Vô tự thị chân kinh (Mây trên đỉnh núi)

103

Mây trên đỉnh núi

Chiếc xe Bus chạy xuyên bang, chầm chậm rẽ vào thành phố ven biển. Nắng chiều đã nhạt trên những tàng cây xanh. Chim biển lao xao gọi nhau, hòa cùng tiếng sóng vỗ rì rào trên những ghềnh đá, tạo nên cảm giác bồn chồn, nôn nao. Khi chiếc xe dừng ở trạm chót thì ánh nắng đã nhạt hẳn. Bầu trời nhá nhem ẩn dụ nỗi hoang mang. Có phải cảnh giới thực thế chăng, hay nỗi hoang mang chính từ trong tâm vị Sa môn trẻ? Đây là lần đầu tiên Sa-môn rời chùa một mình và đi xa như thế! Khởi hành từ thành phố Columbia thuộc tiểu bang South California, chuyến xe Bus đã đưa Sa-môn từ Nam lên Bắc và vừa ngừng lại ở Anapolis, cách thủ đô Hoa Thịnh Đốn hơn ba mươi dặm. Tỉnh nhỏ ven biển này là nơi Sa-môn phải hoàn thành sứ mạng mà Sư phụ giao phóSư phụ còn cẩn thận dặn: “Hễ đến nơi mà trời tối rồi thì con nên kiếm phòng trọ nghỉ ngơi vì ở tỉnh lạ mà đi tìm nhà ban đêm không dễ đâu!” Nhớ lời dặn đó, Sa-môn đeo tay nải, đi về hướng trung tâm thành phố.

Những hàng quán trong phố đều còn mở cửa. Sa-môn chợt nhìn thấy một bảng hiệu “Oriental Food”, bèn bước vào định hỏi thăm thì người bán hàng đã nhìn thấy, liền chắp tay cung kính:

– A Di Đà Phật.

Nghe tiếng người đồng hương, Sa-môn mừng quá, vội đáp lễ:

– A Di Đà Phật

Người bán hàng vồn vã:

– Thưa thầy, thầy từ đâu đến đây?

– Tôi từ xa lắm, từ South Carolina.

– Hèn chi, con chưa thấy thầy bao giờ. Tỉnh nhỏ này không có một ngôi chùa Phật giáo nào. Mỗi khi Lễ, Tết, chúng con phải lái xe ba mươi dặm, đến Hoa Thịnh Đốn mới có chùa Việt Nam. Thưa thầy, thầy cần chi?

– Sư phụ tôi lâm trọng bệnh, đã chữa trị theo Tây học nhiều nơi mà không thuyên giảm. Nay nghe mách có vị danh y ở tỉnh này chữa bệnh toàn bằng dược thảo và đã cứu được nhiều người nên đến vấn thuốc.

– Ồ, đúng đó thầy. Đó là ông thầy thuốc Nam, người Việt Nam mình. Ông được cả tỉnh này quý trọng không phải chỉ vì ông cứu người bất vụ lợi mà còn vì đức độ và đời sống gương mẫu của hai cha con. Đối với người bản xứ, cảnh người con gái – dù đã trưởng thành – vẫn cung kính quỳ trước cha mỗi khi muốn thưa gửi điều gì, là sự kiện lạ lắm! Trước thì họ thấy lạ, sau nhìn quen, họ đâm ra ngưỡng phục đạo lý Á Đông. Nhiều cư dân địa phương tới bắt mạch xin thuốc cũng quỳ trước ông thầy, cứ như Phật tử tới chùa quỳ trước Phật đài vậy. Đến đây mà hỏi thầy thuốc Nam thì ai mà không biết.

Dù biết chỉ là câu nói vô tình nhưng Sa-môn cũng không dấu được sự rúng động. Sa-môn vui mừng hỏi:

– Tiệm thuốc đó có ở gần đây không, thưa bà?

– Cũng không xa lắm, nhưng ở chỗ khuất lánh, cuối dốc Phố Cổ. Thôi được, con cũng sắp đóng cửa tiệm, thầy chờ một lát, trên đường về con sẽ đưa thầy đến đó.

