Vịnh Vân Yên Tự Phú nếp sống Thiền tông Đời Trần (kỳ cuối)

831

     彈曲樂㗂啌簫頂,
           撫揌歌格禮邏連.

Đàn khúc nhạc tiếng không tiêu đính;
Vỗ tay ca cách lễ tạ liền.

Tiếng đàn hay, khen nơi đây vắng vẻ tĩnh lặng. Cảnh đẹp và lạ nên vỗ tay khen. Cảnh thành thị thì ồn náo xô bồ xô bộn, nhưng nơi đây thì vắng lặng yên tĩnh vô cùng, rất tuyệt vời nên Ngài đã khen tặng.

邏仍喂!
西竺𦍑芾,
南州固買.
𡽫靈鷲埃冘𧗱低,
景飛來𩈘它體帝.

Lạ những ôi!
Tây Trúc dường nào,
Nam châu có mấy.
Non Linh Thứu ai đem về đây,
Cảnh Phi Lai mặt đà thấy đấy.

Những cảnh lạ như Ấn Độ (Tây Trúc), Trung Hoa (Nam Diêm Phù Đề hay Nam châu). Ý Thiền sư Huyền Quang muốn so sánh, ca ngợi cảnh Chùa Hoa Yên, ca ngợi đất nước Việt Nam, những nơi khác chẳng bì kịp.

Núi Linh Thứu: tọa lạc ở phía Nam núi Chhatha tại Thành Vương Xá (Rajgir) mà khi xưa là một tiểu quốc mệnh danh Ma kiệt đà (Magadha), ngày nay thuộc tiểu bang Bihar, miền Đông Bắc Ấn Độ. Đó là ngọn núi Linh Thứu (Gijjhakũta – Vulture Peak) hay Linh sơn, Tôn Túc sơn, Thứu Đầu sơn, Kê Túc sơn – nơi Đức Phật Thích Ca an trú khoảng 7 năm và thuyết giảng những bộ Kinh quan trọng: Kinh Đại Bát Nhã, Kinh Đại Bửu Tích, Kinh Pháp Hoa, Kinh Di Lặc, Kinh Đại Phương Quảng Tổng Trì Bảo Quang Minh.

Linh Thứu sơn cách Bồ đề Đạo tràng 70km, và cách Đại học Nalanda 11km về hướng Tây Nam. Núi Linh Thứu là một trong những Phật tích quan trọng, nơi có hương thất của Đức Thế Tôn, động tu của Tôn giả Xá lợi phất và Tôn giả A nan… Đỉnh núi do Vua Tần bà sa la (Bimbisara) cho khai phóng cúng dường Phật và Tăng đoàn thời bấy giờ. Linh Thứu sơn tiếng Pāli là Gijjhakuta, nghĩa là ngọn núi kên kên (Vulture’s Peak), tức trên đỉnh núi có hình dạng của con kên kên là loài chim ăn thịt xác chết rất phổ biến ở Ấn Độ. Từ trên đỉnh núi này, chúng ta có thể ngắm nhìn toàn cảnh thành Vương Xá: những rặng núi chạy dài bao bọc xung quanh, các đồng ruộng mênh mông bát ngát, các làng mạc và những phố xá nằm rải rác quanh vùng.

Theo truyền thuyết của Đại thừa, tại núi này, Đức Phật đã thuyết Kinh Diệu Pháp Liên Hoa (Saddharmapundarika Sutta), là bộ Kinh quan trọng của Đại thừa Phật giáo, là kim chỉ nam của hành giả Pháp Hoa tông. Cho nên, vào đầu Kinh chúng ta thấy câu xướng lễ: Nam mô Linh Sơn hội thượng Phật Bồ tát, chính là nói đến Pháp hội Tam thừa quy nhất tại núi Linh Thứu, Đức Phật khuyến hóa hàng Thánh giả Tam thừa (Thinh văn, Duyên giác và Bồ tát), nên hướng về Nhất thừa, tức là Phật thừa. Trong Kinh này, Đức Phật khẳng định Phật tính bình đẳng trong tất cả chúng sinh, không phân biệt nữ nam, quý tiện vì ai cũng có Phật tánh và sẽ thành Phật, thông qua lời tuyên ngôn của Phật: “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành.” Cũng chính nơi đây là cái nôi phát khởi Thiền tông, theo sách Liên Đăng Hội Yếu, Thích Ca Mâu Ni Phật chương:

“Trong cuộc hội ở núi Linh Sơn, Đức Thế Tôn giơ cành hoa sen ra hiệu cho đại chúng. Mọi người đều im lặng không hiểu ý gì, chỉ có một mình ông Ma Ha Ca Diếp rạng rỡ mỉm cười. Đức Thế Tôn nói:

– Ta có Chánh pháp Nhãn tạng, Niết Bàn Diệu Tâm, Thực tướng Vô tướng, Vi diệu Pháp môn, bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, nay giao phó cho Ma Ha Ca Diếp.”
Xưa nay, Thiền tông đều coi câu nói ấy của Đức Thế Tôn là vô cùng quan trọng của Tông môn. Thiền tông lấy Tâm truyền Tâm, làm chỗ để khai ngộ.

Cảnh Phi Lai: Núi nhỏ trong dãy núi lớn rất đẹp, Phi Lai Phong là ngọn núi nằm cạnh chùa Linh Ẩn, ngôi chùa trứ danh khắp Giang Nam, Trung Quốc. Đặc biệt, ngọn núi được biết đến là tự bay đến đây và có 500 bức tượng Phật được khắc trên vách đá. Truyền thuyết về ngọn núi kỳ lạ này, ngày xưa có một ngọn núi nhỏ biết bay ở tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc. Đôi khi nó bay về phía Đông, có lúc lại bay về phía Tây. Tuy nhiên, bất cứ nơi nào nó dừng lại, rất nhiều ngôi nhà sẽ bị phá hủy và nhiều người dân bị thiệt mạng. Qua đây chúng ta thấy Thiền sư am tường nhiều thứ, rất rành rõ về nhiều nước. Tất cả những cảnh đẹp ở Ấn – Trung cũng không bằng nơi non Yên Tử.

𠓨徵𡎝聖青青,
脫禮𢚸凡倍倍.

Vào chưng cõi thánh thênh thênh;
Thoát rẽ lòng phàm phây phẩy.

Vào nơi cõi thánh thênh thênh rộng rãi, thoát khỏi lòng phàm thấy phơi phới nhẹ nhõm. Ngài diễn tả tâm trạng của chính mình, khi đã buông hết trần tục, lên non Yên để tu hành, lòng của Ngài cảm thấy nhẹ nhàng. Như chúng ta thấy bản thân mình, đã buông bỏ bớt được chút nào của phàm phu, nào là buồn, thương giận, ghét, phải quấy, hơn thua… Ôi chao nó mệt mỏi làm sao, bớt chúng bao nhiêu thì sẽ nhẹ nhàng bấy nhiêu. Dẫu trong cuộc sống này, chúng ta chưa thoát khỏi chúng một cách hoàn toàn như Thiền sư Huyền Quang và Phật hoàng Trần Nhân Tông, nhưng không có nghĩa là chúng ta không tu được. Biết những suy nghĩ, vọng tưởng, dính kẹt bởi trần cảnh là không thật, thì bản thân mỗi người phải mạnh dạn buông bỏ chúng, mỗi ngày một chút, tích tiểu thành đại. Chỉ là chúng ta có nhận thấy chúng là huyễn, là không đúng với sự tu hành hay không thôi? Tu là gì? Chúng ta phải khẳng định một cách rõ ràng, không phải nghiêm chỉnh tọa thiền, tụng Kinh đúng giờ là đủ, mà phải quán sát biết được chính mình. Như Tuệ Trung Thượng Sĩ đã dạy: “Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc”, nghĩa là xem xét lại chính mình là việc bổn phận, không phải từ nơi khác mà được. Đó là câu châm ngôn dường như bất hủ trong nhà Thiền. Có như vậy, chúng ta tu mỗi ngày mỗi tiến, biết được mình để thay đổi, tu sửa… cho mỗi ngày một hoàn thiện hơn về nhân cách và tâm thức của bản thân thì quá tuyệt vời, tu như vậy chúng ta sẽ thấy kết quả rõ rệt, theo thời gian công phu tu tập mà tăng trưởng dần (đốn ngộ mà tiệm tu là đây, vì chúng ta còn phàm phu quá đỗi).

