn giông bão tả tơi của đất trời, tưởng như những sinh vật nhỏ bé không còn cơ sống sótvậy mà, chỉ một tia nắng ban mai yếu ớt thôi là chúng lại reo vui cùng vạn hữu. Tôi biết chúng sẽ qua được đêm mưa này để ngày mai lại chịu cơn mưa khác. Sự khổ đau của con người cũng như vậy chăng? Có những nỗi đau ta tưởng không chịu nổi nhưng rồi nỗi đau đó vẫn qua, ta vẫn còn đó để sẵn sàng chịu bao nỗi đau khác tới!

Sáng sớm hôm sau, hai đứa tôi lội mưa tới điểm hẹn. Chủ nhà đã sẵn sàng, và chúng tôi cùng lên đường trên chiếc xe Van của họ do con trai họ lái. Ở thời buổi này, hai người thanh niên trẻ trung, năng động, dành ngày cuối tuần đưa bố mẹ đi chùa là điều khá hiếm. Hiếm hơn nữa, câu chuyện trên xe họ nói với nhau chỉ là những sinh hoạt trên chùa, thỉnh thoảng nhắc đến tên những vị tăng ni mà họ quý mến mà không hề có tiếng thị phi qua lại.

Mưa nhẹ hơn khi xe rẽ vào đường núi. Phút chốc, cảnh ồn ào phố thị đã khuất sau lưng. Núi rừng hùng vĩ bao la ngạo nghễ trong màn mưa trắng đục. Xe chạy qua rừng thông, qua rừng sồi, qua những vách đá cheo leo mà vững chãi, niềm vui trong lòng tôi, theo với mưa mà chan hòa trời đất……

Mưa lại nhẹ hạt hơn, chỉ còn như những làn bụi mỏng khi xe ngừng trước thiền đường khang trang trên một ngọn đồi. Đó đây, những bóng áo nâu, áo lam thấp thoáng như những nét chấm phá tuyệt vời trên bức tranh thủy mạc linh động. Không có tiếng cười nói ồn ào, không có những bước chân khua động vội vã, không có những gương mặt nhăn nhó, ưu tư…..chỉ thấy những nụ cười nhẹ nhàng, những cái chắp tay chào nhau thầm lặng mà đầy thân ái, những bước chân khoan thai mà đầy an lạcthảnh thơi. Không ai bảo ai, họ thư thái, nhu hòa, thể hiện chân-như bát ngát.

Hai chúng tôi hòa nhập vào đạo tràng đó và dù cố gắng thế nào vẫn lộ rõ sự lúng túnglăng xăng. Rồi giờ thực hành nghi lễ bắt đầu. Tuy không thấy vị Thầy chủ lễ nhưng trên những hàng tọa cụ đối diện nhau, chúng tôi thấy quý Sư chú, Sư cô đông đến hơn ba mươi người. Các vị ngồi xuống, rất nhẹ nhàng, và gương mặt đều toát ra tràn đầy vẻ từ ái. Chính tư thái đoan nghiêm của các vị tu sĩ đã truyền năng lượng trực tiếp đến tất cả Phật tử hiện diện và mọi người đều đồng nhất ngồi xuống như thế, thanh thản như thế và nhu hòa như thế. Không khí này tôi chưa từng được thấy ở bất cứ ngôi chùa nào, tu viện nào mà tôi đã viếng thăm. Và lòng tôi rung động khi nghĩ tới hai câu thơ của thầy Tuệ Không Phạm Thiên Thư: “Làm trang nghiêm cõi Phật. Tức trang nghiêm cõi người”. Tâm náo động mà đi tìm cõi Phật trang nghiêm thì có khác gì nàng Diễn Nhã Đạt Đa trong Kinh Lăng Nghiêm, cứ lắc đầu mà khóc rằng “ Đầu tôi đâu? Tôi đã mất đầu!!!”

Khi đại chúng đều an tọa, vị duy-na điểm nhẹ ba tiếng chuông rồi cất giọng, xướng bài kệ Dâng HươngMọi người lặng yên quán tưởng. Bên ngoài, trời lại bắt đầu mưa. Xung quanh thiền đường toàn là cửa kính nên có thể thấy rất rõ từng cái oằn mình của nhánh thông non, từng chiếc lá sồi lượn lờ trong màn mưa trong vắtnghe được từng tiếng gió rít qua hàng tiêu lả ngọn, và, ở một phút nào, có phải là mưa đang cùng tụng Bát Nhã? Ôi, kỳ diệu thay! mưa đang hòa âm thanh trầm bổng với tăng chúng

“…Sắc chẳng khác gì không

Không chẳng khác gì sắc

Sắc chính thực là không

Không chính thực là sắc

Còn lại bốn uẩn kia

Cũng đều như vậy cả….

……………………..