Được người Phật tử từ tâm chỉ dẫn, Sa-môn men theo Phố Cổ, hướng về cuối dốc. Cằn nhà gỗ nhỏ hiện ra dưới tàng cây khuynh diệp. Bước lên hàng hiên, Sa-môn đứng lặng hồi lâu, định tâm, rồi mới nhẹ nhàng bấm chuông. Một lát, có tiếng dép di động, rồi cửa mở.

Chủ và khách nhìn nhau.

Vầng trăng như tỏa xuống muôn ánh sáng nhiệm mầu, soi tỏ, khua động miền tịnh lặng, dấy lên nét chấm phá tuyệt vời đột khởi của bức tranh tĩnh mạc.

Không gian ngưng đọng phút giây bàng bạc đó ….

– Minh Tánh!

– Thầy!…Bạch Thầy!…

Vị Sa-môn trẻ, pháp danh Minh Tánh, vừa xúc động, vừa nghẹn ngào, quỳ ngay xuống bực thềm rêu lạnh mà thưa lên như thế.

Cánh cửa mở rộng hơn. Ông thầy thuốc đỡ Sa-môn đứng dậy. Sa-môn cúi đầu, chắp tay, rồi chân bước mà tâm trí mơ màng như đang bước trong mộng ảo. Khi khay trà thơm ngát được một người nữ quỳ xuống, kính cẩn dâng lên, Sa-môn mới bừng tỉnh, chắp hai tay, xá người dâng trà. Trong ba người hiện diện, có lẽ chỉ Sa-môn bối rối chứ chủ nhà thì rất an nhiênđiềm đạm, tưởng như họ đã biết trước sẽ có người khách đến từ phương xa này!

Khi người nữ nhẹ nhàng lên lầu, Sa-môn Minh Tánh mới nức nở:

– Bạch Thầy!…Bạch Đại- sư!… Hơn bẩy năm rồi, sư phụ con không lúc nào nguôi nhớ tới Đại- sư. Nhớ, nhưng vẫn phải tuân lời Đai-sư mà không đi tìm kiếm. Nay, sắp rời cõi ta-bà này, không hiểu vì đâu biết được chỗ ở của Đai-sư mà sai con tới thỉnh. Ngày Đai-sư đột ngột ra đi, con còn nhỏ quá. Vả chăng, rất nhiều điều con không được quyền biết. Nay, chỉ lãnh ý sư phụ con mà khẩn cầu thống thiết xin Đại-sư trở về. Hơn bẩy năm đã tuân ý, nay trái ý mà đi tìm, hẳn là sư phụ con nương vào lẽ duyên hợp, biết rằng hoa đã tới lúc nở, trái đã tới lúc chín, nghiệp đã tới lúc tận …..

Người thầy thuốc bỗng chắp tay, nhắm mắt lại.

Ngoài kia, gió nổi lên từng cơn, oằn những cành khuynh diệp lao xao trên mái nhà. Hương trà thơm như đang bay ngược chiều gió, bay về tận chốn nào xa thật là xa.

Thiền viện Linh Thứu nằm khiêm tốn, ven đô Sài Gòn. Viện chỉ là căn nhà ba gian, hai trái và một vườn rau xanh tốt bốn mùa. Gian giữa là chánh điện thờ Phật, còn là phòng khách, nhà trai, nhà bếp và tịnh thất của vị trụ trì. Ấy thế mà không lúc nào viện vắng bóng khách thập phương lui tới, bởi tiếng đồn về sự uyên bác của Thiền sư Thệ-Nhật. Thiền sư mới ngoài ba mươi thôi nhưng kinh điển làu thông, nghiêm minh đức độ và đặc biệtam tường nhiều ngôn ngữ do ngài tự học.Bậc trí thức ngoại quốc nghe danh, tìm đến viếng ngài nhiều lắm, nói chi dân chúng quanh vùng.

