Vô tự thị chân kinh (Luống cái chân đồi)

73

Luống cái chân đồi

Thời Phật còn tại thế, trong một mùa an cưĐức Phật và tăng đoàn có mặt tại thị trấn Vejanra khi nơi này đang bị mất mùa và dân chúng khắp vùng lâm nạn đói trầm trọng. Kho lúa dự trữ của thị trấn cũng được lệnh mở ra phân phát nhưng như gió lùa vách trống, muối bỏ đại dươngđâu đâu cũng thấy những bóng người dật dờ vì đói. Chính dân chúng cũng không có thực phẩm thì lấy gì cúng dường người tu hành. Thế nên, nhiều vị sa môn từng ôm bát về không sau giờ khất thực. Ngay Đức Phật cũng nhiều lần về lại khu rừng trú ngụ mà không có một hạt cơm trong bát!. Nhưng Đức Phật vẫn an nhiên thiền định và sau khi xả thiền, vẫn nói pháp. Cái đói là một thực thể nhưng cái thực thể đó như không làm vẩn đục sự nhiệm mầu.

Tất nhiên, tình trạng này không thể kéo dài. Đại Đức Moggallana đã trình Đức Phật, xin Người cùng tăng đoàn hãy di chuyển về miền Nam, nơi không gặp nạn đói. Đức Phật đã ôn tồn bảo Đại Đức Moggallana rằng: “Không được đâu, chúng ta đã đến đây khi dân chúng gặp đói khổ, chúng ta phải ở lại để chia xẻ, để an ủi và để hướng dẫn tâm linh họ trước ách nạn này. Trách nhiệm chúng ta phải lớn hơn ở những nơi cùng khổ” Đại Đức đã quỳ xuống sám hối trước lời từ bi của Đức Phật nhưng lòng rất khổ đau khi thấy Thế Tôn ngày một tiều tụy nên một lần lại thưa rằng: ‘Bạch Thế Tôn, con thấy trong rừng có một khỏang đất cây cỏ mọc rất xanh tươi, như vậy, đất dưới đó phải có chất dinh dưỡng tốt. Xin Thế Tôn cho phép con đào lên, lấy phần đất mềm ở dưới, hòa tan vào nước cũng có chút bổ dưỡng cho cơ thể”. Đức Phật lại nhu hòa mà nói rằng: “Không đâu, nếu cây cỏ nơi đó xanh tươi là nhờ đất tốt, ta đào lên, cây sẽ chết, đó là chưa kể còn biết bao côn trùng đang ẩn thân dưới phần đất mềm đó. Đại Đức an tâm, dân chúng đói, chúng ta cùng đói; dân chúng còn đó, chúng ta sẽ còn đây”.

Sự thanh thản an nhiên của Đức Phật là sức mạnh vô song giúp tăng đoàn giữ chánh niệm. Và sự nhiệm mầu đã xảy ra khi mọi người thấy Đại Đức Ananda, sau khi khất thực về đã lui cui nhặt củi khô nhóm lửa, đặt một đĩa sắt nhỏ lên và lấy trong túi ra gói giấy đựng dúm bột mầu vàng. Đại Đức nói với huynh đệ đang chăm chú vây quanh rằng: “đây là cám, cám nuôi ngựa, chúng ta rang cho thơm rồi dâng lên Thế Tôn dùng đỡ lòng. Hôm nay, khi khất thực, tôi gặp người lái buôn ngựa vừa di chuyển qua đây. Ông ta từng được nghe Thế Tôn thuyết pháp nên phát tâm cúng dường, nói với tôi rằng, khi sa môn nào không xin được thực phẩm thì ghé qua trại ngựa, nhận một phần cám; và chỉ khi nào không xin được gì hãy ghé nhận cám vì cám này cũng là xẻ bớt từ phần ăn của 500 con ngựa. Với khả năng hạn hẹp, ông ta chỉ có thể cúng dường như thế mà thôi. Ông ta vốc cho tôi một nắm, tôi xin một phần nữa để dâng Thế Tôn và đang rang đây”.

Cám nuôi ngựa của người lái buôn đã đến kịp thời trước khi những cơn mưa kỳ diệu đổ xuống hồi sinh sự sống của cây trái, mùa màng …..