Gate

Gate

Paragate

Parasamgate

Bodhi

Svaha”

Chỉ khi đọc tới câu chú này tôi mới định thần rằng mình vừa mộng tưởng. Nhưng cái gì là mộng, cái gì là thực khi “Sắc chẳng khác gì không. Không chẳng khác gì sắc”? Âm thanh tôi đang nghe được qua nhĩ căn có thực là âm thanh Bát Nhã, hay chính cơn mưa hùng tráng tinh khôi ngoài đồi núi bạt ngàn kia mới là bài ca Bát Nhã bất tận? Mưa xuống như rong chơi, núi lặng yên tắm mát, rừng đùa vui cùng gió rạt rào, những tảng đá thì thào to nhỏ….vạn hữu thể hiện tràn đầy tự tại an nhiêntrong sáng và đơn giản, đứng ngoài mọi biệt phân, hý luận chính là tinh thần Bồ Tát Tự Tại

“…Nên khi vị Bồ Tát

Nương diệu pháp Trí Độ

Bát Nhã Ba La Mật

Thì tâm không chướng ngại

Vì tâm không chướng ngại

Nên không có sợ hãi…”

Năng lượng của tăng chúng, của gió núi mưa rừng, của tiếng chuông rất nhẹ mà như ngân vô tận, của tiếng mõ rất nhỏ mà như thoảng khôn dừng, tất cả, trong một sát na, bỗng lắng yên. Một cánh cửa hé mở. Một chút mưa, một chút gió đùa nghịch lén theo gót chân Thầy. Nhẹ tay khép cửa, Thầy bước vào, cởi chiếc nón lá, rũ nhẹ những giọt mưa còn lưu luyến rồi từ tốn đặt nón ở góc phòng. Thầy bước từng bước chậm nhưng vững chãian nhiên. Thầy tiến lên bục giảng. Thầy chắp tay. Và Thầy nói:

– Xin chào đại chúng.

Tất cả đại chúng chắp tay và cúi đầu.

Trời ơi, tôi chưa thấy nơi nào mà cung cách đón vị giảng sư vào đạo tràng lại đơn giản mà tôn nghiêm đến thế! Có cần chi chuông khánh rộn ràng mà tâm thiếu tôn kính trang nghiêm? Nơi đây, Thầy tự bước vào, cất tiếng chào đại chúng trước. Và Phật tử lặng yên chắp tay đáp lễ, chính là đang nhiếp tâm chánh niệmcúng dường Thầy nội tâm thanh tịnh của mình. Một kẻ còn ngơ ngác như tôi mà cũng nhận được ra như thế! Tôi liếc nhìn người bạn đạo ngồi bên, cũng là lúc chị ngửng đầu lên, môi điểm nụ-cười-Ca-Diếp trong Hội Liên Hoa.

Rồi Thầy cất tiếng giảng. Giọng Thầy cũng nhẹ như khi Thầy bước vào cùng mưa, nhưng rõ ràng, khúc chiết như những giòng chữ Thầy đang ghi trên bảng đen. Bài giảng xen lẫn những áng thơ óng chuốt mà Thầy phiên dịch từ chữ Hán sang chữ nôm. Với viên phấn trắng, Thầy viết nguyên bản chữ Hán đến đâu thì cất giọng phiên dịch đến đấy. Không phải là giấy điều, bút lông mà nét chữ Thầy đã rất đẹp, rất bay bướm. Hôm đó, Thầy mở đầu bằng bài thơ của vua Trần Nhân Tông tức là Thiền sư Hương Vân, để giảng về Hạnh Bồ TátThỉnh thoảng Thầy nâng tách nước, uống một ngụm nhỏ, như để đại chúng có chút không gianthời gian thấm được những lời Thầy nói. Bằng ái ngữ dịu dàngcử chỉ khoan thai, Thầy giảng bài pháp thâm diệu hết sức xúc tích mà lại vô cùng dễ hiểuHạnh phúc biết bao khi được thọ nhận pháp thí này!

Khi Thầy vào như thế nào thì ra như thế ấy. Sau kệ hồi hướng, Thầy chắp tay xá đại chúngbước xuống bục giảng, đi về hướng cửa. Tới góc phòng, Thầy cúi xuống, cầm chiếc nón lá, nhìn ra khung trời mưa bay rồi chậm rãi đội nón, mở nhẹ cánh cửa. Không nói thêm một lời mà như để lại ngàn lời.

Đại chúng đều ngồi chắp tay lặng yên, nhiếp tâm chánh niệm theo bóng áo nâu nhòa dần sau làn mưa núi….

Tôi khóc tầm tã như mưa! Hạnh phúc như mưa! Lắng trong và ngọt lịm như mưa! Pháp là thế mà thôi, là Từ Bi Trí Tuệ thể hiện viên dung, như Đức Phật đã dạy: “49 năm ta chưa từng nói.” Nhưng hãy nhìn những bước Đức Phật đi, hãy thấy những việc Đức Phật làm mới biết đâu là cửa đạo.

Trên đường xuống núi, người bạn đạo nhặt một bông hoa vàng đã vui theo mưa mà vương trên bụi cỏ. Bạn im lặng đưa cho tôi. Tôi nhận bông hoa và im lặng mỉm cười. Bỗng nhiên tôi hiểu bạn như bạn đang hiểu tôi.

Chúng tôi vừa thực chứng giai thoại “Niêm hoa vi tiếu” thuở nào…….

Tháng Giêng 2005
Diệu Trân