Vai trò của Tăng Ni xu hướng dấn thân nhập thế

15

  . DẪN NHẬP

Với Đại nguyện cứu khổ độ sanh, Bồ tát được sanh ra ở đời đầy đủ 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp. Đó chính là sự thành tựu quả thiện trong vô số kiếp Bồ tát đã thực tập các pháp Paramī. Suốt 45 năm tuỳ duyên “thuyết pháp độ sinh, khai mở chân lý giúp cho tất cả chúng sanh đều ngộ nhập Phật Tri kiến”.

Tiếp bước truyền thống của chư Phật, Tăng Ni bằng nhiều phương tiện đã dấn thân vào đời trên tinh thần đạo Phật nhập thế như người đem đèn sáng vào khắp thế gian để tất cả đều hưởng lợi lạc trong sự thực hành Chánh pháp của Đấng Từ Phụ. Dư âm lời dạy thuở xưa còn lưu trong kinh điển: “Này chư Tỳ Kheo, hãy luôn luôn du hành vì an lạc, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chư Thiên và loài người1”. Luôn là kim chỉ nam thôi thúc từng thành viên trong Tăng đoàn thực hiện vai trò của Tăng Ni xu hướng dấn thân nhập thế.

II. NỘI DUNG

Tăng Ni là người thừa tự và truyền trao Chánh pháp Như Lai rộng khắp nhân gian. Ý thức được vai trò và trách nhiệm của mình trong Tăng đoàn, mỗi Tăng Ni phải tự thúc liễm thân tâm, trau dồi “Giới – Đức”, thực tập việc học Pháp học và hành Pháp hành để là người thừa tự Chánh pháp một cách trọn vẹn; là người “Truyền Đăng Tục Diệm” đem ngọn đèn soi sáng khắp nhân gian trên tinh thần dấn thân nhập thế đem lợi lạc cho số đông.


Nhưng làm sao để Phật pháp phát triển ngày càng sâu rộng đến mọi nơi, mọi tầng lớp nhân dân, để họ có được cuộc sống an bình, hạnh phúc? Muốn đảm bảo việc hóa độ chúng sinh được viên mãn, trước tiên Tăng Ni phải thực hành hạnh tự độ, phải luôn thể hiện “tri hành hợp nhất” nghĩa là “lời nói phải đi đôi với việc làm”. Có nghĩa là “dạy những gì mình đã sống và sống những gì mình đã dạy”, có được như vậy thì sự giáo hóa mới không phải là ảo tưởng. Là đệ tử của Phật, phát Bồ đề tâm, nguyện cứu độ hết thảy chúng sinh khổ nạn; trong cuộc đời tu hành phải luôn nghĩ đến sự biết đủ, sống an vui thanh bần, chỉ lấy việc vun bồi phát triển trí tuệ, làm điểm đến, làm sự nghiệp của mình. Kinh Bát Đại Nhân Giác: “Thường niệm tri túc, an bần thủ đạo, duy tuệ thị nghiệp2”.

Tu tập đâu chỉ riêng ngồi tụng Kinh, niệm Phật, mà mỗi hành động, việc làm hằng ngày đều là Phật Pháp, đạo và đời gắn liền để hóa độ chúng sanh. Để làm được điều đó, Tăng Ni chúng ta cần phải không ngừng nỗ lực nghiên cứu học hỏi ngoài những kiến thức nội điển việc học và nghiên cứu ngoại điển cũng là điều cần thiết cho công cuộc dấn thân nhập thế “Hành Như Lai sứ, tác Như Lai sự”.

Phật giáo nhập thế không phải chỉ đơn giản làm chuyện xã hội hay từ thiện, mà những người thực hành Bồ tát đạo cũng cần phải có lòng tin cá nhân vào triết lý độ sinh của đạo Phật, quyết tâm nhập cuộc để thay đổi và tạo ra các định chế mới để làm vơi đi những nỗi khổ đau cho trần thế. Chính vì vậy, ngay từ khi mới du nhập vào nước ta thông qua nguồn tuệ giác, tâm từ bi, vị tha, vô ngã và nhất là hạnh nguyện độ sinh của các bậc Chân tu Thạc đức, Phật giáo đã sớm hòa hợp, dung thông với văn hóa dân tộc bản địa và nhờ đó mà Phật giáo đã nhập thế độ sinh, gieo mầm đạo đức, yêu thương, soi rọi ánh sáng Phật pháp thấm nhuần sâu rộng trong đời sống của người dân Việt.

Những người có duyên được hóa độ thì chúng ta phải có trách nhiệm hướng dẫn họ trong việc tu tập đúng Chánh pháp, để họ không đi vào đường tà, như đối với những người thông minh thì chúng ta chỉ cần giảng giải trong thời gian ngắn là họ hiểu; còn đối với những người căn tánh chậm lụt thì phải kiên trì mà hướng dẫn. Để cảm hóa được lòng người thì chúng ta cần phải: Dùng ban cho, trao tặng để cảm hóa: Gồm tài vật, Phật pháp và tinh thần vô úy; dùng ngôn ngữ hòa ái trong giao tiếp; dùng thân khẩu và ý để giáo hóa mọi người làm cho mọi người thân cận với Đạo… Nhưng trong xã hội có nhiều thành phần, nhiều tầng lớp khác nhau thì chúng ta cũng phải “tùy duyên hóa độ3” chứ không phải nhất thiết “cứng nhắc” theo khuôn mẫu nhất định và nói như thế không có nghĩa là chúng ta bất chấp mọi quy củ đạo đức của người xuất gia, mà chúng ta làm việc gì thì chúng ta phải cân nhắc, phải đem cái “Tâm” đến với mọi người, nếu không thì sẽ làm tổn thương đến đạo pháp và cuộc đời tu của mình khó mà thành tựu được.