Một, trong những người thường đến vấn đạo và cúng dường là doanh gia Như Đạt. Hễ ông cúng dường tiền bạc thì Thiền sư đem phát cho người nghèo, cúng thực phẩm thì sau khi dâng lên Tam Bảo, Người mời Phật tử cùng ăn. Một lần, ông Như Đạt đem theo cô gái nhỏ chừng 12, 13 tuổi, xinh đẹp như một con búp bê. Cô bé nhìn cha, bắt chước cúi đầu đảnh lễ Phật. Sau đó, hai cha con ra phòng khách vấn an Thiền sư. Như thường lệ, ông Như Đạt chắp hai tay xá Thiền sư. Cô gái nhỏ cũng bắt chước cha, nhưng không chỉ xá, cô dập đầu lạy hết sức thành khẩnhết sức tôn kínhhết sức thiết tha. Lạy xong 3 lạy như thế, cô cứ quỳ mọp trên đất, không ngửng mặt lên nữa. Người cha vô cùng ngạc nhiên vì đây là lần đầu cô bé được đến chùa, sao biết lạy một cách nghiêm túc như thế! Ông ôn tồn bảo con ngồi dậy, nhưng cô bé không nhúc nhích….

5 phút…rồi 10 phút…Cuối cùng, Thiền sư Thệ-Nhật khẽ thở dài, bảo:

– Con ngồi lên đi!

Cô bé lập tức ngoan ngoãn nghe lời, nhưng đôi mắt ngây thơ đã đầm đìa lệ ứa.

Ngay hôm đó, Thiền sư Thệ-Nhật đã buồn rầu nói với doanh gia Như Đạt là không nên cho cô bé đến chùa này nữa! Ông Như Đạt ngạc nhiên:

– Sao vậy, thưa Thiền sư?

Thiền sư chỉ nói hai tiếng:

– Không tốt!

Dù lòng đầy thắc mắc, nhưng vốn tôn kính Thiền sư, ông Như Đạt tuân lời.

Suốt hai tháng sau đó, cô bé không được theo cha đến chùa nữa.

Và rồi, ngày 30 tháng tư năm 1975 ập tới.

Thiền sư Thệ-Nhật xuống tầu, rời quê hương trong sự bất ngờ.

Chặng hành trình thăm thẳm đưa Thiền sư đến bến bờ tự do và định cư tại tiểu bang South Carolina. Thời gian này, dù ít người Việt nơi đây nhưng Thiền sư cũng lập ngay đạo tràng đơn sơ để làm môi trường hoằng pháp. Với trí tuệ đó, với đức độ đó, chỉ một thời gian ngắn, người Việt – dù ở xa – cũng như người bản xứ, đều tìm đến. Suốt 6 năm ở tiểu bang này, Thiền sư đã được mời thuyết giảng rất nhiều lần. Người đã nói về Tứ Diệu Đế, về lý Duyên Sinh Vô Ngã, về Tam Giải Thoát Môn, về Bát Chánh Đạo, về Thất Bồ Đề …..về rất nhiều pháp môn lập ra từ lời Phật dạy, giúp chúng sanh thấy được Phật tánh nơi mình mà thoát khỏi vô minh phiền não.

Qua Thiền sư Thệ-Nhật, ở một thành phố mà nhà thờ nhiều hơn trường học, con chiên của Chúa được thấy thêm một con đường thiện mỹ nữa. Con đường này rất gần gũi, rất thực tếCon đường này tự ở ngay TÂM người mà ra, không đâu xa, không huyền thoại, không thần thánh gì, chỉ cần ta biết điều phục VỌNG TÂM thì sẽ hiển lộ CHÂN TÂM. Khi nhìn rõ được chân tâm thì ngay phút đó bao sợi giây chằng chịt vô hình của đau khổ phiền não tự bung ra, ta sẽ an nhiên tự tạithênh thang như hư không vô cùng vô tận. Vậy VỌNG là gì và CHÂN là gì mà từ trói buộc có thể tới giải thoát như thế?

Thiền sư Thệ-Nhật thường nói đơn giản rằng, tâm vọng là cái tâm bị cảnh giới dẫn đi, do 6 căn tiếp xúc với 6 trần mà tạo cảm thọ, rồi ta nương theo cảm thọ đó mà hành xử. Nhưng tâm vọng thì biến diệt, thay đổi luôn luôn, như mắt thấy bông hoa đỏ, khen đẹp, nhưng chợt thấy bông hoa vàng, cho là đẹp hơn thì lại chê hoa đỏ. Nay gặp người này, cho là hạp ý mà thương, mai gặp người nọ, cảm thấy hạp ý hơn thì lại ghét người trước. Phàm cái gì thay đổi, biến diệt là cái không thật, nhưng ta ngỡ là thật mà cứ thế bị cuốn hút theo. Đó chính là giòng sanh tử trầm luân!