Sự nghèo đói nơi nào cũng có, thiên tai lúc nào cũng bất ngờ xảy ra nhưng ở mỗi nơi và lòng mỗi người, thái độ chấp nhận nghèo đói và thiên tai khác nhau. Cùng trong ngục tối, chịu chung sự hà khắc giam cầm, vậy mà, người thì bình thản, kẻ lại loạn cuồng. Sự khác nhau do từ nội lực, từ trí tuệ quán chiều lẽ vô thường. Đối với bậc tu hành chân chính các ngài dễ dàng khắc phục khó khăn vì khi đối cảnh chẳng sanh tâm thì tâm sẽ lặng. Ấy thế mà giữa thời vô minh cai trị, chúng ta thấy thấp thoáng những lời thơ thống hận, những giòng lệ khôn ngăn từ bậc cao tăng. Gặp những chia xẻ này, người Phật tử chớ hấp tấp nhận định, vì Bát Nhã phải được đón nhận bằng trí tuệ mới liễu ngộ được uyên nguyên. Chữ nghĩa chỉ là phương tiện từ chương mà thôi. Bằng phương tiện đó, các ngài đã dũng cảm nói thay cho những người không còn được nói, khóc thay cho những người không còn được khóc, nên lời ta thán đó chính là lời từ bi an ủi, nước mắt đó chính là cam lộ Quán Âm.

Vác cuốc xuống chân đồi
Nắng mai hồng đôi môi
Nghiêng vai hờn tuổi trẻ
Máu đỏ rợn bên trời

Sức yếu, lòng đất cứng
Sinh nhai tủi nhục nhiều
Thân gầy, tay cuốc nặng
Mắt lệ nóng tình yêu.

Không người Việt Nam nào đọc mấy câu thơ này mà không thấy ngay hình ảnh những vùng được kẻ vô minh gọi là “kinh tế mới”. Sự mỉa mai đáng thương hại ở ngay nơi tên gọi “huy hoàng” đó vì bất cứ ai bị cưỡng bức tới những “thiên đường” này đều không tìm thấy, nhìn thấy cái gì là “kinh tế” cả! Khi Vạn Lý Trường Thành được xây xong, mấy ai không biết rằng bức tường xuyên mây vượt núi hoàn thành không chỉ bằng gạch đá mà còn bằng vô số mạng người! Nhưng mạng người trong tay bạo chúa có hơn gì ruồi kiến! Bức tường còn đến ngày nay, được coi là kỳ quan thế giới, người đến thăm có rợn bước chân đi? có nghe bao oan hồn thoảng trong gió núi? Có cảm được gạch đá rưng rưng hờn uất khôn tan?

Cũng những nơi gọi là vùng kinh tế mới này, kẻ nắm quyền lùa dân vô tội, phán lời rằng “sỏi đá phải thành cơm!”

Thầy tóc trắng bơ vơ
Con mắt xanh đợi chờ
Đèn khuya cùng lẻ bóng

Khúc ruột rối đường tơ
Tuổi Thầy trông cánh hạc
Cánh hạc vẫn chốc mồng
Mắt con mờ ráng đỏ
Ráng đỏ lệ lưng tròng 
Hỡi những ai tranh đấu cho Tự DoNhân Quyền,
Hỡi những nhà thống kê đại tài trên thế giới,

Có vị nào đếm nổi số oan hồn đã thành sỏi đá trên những vùng “sỏi đá phải thành cơm” không?

Lành thaysứ giả Như Lai đã chưa từng vắng mặt với điêu linh, nên bằng pháp âm vi diệu mà:

Chân đồi xanh luống cải
Đời ta xanh viễn phương
Sống, chết, một câu hỏi

Sinh nhai lỡ độ đường.

Mưa pháp đã rạt rào trên oan khổ để chúng sinh trở về chánh niệm, biết được chỉ là “lỡ độ đường” thôi, là thoáng chốc, là một sát na thôi, làm sao hoen ố được mầu xanh viễn phương của chân như bản thể?

Nếu biết tác giả bài thơ này là ai, chắc quý Phật tử muôn phương sẽ thành tâm hướng về trời Nam mà đảnh lễ. Vâng, người đang nói lời thống hận thay cho hơn 80 triệu đồng bào là Thượng Tọa Thích Tuệ Sỹ, vị sứ giả Như Lai đang theo bước chân Phật khi xưa là ở lại với nơi cùng khổ để “chúng sanh đói, ta cùng đói; chúng sanh còn, ta sẽ còn”.

 Tháng 5, 2005
Mùa Phật Đản lần thứ 2629
Diệu Trân