Thứ Sáu, 12 Tháng Tám 2022
Phật học Vịnh Vạn Yên Tự Phú Nếp sống Thiền tông đời Trần (Phần...

Vịnh Vạn Yên Tự Phú Nếp sống Thiền tông đời Trần (Phần 3)

<HĐ>包饒風月𠓨𡎝無心.
制酉渃𡽫養代聖壽.

Bao nhiêu phong nguyệt, vào cõi vô tâm;
Chơi dấu nước non, dưỡng đời thánh thọ.

Qua hai câu phú nôm này, ý nói, những bậc tu thường ngao du với trăng và gió, ấy là những cảnh tuyệt đẹp, mà ít bị dính mắc, chấp kẹt… bởi nó bao la, rộng lớn, không phải của người, cũng chẳng riêng ta, đủ trí tuệ sẽ thưởng thức được thôi. Những lúc chúng ta bị trói buộc bởi một ai, bởi phiền não… thì xin hãy nhớ: “Ngoài kia trăng gió rộng thênh thang”. Hãy mở rộng lòng mình để mà thưởng ngoạn những món quà bất tận từ thiên nhiên ban tặng, đang dành sẵn cho mọi người. Tội vạ gì ta cột tâm mình vào một thứ gì đó để mà mỏi mệt thế kia. Nhưng xin hãy nhớ rằng, đã được vui với trăng với gió rồi, cũng không dừng lại ở đây nhé, mà đắm luyến yêu thích cũng không đạt, thế nên Thiền sư Huyền Quang đã nâng chúng ta lên một cấp bậc nữa, đó là: “Bao nhiêu phong nguyệt, vào cõi vô tâm;” dẫu cảnh có đẹp như thế nào đi nữa, thì cũng phải cho hết vào cõi “Vô tâm”. Vậy vô tâm là gì? Ý nói là tâm không vướng kẹt, chấp trước bởi ngoại cảnh, mà lặng lẽ sáng suốt hằng chiếu soi, trong trần mà chẳng nhiễm trần, vẫn bảo nhậm được nguồn tâm của chính mình (bảo dưỡng thánh thai). Một nghĩa cạn, đó là khen vua Trần sống ở Vân Yên, non nước dưỡng được mạng sống của đức vua, người dân thường chúc vua: “Thánh thọ vô cương”.

些𠉞:
𡎢頂雲霄
騎制𦑃鷂.
䁛東山似丸金綠,
䀡東海似𠱄昆螯.

Ta nay:
Ngồi đỉnh Vân Tiêu;
Cưỡi chơi Cánh Diều.
Coi đông sơn tựa hòn kim lục;
Xem đông hải tựa miệng con ngao.

Qua đoạn này Thiền sư Huyền Quang nói về chính mình. “Ta nay” ngồi trên đỉnh núi Yên Tử, nơi cao nhất, có một dãy núi đưa ra như hình cánh diều nên gọi núi Cánh Diều. (Tương truyền, Cao Biền là một thầy địa lý giỏi của vua Đường, sang yểm long mạch của nước Nam. Khi Cao Biền dùng pháp thuật cưỡi diều giấy bay qua vùng trời Hoa Lư, thấy linh khí rất vượng, Cao Biền hạ cánh, bị một đạo sĩ giỏi của Đại Cồ Việt dùng cung tên bắn hạ. Cao Biền bị trọng thương. Nơi diều gãy cánh sau dân gọi là núi Cánh Diều).

Thiền sư Huyền Quang ở nơi cao như thế, nên nhìn cảnh của thế gian rất nhỏ bé, ví như trên máy bay nhìn xuống, trên núi nhìn xuống Thành phố… thì nhà cửa chỉ nhỏ như những hộp giấy mà thôi, vậy có gì thật để giành giật, ham muốn mà gây tạo tội lỗi chém giết lẫn nhau? Ý Ngài muốn chúng ta hãy nhìn xa trông rộng, không nên nhìn thiển cận, mà sanh lầm chấp vạn cảnh, để tạo ra tội lỗi cho chính mình. Khi ở trên cao thì Núi phía Đông, Ngài thấy như hòn đồ chơi nhiều màu của con nít, biển Đông như miệng con ngao con sò. Góc nhìn thay đổi, thì hình dạng của đối tượng bị nhìn cũng đổi thay. Ngài dùng lối văn chương ước lệ, để chỉ cho chúng ta dễ hình dung giúp văn chương hay hơn.