Mở các lớp dạy giáo lý căn bản cho Phật tử. Bởi, người dân đến chùa ngày càng nhiều, nhưng không phải ai đến chùa cũng hiểu biết Phật pháp. Có những người họ đến chùa chỉ để cầu nguyện hay tìm đến sự yên tĩnh mà thôi, họ không hiểu biết gì về Phật giáo cả. Nếu như người Phật tử đến chùa mà không biết, không hiểu gì về giáo lý Phật giáo thì làm sao thực hành đúng tinh thần đạo Phật, làm sao tìm được sự an lạc cho bản thân, làm sao có thể duy trì được đạo tâm của mình và rất dễ bị tác động bởi nghịch cảnh. Thế nên với việc mở lớp giáo lý cho Phật tử sẽ giúp họ hiểu hơn về đạo Phật và thực hành đúng lời Phật dạy để có sự an lạc cho bản thân. Một khi họ đã hiểu và nhận thấy được lợi ích của việc tu tập Phật giáo thì tâm bồ đề của họ sẽ được tăng trưởng, họ sẽ trở thành những vị hộ pháp đắc lực cho Phật giáo.

Tổ chức các sinh hoạt về Phật giáo dành cho thanh thiếu niên như: Khóa tu mùa hè, khóa tu một ngày an lạc v.v… Bởi vì thanh thiếu niên là những người trẻ tuổi, dễ dàng tiếp thu học tập giáo lý hơn những người lớn tuổi. Nhờ những khóa tu ấy mà các em có cơ hội tìm hiểu học tập giáo lý sớm hơn và thực hành lối sống đạo đức để trở thành người con ngoan của gia đình và người công dân tốt của xã hội. Khi Phật giáo có thể dạy dỗ những mầm xanh trở thành những người công dân hữu ích thì chắc chắn Phật giáo sẽ được sự ủng hộ đồng tình của phụ huynh cũng như xã hội. Điều đó sẽ giúp cho Phật giáo nhân rộng hơn đến mọi tầng lớp nhân dân.


Qua việc tuyên truyền giáo pháp, dần dần con người sẽ nhận thức về lòng yêu thương, về lối sống vị tha, thấy có trách nhiệm phải nâng đỡ, đùm bọc lẫn nhau “Lá lành đùm lá rách”, thấy cần phải chia sẻ những nặng nhọc cho nhau trong một cộng đồng. Rồi từng bước, Tăng Ni tổ chức các loại hình hoạt động từ thiện như: Mở các lớp học tình thương cho trẻ em thất học, xây dựng các ngôi nhà tình nghĩa, tham gia giúp đỡ trẻ mồ côi, người nghèo neo đơn, ủng hộ xóa đói giảm nghèo và chăm sóc những mảnh đời bất hạnh… Những hoạt động này rất thiết thực, sẽ được sự đồng tình của nhiều người. Vì khi người ta đói, người ta khổ thì chúng ta có giỏi thuyết pháp thế nào họ cũng không nghe, hoặc có nghe cũng không quan tâm để ý. Vì vậy, chúng ta phải đi vào cuộc sống bằng những việc làm thiết thực để họ thấy chúng ta có sự chia sẻ, đồng cảm với họ, quan tâm họ, để họ thấy đạo Phật không chỉ nói trên lý thuyết suông mà đạo Phật rất là thiết thực với cuộc sống, đạo Phật đi vào cuộc đời để cứu khổ ban vui. Và khi đó chúng ta dễ dàng khuyến hóa, dẫn dắt họ đến với đạo.

Như vậy, với tinh thần dấn thân và nhập thế trong thời kỳ hội nhập và phát triển của đất nước Việt Nam nói chung và Phật giáo nói riêng, hơn ai hết Tăng Ni phải biết bổn phận và trách nhiệm của mình phải làm thế nào để hướng dẫn được Phật tử đi đúng lộ trình Phật đạo, giúp họ sống có lợi ích, có ý nghĩa, nhưng chúng ta phải làm sao mà vẫn giữ gìn được đạo đức oai nghi, thận trọng trong từng lời ăn tiếng nói để không làm mất đi tín tâm của người Phật tử.

KẾT LUẬN

Tóm lại, trải qua mỗi giai đoạn lịch sử, Phật giáo đều có vai trò, vị trí và những đóng góp tích cực trên nhiều lĩnh vực trong đời sống. Ý tưởng nhập thế từ ngàn xưa đến ngàn nay cần nên lưu giữ và hoà mình trong xu thế và bối cảnh xã hội mà tiếp tục phát triển. Chính vì thế mà Giáo pháp được lưu truyền khắp chốn nhân gian. Trong vai trò là người nối dòng mạng mạch Phật pháp và cũng là ruộng phước điền của thế gian thì tự thân Tăng Ni phải luôn luôn tự sách tấn chính mình, tự trang bị cho mình những nền tảng vững chắc “Giới – Định – Tuệ” ngõ hầu tự lợi và lợi tha.

“Kính lạy Tăng người thừa chí cả,
Thay Thế Tôn hoằng hóa đạo mầu,
Từ bi, giác ngộ, vô cầu
Làm thầy mô phạm dẫn đường chúng sanh”.

Diệu Hương


  1. Trung bộ kinh I, bài 83.
  2. Trích Kinh Bát Đại Nhân Giác.
  3. Kimura Taiken (2017), Nguyên Thủy Phật Giáo Tư Tưởng Luận, Thích Quảng Độ dịch, Nxb. Tôn Giáo, tr. 324.