包饒風月誓說庄窮,
係景江山埃𥆾體帝.
自𨎠忍𨍦,
體牢劄丕.

Bao nhiêu phong nguyệt, thề thốt chẳng cùng;
Hễ cảnh giang sơn, ai nhìn thấy đấy.
Từ trước nhẫn sau;
Thấy sao chép vậy.

Đối với những bậc ẩn sĩ tu hành, cảnh mà các Ngài yêu thích đó là thiên nhiên, núi rừng, suối đá, gió trăng… giữa cảnh và người có sự khắn khít không muốn xa nhau (thề thốt chẳng cùng). Những cảnh thiên nhiên, sông núi đó, ai nhìn thấy đấy? Ngoài nghĩa đen trên câu chữ là cảnh đẹp không muốn rời xa, ai là người biết tận hưởng hết chúng, chúng ta nên nhận thêm một tầng ẩn chứa bên trong, chiều sâu của câu nói. Ai là người nhìn thấy vạn cảnh đó? Có phải đây cũng là ý mà Đức Phật chỉ dạy cho vua Ba Tư Nặc: Thân thì có sanh diệt già chết, nhưng cái thấy sông Hằng lúc nhà vua 3 tuổi, 30 tuổi, cho đến lúc 62 tuổi cái thấy ấy cũng không khác, tánh thấy biết của mỗi chúng ta bất sanh bất diệt “ai nhìn thấy đấy”. Chúng ta có thể nhận được gì, qua câu chuyện sau: Thiền sư Duy Tín có nói: “Trước ba mươi năm khi chưa học đạo thì thấy núi sông là núi sông. Sau khi học đạo, hiểu đạo lý thì thấy núi sông chẳng phải là núi sông. Sau ba mươi năm thấy núi sông trở lại là núi sông.” Nghĩa là trước khi học đạo, chưa hiểu đạo lý thì thấy cái gì cũng thật, cảnh thật, người thật. Cho nên, thấy núi sông thật là núi sông. Khi học đạo, hiểu rõ thì thấy tất cả đều giả, là không thật, thấy núi sông không phải là núi sông vì không thật nữa. Khi học đạo, tu hành, sáng tỏ, mở được mắt trí tuệ thì tâm mình hết lầm chấp. Lúc đó nhìn trở lại cảnh vật, núi sông, thấy rõ đúng như bản chất thật của nó, núi sông là núi sông. Không còn nói có nói không. Nếu còn nói có, nói không thì cũng còn theo phương tiện. Nên thấy trong tinh thần: “Thị pháp trụ pháp vị” (các pháp ở ngay địa vị của nó, chúng ta không thêm không bớt, có thêm bớt chỉ là trên đầu lại chồng thêm một cái đầu nữa). Thế cho nên, Ngài nói: “Từ trước tới giờ, thấy sao thì chép vậy, không thêm không bớt, đây là cách hành xử của người sống được với đạo.” Để kết thúc tác phẩm Vịnh Vân Yên Tự Phú, Thiền sư Huyền Quang đã đúc kết những tinh túy và nồng cốt của sự tu hành vào bài kệ 8 câu sau:

偈云:
𢷀空汰汰映繁花,
𥙩准禪林爫𨴦茹.
虧𣌋𠓇張畑般若,
歆埋𤀗瀝渃摩訶.