匿臺蘭擬香丹桂,
𦖑姮娥設曲𡅣韶.
觀七寶𡳒包孛現,
奧六殊㗂愈仙飄.

Nức đài lan nghĩ hương đan quế;
Nghe Hằng Nga thiết khúc tiêu thiều.
Quán thất bảo vẽ bao Bụt hiện;
Áo lục thù tiếng gió tiên phiêu.

Khi lan rừng nở, Ngài xem như “Đan quế”, nhân gian tưởng tượng trên cung trăng có cây đan quế, tỏa mùi thơm, có Hằng Nga thổi sáo, hát những bản nhạc hay (đây là văn chương ước lệ, theo khoa học bây giờ, hiện tượng này không còn đúng). “Quán thất bảo” là nơi tu tập, được làm từ thất bảo (vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, mã não, san hô) có vẽ hình Phật. Ý Ngài nói chỗ Hoa Yên này rất lý tưởng, không khác gì cõi trời, có tất cả, Ngài hạnh phúc với những gì mình đang có, không phải tinh thần “ở núi này trông núi nọ” như phàm tình. Tinh thần thiểu dục tri túc cũng tại đây. Trong kinh Di Giáo, Đức Phật đã dạy:

Tri túc đất làm giường, lòng vẫn thường hoan hỷ,
Bất túc ở thiên đường cũng vẫn chưa vừa ý.
Người không biết tri túc, tuy giàu nhưng bần hàn,
Người có biết tri túc, tuy nghèo nhưng giàu sang.

“Lục thù” là đơn vị đo lường rất nhỏ, một lượng có hai mươi mốt thù. Áo lục thù là áo rất nhẹ và mát, mặc như không mặc, rất hiếm có, chỉ cho áo cõi trời, mặc nó phiêu bồng nhẹ nhõm.

柴修𨎠㐌年佛果,
小修群位比丘.

Thầy tu trước đã nên Phật quả;
Tiểu tu sau còn vị Tỷ khiêu.

“Tỷ khiêu” còn gọi bằng các danh từ sau: Tỳ kheo, Tỷ kheo, Tỷ khâu, Bỉ khâu, Bỉ khiêu, Bỉ kheo,… đều chỉ cho người xuất gia tu hành sau khi đã thọ Cụ túc giới. Tỳ kheo có 3 nghĩa:
– Sát tặc: Giết giặc phiền não, vọng tưởng… ý nói người xuất gia chúng ta cần phải bỏ đi những vọng tưởng, phiền não, chấp trước… mới đúng nghĩa xuất gia.

– Khất sĩ: Được dịch vào đời nhà Tần, nghĩa là trên xin giáo pháp của Phật để nuôi lớn huệ mạng, dưới xin cơm của thí chủ để nuôi sắc thân, giúp ích cho sự tu hành.
– Bố ma: Nghĩa là làm cho ma quân khiếp sợ, vì sao? Vì người xuất gia tu đạo, tâm dõng mãnh phát khởi, trên cầu thành Phật, dưới cứu độ chúng sanh, tâm rộng lớn ấy làm chấn động cung ma.

Người xuất gia theo đạo Phật, thọ giới Cụ túc, nam gọi là Tỳ kheo, nữ thì gọi là Tỳ kheo ni.
Ý đoạn này, Thiền sư Huyền Quang ngợi khen Sư phụ là Sơ tổ Trúc Lâm Phật Hoàng Trần Nhân Tông, tu trước đã nên quả Phật, còn Ngài nhỏ, tu sau nên còn là vị Tỳ kheo. Như chúng ta thấy nhân gian phong tặng để gọi sơ tổ là ông vua Phật (Phật hoàng) là vậy.

𧡊低:
壺天礼礼,
䀡婁固耳.
雖浪學道虛無,
吟𣲍𠳨禪言擬.