Bên cạnh cái tâm vọng, lăng xăng giao động không ngừng đó là nụ cười từ bi, tĩnh lặng, an nhiên của chân tâm. Cái tâm này cũng nhìn thấy bông hoa đỏ mà không chê, cũng thấy bông hoa vàng mà không khen, cũng gặp người này mà chẳng luyến, gặp người nọ mà chẳng ghét. Cái tâm này chỉ nhận biết mọi sự vật đơn thuần mà không bị sự vật kéo lôi tâm vào cảm thọ nên tâm này KHÔNG BAO GIỜ ĐỔI THAY BIẾN DIỆT; vì không hề bị nhuốm sắc trần nên tâm này TRONG SUỐT LƯU LY; vì tâm này không chỉ đến, khi xác thân ta tượng hình, cũng không hề đi, khi xác thân ta tan hoại nên tâm này BẤT SANH BẤT DIỆT. Cái tâm bất sanh bất diệttrong suốt lưu ly, không bao giờ đổi thay biến diệt này chính là PHẬT TÁNH của mỗi người. Ai gạn lọc được vọng tâm để sống với chân tâm, tất sẽ được an nhiên tự tại.

Chư Phật đã sống với chân tâm các Ngài mà thành bậc Giác NgộChúng sanh chưa thấy, vẫn sống với vọng tâm mà còn trong vô minh. Vì thương xót chúng sanh nên Chư Phật đã lập bày ra bao pháp môn phương tiện để chỉ dạy cho chúng sanh biết phản quang tự kỷ, nhìn lại chính mình. Pháp môn phương tiện đó ví như thuốc. Có thuốc rồi mà người bệnh không uống thì bệnh sẽ ngày càng trầm kha mà thôi. Tập uống thuốc chính là tự mình phải mở cánh cửa để từ đó, theo pháp môn chỉ dạy mà tìm lần về NGÔI NHÀ PHẬT CỦA CHÍNH MÌNH.

Những lời dẫn đạo này của Thiền sư Thệ-Nhật đã thu hút rất đông dân cư địa phương. Họ muốn khởi bước, đi tìm ngôi nhà Phật của chính mình.

Rồi một sáng mùa thuThiền sư đang tọa thiền dưới gốc thông già thì một chú sóc nhảy qua! Thiền sư đã giật mình, mở mắt. Thường thì, khi lắng tâm thiền quán, dù gió nổi, dù mưa giông cũng không làm ngài giao động. Vật mà sao hôm nay, chỉ một chú sóc nhỏ đã làm gợn sóng giòng tịnh thủy???!!!….

Ngay khi đó, sư chú Giác Trí từ ngoài cổng đi vàotheo sau là một thiếu nữ.

Vẫn ngồi yên lặng trong thế kiết giàThiền sư khẽ thở dài ….

Thiếu nữ tới trước Thiền sư, kính cẩn quỳ xuống. Rồi nàng chắp tay, run rẩy, dập đầu trên nền đất ẩm ngập lá thu vàng ……

Cũng như hơn 6 năm về trước, nàng quỳ mọp như thế, không ngửng đầu lên. 5 phút ….. rồi 10 phút ……Thiền sư khẽ nói:

– Ngồi lên đi con.

Nàng ngoan ngoãn nghe lời, và đôi mắt đã đầm đìa lệ ứa …

– Bạch Thầy …..

– Ba mẹ đâu?

– Bạch Thầy ….Chỉ mình con ra đi ……nhiều lần tù tội….dập vùi….chết đi sống lại ngoài biển khơi, nay mới thoát…..Bạch Thầy, lẽ ra …..

– Lẽ ra con không nên đi một mình!