Kệ rằng:
Rũ không thay thảy ánh phồn hoa,
Lấy chốn Thiền lâm làm cửa nhà.
Khuya sớm sáng choang đèn Bát-nhã,
Hôm mai rửa sạch nước ma-ha.

Ý Ngài muốn nói, bản thân Ngài đã rũ sạch chốn phồn hoa, trần tục để đến với đạo, tu đạo và cũng ngầm khuyên ta phải rũ bỏ, không còn những trần tục, lợi danh mà phàm tình yêu thích, lấy chốn thiền lâm làm cửa nhà, tức chốn chùa chiền rừng núi… dù có gian khổ, nhưng nơi đó có sự tu hành thì xem như nhà của mình. Trong tất cả thời để cho ánh sáng trí tuệ Bát Nhã chiếu soi, cũng đồng nghĩa Ngài khuyên ta sống tỉnh giác, trở về được với tâm Phật trong mình, sáng suốt mà hằng chiếu soi. Tiếp theo là:

𢚸禪域域𦝄𤐝𫎊,
世事囂囂逾煺過.

Lòng thiền vặc vặc trăng soi giại,
Thế sự hiu hiu gió thổi qua.

Khi đã trở về được nguồn tâm xưa nay, thì ánh sánh trí tuệ sáng vằng vặc như ánh trăng chiếu soi, xuyên qua khe hở của những tấm mành cửa, nên Ngài nói: “Lòng thiền vặc vặc trăng soi giại”, (giại: ở đây chỉ cho những tấm mành cửa) hiểu ý sâu hơn là: khi có trí tuệ thì mọi chuyện của thế gian, những chướng ngại, đối đãi, buồn vui, thương ghét… đến với những bậc tu hành thì các Ngài xem như gió mát hiu hiu thổi qua thôi, nhẹ nhàng vô cùng, vì có gì thật đâu. Hai câu phú này khi ứng dụng tu, thật chẳng dễ chút nào, với những người còn nhiều phàm tình như chúng ta, thấy cảnh liền sanh tâm, nghe tiếng liền vướng mắc “lưỡi vướng vị ngon, tai vướng tiếng, mắt theo hình sắc, mũi theo hương, lang thang làm khách phong trần mãi, ngày cách quê xa vạn dặm đường.” Nhưng chúng ta tâm nguyện phải cố gắng sống và tập tu như lời dạy của Chư Phật chư Tổ, thì ngày nào đó không xa, rồi cũng sẽ được như các Ngài. Cốt phải kiên tâm bền chí mà thực tập, lâu ngày dài tháng, chủng nghiệp tốt, nhân tốt được kết tụ, thì quả ắt tự nhiên thôi, đâu cần lo ngại gì phải không nào? Ở Chứng Đạo Ca – Thiền sư Vĩnh Gia Huyền Giác đã dạy: “Mặc ai biếm, mặc ai gièm, Châm lửa đốt trời nhọc xác thêm. Ta nghe như uống cam lồ vậy, tan hết vào trong chẳng nghĩ bàn.” Khi có trí tuệ, thì quả thật chúng có thể vượt qua mọi chướng duyên thật nhẹ nhàng. Có trí tuệ là có tất cả.

谷特性些𢧚孛實,
碍之𡽫渃境塘賒.

Cốc được tính ta nên Bụt thực,
Ngại chi non nước cảnh đường xa.

Hai câu phú Nôm cuối cùng: Chữ “Cốc” nghĩa là biết, ngộ hiểu được tánh mình là Phật, cũng đồng nghĩa: “Tức Tâm tức Phật”, khi đã tin tâm này là Phật thì ngại chi non nước cảnh đường xa, ý nói con đường thành quả Phật thì trải qua ba a tăng kỳ kiếp cũng không ngại, vì sao? Chúng ta tin nhận ngay nơi tâm này là Phật, tu trên nhân Phật thì không ngại gì đến thời gian thành Phật. Thành Phật là quả, mà chúng ta tu phải tu trên nhân, chứ thành Phật rồi thì còn gì để tu nữa? Đã rành rành hiển lộ tin rõ tâm thì Phật hiện tiền, không ngại gì những khó khăn chướng nghịch. Nên tin ngay nơi tâm này, chớ tìm cầu đâu xa, như Thiền sư Dược Sơn Duy Nghiễm, hỏi Sa di Cao:
– Ở Trường An rất náo loạn, ông có biết chăng?
Sa di Cao thưa:
– Nước con an ổn.