Thấy đây:
Hồ thiên lẻ lẻ;
Xem lâu có nhẹ.
Tuy rằng học đạo hư vô;
Ngậm ngụt hỏi thiền ngôn nghĩ.

Thấy nơi đây, bầu trời riêng, xem lâu càng nhẹ nhàng thoát tục, ngoài nghĩa này, ý muốn nói, nếu chúng ta không khéo tu thì “bầu trời” (hồ thiên) cũng đồng chỉ cho bản tâm của mỗi người, không được bảo nhậm tu tập, không nhận được niềm vui trong đạo, thì ở chùa lâu ngày ta cảm thấy sao nó tẻ nhạt, buồn chán quá…! Cứ tối tụng kinh, tọa thiền, khuya lại ngồi thiền, tụng kinh, sáng thì lao tác, trưa sám hối, chiều học tập… cứ lặp đi lặp lại hoài, chẳng có gì mới mẻ cả. Có ai trong chúng ta rơi vào tình cảnh này chưa? Thú thật, chắc cũng có những phút giây vô minh này nhỉ… Sở dĩ như thế là do bản thân mỗi người không biết hoặc là quên hâm nóng lại chí xuất gia, bồ đề tâm của mình, để y bị nguội lạnh theo thời gian. Ý chí ấy:

Xuất gia hoằng thánh đạo
Thệ độ nhất thế nhân.

Ta hâm nóng bằng cách nào đây? Phải tự thân thực tập công phu thôi, đốn ngộ nhưng tiệm tu, bởi lẽ ta còn phàm phu nhiều quá! Trong các oai nghi đi đứng nằm ngồi, phải có sự chánh niệm tỉnh giác, biết mình đang làm gì, hay hơn nữa, ta không để bị trần cảnh kéo lôi, nhưng bất giác bị lôi rồi thì phải tỉnh, kéo chú trâu hoang về nhà, đừng để mất thời gian vì những thứ không thật ấy. Ứng dụng sự học vào đời sống tu tập cả đời làm còn chưa xong việc, mỗi ngày mỗi mới, ta hôm nay khác với ta hôm qua, thực tập như thế thì cuộc sống tu hành của chúng ta lý thú lắm chứ. Ta lỡ sai rồi, xấu rồi… thì ta sẽ làm lại, sống lại, sửa lại cho tốt hơn ở ngày mai, không bỏ cuộc, không sờn chí khí của người tu sĩ… Cố lên nào! Mọi thứ sẽ tốt đẹp hơn thôi! Như Sư phụ đã từng dạy: “Bùn ở dưới chân, nhưng nắng ở trên đầu”. Ngoài ra, chúng ta cần và rất cần ôn tầm kinh điển, lời dạy của chư Phật, chư tổ sư để nhắc nhở chúng ta, phản quán, xem xét lại chính mình, đã ứng dụng được gì vào cuộc sống tu hành? Để tự bản thân trau giồi và thúc liễm thân tâm. Ôi trời! Chuyện làm cả đời ngời tu sĩ chúng ta: “Nhẫn – Nhịn – Nhường – Không tham – Không sân – Không si… ” xét lại xem nào, bạn làm tới đâu? Nếu hết cái tướng thô tháo bên ngoài, thì những tâm niệm vi tế bên trong bạn đã rốt ráo chưa nào? Xin hãy tự chiêm nghiệm mà nhìn nhận lại chính mình… Thì thời gian đâu, mà liếc ngó nơi này hay nơi khác, người này hay người kia? Đời tu sĩ chúng ta lý tưởng lắm chứ, vì vậy nên trân quý những phút giây còn được tu tập cùng Thầy tổ và Đại chúng. Cuộc sống này quá ngắn ngủi mong manh, kiếp con người càng ngắn hơn so với thiên nhiên, trời đất. Quả thật như Sư phụ thượng Hạnh hạ Bình, trụ trì Thiền Viện Bảo Hải (Việt Nam) và Thiền Viện Trúc Lâm Phật Đăng (Arizona – USA) đã từng nói:
Kiếp Phù Sinh

Có một chút gì nao nao buồn
Khi nhìn dãy núi đứng chơ vơ.
Mây trời hòa lẫn cùng đất đá
Một thoáng dừng chân giữa chốn này.
Khi tôi hiểu thấu kiếp con người
Ngắn ngủi mong manh thật đáng thương.
Vậy mà cứ mãi buồn – thương – giận
Quanh quẩn vào ra chốn luân hồi.
Arizona tự thuở nào
Một chút duyên lành có phải không?
Cây xương rồng vẫn hiên ngang đứng
Dưới nắng, dưới sương, dưới giá băng.
Còn tôi một chút gió sương thôi
Cũng đủ lung lay giữa cuộc đời.
Khi đứng dưới cây gai gốc ấy
Thẹn mình nhỏ bé kiếp phù sinh.