– Bạch Thầy ….Ba mẹ con nói thế …..Anh chị em con nói thế …..Lý trí con cũng nói thế …..Vậy mà ….con vẫn quyết phải ra đi. Con phải tìm Thầy ….hoặc phải chết! Ôi, điều gì vậy, thưa Thầy? Điều gì oan nghiệt dường này? Xin Thầy hãy giết con đi! Hãy đuổi con đi! Con đáng chết từ năm 13 tuổi, từ lần đầu được lạy Thầy ở thiền viện Linh Thứu rồi không phút giây nào rời được hình bóng Thầy trong tâm. Thầy đã biết thế, Thầy từ bi muốn cứu con mà bảo cha không cho con đến chùa nữa! Ôi ….lòng từ bi của Thầy dù bao la như trời biển cũng không cứu nổi tội con nghìn trùng ….

Lá thu rơi tức tưởi theo từng tiếng nấc của người thiếu nữ tuổi đôi mươi, đẹp tựa trăng rằm ….

Đã là nghiệp, ắt phải trả. Nghiệp có thể do tâm tạo, cũng có thể do oan trái ràng buộc từ đời này, đời trước, hay từ muôn kiếp nào! Nghiệp có thể chuyển, nhưng không thể tự tan. Chuyển được hay không còn tùy vào quyết tâmđịnh lựclòng thành của người mang nghiệp và người phát tâm cứu độ.

Sa-môn Minh Tánh ngồi lặng rất lâu….

Kể dứt câu chuyện năm xưa, Thiền sư Thệ-Nhật – tức ông thầy thuốc Nam – đã lặng lẽ thiền định.

Ngoài kia, gió không chỉ lồng lộng mà đã thành cuồng phong. Tấm màn mỏng lay động, in lên vách tường những bóng dáng huyễn hoặc, như mộng đó mà thực, như vọng đó mà chân, như có đó mà không, như hợp đó mà tan, như sanh đó mà diệt….

Từ căn phòng nhỏ trên lầu, một cánh cửa sổ quên đóng. Gió bay lá thư mầu xanh rơi bên rèm, chỉ còn trang cuối, nơi góc bàn với những giòng chữ nguyệch ngoạc: “….Hơn bẩy năm được hầu hạ Thầy, lòng con đã quá tròn đầy ước nguyện. Tất cả tấm tình thanh khiếttrong sạch dâng lên Thầy, chỉ Thầy biết, con biết! Sự tình này có Chư Phật chứng giám mà thôi. Thầy đã rõ nghiệp con quá nặng, muốn giải nghiệp này phải chặt đứt quá khứ, phải khai sinh lại đứa con tội lỗi. Thầy đã nương Hạnh Bồ Táthy sinh tất cả, dùng phương tiện cho con chào đời ở hoàn cảnh mới. Nơi đó, đạo tràng là thiên nhiên bao lakinh điển là muôn dược thảohành trì là đem trí tuệ và tâm từ bi mà biến chế thành thần dược, cứu nhân độ thế. Từ hơn bẩy năm qua, Thầy đã kiên nhẫn dạy con biết đem tình riêng mà yêu thương mọi người, mọi loài. Nhờ ơn vô lượng của Thầy mà con thoát khỏi lưới vô minh dầy đặc, thoát khỏi tội tày trời, như cô thôn nữ Prakriti đã được Đức Phật khai ngộ mà không làm ô uế giới thể Đại đức Ananda. Thầy cao cả, thênh thang như mây trên đỉnh núi, “Hà xứ nhạ trần ai” không nơi cho bụi trần ai bám vào!

Xin Thầy an tâm về lại tỉnh cũ, nơi muôn tấm lòng đang chờ đợi Thầy, nhất là, có Thầy thì Đại đức Giác Trí mới yên lòng về cõi Phật.

Con xin dập đầu lạy tạ Thầy. Lần này lạy Thầy rồi, con sẽ biết ngửng lên vì “Trên triền núi Ngũ Uẩn”(*) con đã thấy “Là căn nhà Phật xưa”(*) vì trong không gian bao la, nơi đâu cũng có hào quang từ bi của Chư Phật che chở và dẫn dắt con.

Tạ ơn Thầy muôn ức kiếp

Đệ tử Như Nguyện.

(*) Thơ ni sư Liễu Nhiên.