Qua đây chúng ta thấy ngoại cảnh có như thế nào đi chăng nữa, tin được tâm rồi thì ngoại cảnh không đủ sức làm não loạn chúng ta. Có niềm tin chắc chắn ta an tâm tu hành, không rong ruổi, đuổi tìm những thứ ảo mộng, lòng tinh tấn tiến lên, thì quê hương hà hữu của mỗi người không còn xa diệu vợi. Ở bức tranh chăn trâu thứ nhất của Thiền tông đã dạy thật chẳng sai: “Xưa nay đâu có mất, săn tìm chi? Bởi quay lưng với giác mà thành ra lỏng lẽo, sấn bước vào trần, nên mới bị mất đi, từ đó quê hương càng lúc càng dịu vợi, mà đường sá lại gập ghềnh. Cái lẽ được và mất đã cháy bừng bừng, phải và quấy mọc lên tua tủa.” Thế nên, mỗi chúng ta hãy tự thuần hóa chú trâu của chính mình.

Tác phẩm Vịnh Vân Yên Tự Phú cho ta thấy rõ Thiền sư Huyền Quang là một người rất tuyệt vời về nhiều mặt, văn chương mượt mà, là người tài ba, là ông trạng nguyên, có quyền thế trong tay, trong khi người khác phải kiếm tìm, thế ấy mà Ngài đã buông bỏ để xuất gia tu hành, thì chúng ta có gì giữa cuộc đời này mà luyến tiếc hay ngạo mạn đây? Đó là câu hỏi mỗi người phải tự đặt ra cho chính mình, để thấy được sự thật của bản thân, mà cố gắng tu tập. Vì những thứ có hình tướng đều là hư vọng, như Kinh Kim Cang, Đức Phật đã dạy: “Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng.” Đã là vua, quan… mà còn bỏ để tu hành, còn chúng ta có sá gì với các Ngài? Vậy nên hãy để trí tuệ Bát Nhã chiếu soi màn vô minh chấp trước, chăn trâu cho khéo, để rồi những ngày tự tại trở về quê hương không còn xa nữa, rồi lúc ấy, thõng tay mà vào chợ, thì lợi mình lợi người không còn chướng ngại “chân không mà diệu hữu” cũng là đây. Tinh thần nhà Thiền không chết cứng ở chỗ tịch lặng, mà từ thể chân như ấy, diệu dụng hằng sa, nếu chúng ta tu được như lời Chư Phật, chư Tổ đã chỉ dạy. Không dám nói bản thân hoàn toàn sống được với những điều được học và được hiểu qua sự truyền trao và chỉ dạy của những bậc ân sư, nhưng đó là mục tiêu, là lý tưởng mà giới xuất gia chúng ta nhắm đến và phải thực hiện, có như thế mới vừa lòng thỏa chí người tu sĩ, không cô phụ tấm lòng bi mẫn của những bậc thầy dày công giáo dưỡng, và một phần nào đền đáp được tứ trọng ân trong muôn một. Vậy nên, mỗi người chúng ta, gắng tự nỗ lực mà tu hành cho thật tốt! Đây cũng là những lời tự nhắc nhở bản thân, để chúng ta cùng cố gắng tu hành trong tình pháp lữ thân thương, trong sự chia sẻ (kiến hòa đồng giải) nếu cảm thông được thì chúng ta cùng nhau cảm thông. Còn ngược lại, hãy coi như lời mộng trong cõi giả huyễn này. Xin trân trọng!

Hải Thuần Bảo Hải