“Tuy rằng học đạo hư vô; Ngậm ngụt hỏi thiền ngôn nghĩ.” Tuy chúng ta học đạo Phật, lý “không” của Bát nhã, nhưng nếu không khéo để nhận ra, thì khi hỏi tới Thiền, ta ậm ừ nói không ra lời, suy nghĩ mới có thể trả lời được, nhưng lại trên ý thức phân biệt. Ý Ngài dạy, người tu phải thật thông suốt, biết và tin chắc Pháp môn mình đang tu, chứ không mù mờ, chạm mắt liền biết, như từ hông ngực lưu xuất, chứ không qua ý thức suy nghĩ phân chia thì càng xa với nguồn tâm chân thật kia. Thế nên chúng ta cố gắng tu tập dụng công, trở về sống với trí tuệ vô sư thì tất cả đều viên mãn. Điều này tự ta tâm niệm tự ta tu, chứ kiến giải nhiều, thì xa đạo, rồi mắc công phải dẹp kiến giải nữa thì phiền lắm. Đạo vốn không lời.

𫘑沒㤈𢚸察庄穷,
角則俸𠦳鐄群𠀳.
現典林泉濫伴,䏾呐𡀰𠫾
𠶓浪城市結交,𠱄連唹唉.

Mê một tấm lòng xét chẳng cùng;
Chác tấc bóng nghìn vàng còn rẻ.
Hẹn đến lâm tuyền làm bạn, (bụng nói thôi đi)*
Bảo rằng (thành thị kết giao, miệng liền)* ừ hử.

(*Chánh văn khuyết 10 chữ trong ngoặt. TT. Thích Thông Thiền xin được bổ sung.)

Nếu chúng ta mê, quên đi “một tấm lòng” chỉ cho cái “nhất tâm” là chân tâm của mình, không xét cho cùng tột, nhận cho được thì đáng tiếc vô cùng. Vì sao? Vì thời gian rất là quý, đổi một tấc bóng thời gian với ngàn vàng còn rất là rẻ. Ý nói thời gian rất quý báu vô cùng, nó qua rồi thì chúng ta không lấy lại được bao giờ. Nhà thơ Xuân Diệu đã từng nói:

Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già.
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất
Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,
Không cho dài thời trẻ của nhân gian
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!
Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi.
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;
Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi
Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt…

Cuộc sống này là vậy đó, mấy ai trong chúng ta dám chấp nhận nó đây, thời gian, giữa sống và chết? Trong kinh Lăng Nghiêm Đức Thế Tôn đã dạy: Nếu chúng ta lầm nhận vọng tâm là chơn tâm mà tu tập, sẽ không có kết quả, như nấu cát mà muốn thành cơm ngon thì trọn kiếp cũng không thể được. Như chúng ta thấy đại đa số, khi rủ người đời đến Thành phố, nơi phồn hoa đô hội vui chơi thì… tâm ý ta sao đây? Có phải là: “miệng liền ừ hử” (đồng ý) không? Nhưng lúc nhắc đến nơi núi rừng hoang vắng, chỗ tĩnh lặng tu hành thì… chối từ ngay bằng cách: “bụng nói thôi đi”(không chịu). Như vậy để an tâm mà ở nơi vắng vẻ, tịch tĩnh của núi rừng như vua Trần Nhân Tông và thiền sư Huyền Quang là một chuyện chẳng dễ dàng chút nào, trong khi các Ngài ở địa vị là vua, quan của triều đình.

都快樂,真𨀈林針,
染繁花,頭它泊徙.
庄仍猿鶴說誓,
吏沛𦹯花唭始.

Đua khoái lạc, chân bước lăm chăm;
Nhuốm phồn hoa, đầu đà bạc tỷ.
Chẳng những vượn hạc thốt thề;
Lại phải cỏ hoa cười thỉ.

Nếu chúng ta chạy đua, chân bước nhanh theo những dục lạc thế gian, thú vui sanh diệt, thì sẽ bị nhuốm (nhuộm) màu trần thế, thiếu đi sự tu hành. Do lao vào trần gian phút chốc đầu đã bạc (đầu đà bạc tỷ). Nếu chúng ta không biết tu, thì từ động vật đến thực vật, những con vượn, con hạc, cỏ hoa… đều cười thầm chế nhạo ta.

自典低!
𡽫渃㐌涓,
㝵曾買番.
頭客易年變泊,
𩈘𡽫矣沒撑顛.
湖渃這縷羅淥渃,
𨴦棹𣘃籓竹掑杄.

Từ đến đây!
Non nước đà quen;
Người từng mấy phen.
Đầu khách dễ nên biến bạc;
Mặt non hãy một xanh đen.
Hồ nước giá lựa là lọc nước;
Cửa tráu cây phên trúc cài then.

Ngài đến đây, non nước đã quen, người khách đi lên đi xuống, tóc biến đổi bạc dần, rừng núi thì vẫn xanh tươi. Đối với thiên nhiên con người nhỏ bé vô cùng, sông núi, mấy ngàn mấy trăm năm hãy vẫn còn, nhưng mạng sống chúng ta chỉ trong hơi thở, một hai trăm năm là cùng. Chính vì vậy hãy tận dụng thời gian quý báu của chính mình một cách tích cực nhất.

Hồ nước giá băng (lạnh), rất sạch không cần phải lọc. Ý nói nguồn tâm ta nếu bất nhiễm, trở về với bản nguyên xưa nay, thì đâu cần gì “phải tu phải trị”. Cửa rào bằng cây, lúc nào cũng đóng cứng “cài then” hai câu phú này, ý dạy chúng ta khi tiếp duyên xúc cảnh mà tâm ta bất động, thì đâu cần gì phải thi công. Khi đang công phu tu tập thì sáu căn của chúng ta khi tiếp xúc với sáu trần phải nên cẩn trọng, dè dặt như cửa cần phải cài then. Còn khi ra hoằng pháp thì chúng ta đã có chút ít tâm lực thì không còn ngăn ngại, nhưng xin nhớ: “Ngộ tuy đồng Phật, đa sanh tập khí sâu”, thế nên mỗi người cần cẩn trọng. Sự diệu dụng của chỗ tu hành thì không cứng ngắc một bề, chỉ ở nơi vắng vẻ để tu. Thế nên, chúng ta rất cần có thời gian dụng công, có Thầy tổ, có Đại chúng, (Đại chúng là môi trường để chúng ta kiểm tra tự thân, có ứng dụng lời Phật, lời Tổ vào cuộc sống hay không? Tại sao? Chín người mười ý, khi mình bị la, bị oan và nhiều thứ “bị” khác… liệu ta có xem như uống nước cam lồ không? Khi nào xem được như thế, từ cảnh nghịch, chuyển thành cảnh thuận, kia là hoại mà ta lại thành… thì khi ấy ta tu có kết quả) có môi trường tốt, vừa lao tác, vừa học tập kinh điển (có Thầy dạy và cộng thêm sự tự học của bản thân) có thời khóa tu tập: tụng kinh tọa thiền và đặc biệt quan trọng hơn hết đó là có thời gian thập thất chuyên tu, để làm gì? Để ta nhìn lại chính mình, để ta ứng dụng khi tự thân đối diện với những phút giây, chỉ có ta với ta, với những vọng khởi trùng trùng điệp điệp, ta tu với chúng như thế nào đây? Phần này, uống nước nóng lạnh tự bản thân mỗi người phải đích thân tự trả lời cho chính mình thôi, không ai thay thế cho chúng ta được cả.

còn tiếp

Hải Thuần Bảo Hải

Tin khác

Cùng chuyên mục

error: Nội dung được bảo mật !!