Chủ Nhật, 23 Tháng Một 2022
Phật học Nghiên cứu Vai trò cũa Anagarika Dharmapala truyền bá chánh pháp từ châu Á...

Vai trò cũa Anagarika Dharmapala truyền bá chánh pháp từ châu Á sang Âu – Mỹ

  Phật giáo có sức hút mạnh mẽ trên toàn cầu, sức lan tỏa của Phật giáo không phân biệt màu da sắc tộc. Phật giáo khởi phát từ phương Đông và nhanh chóng trở thành “Ánh đạo vàng Đông – Tây”. Chính sự xuất hiện Phật giáo ở trời Tây là minh chứng cho sức sống mãnh liệt, là nguồn sinh khí thổi bùng ngọn lửa Phật giáo đến với các quốc gia Âu – Mỹ. Trong đó, nổi bật là dấu ấn đầu tiên Phật giáo chính thức có mặt và truyền bá tại Hoa Kỳ sau hơn 100 năm lập quốc.

Nếu như, vào thế kỷ thứ III trước Tây lịch, vua A Dục – Bậc thánh quân đã có công truyền bá Phật giáo vượt biên giới Ấn đến nhiều khu vực trên thế giới thì thời hiện đại, chính sự đóng góp to lớn của các Tăng sĩ, cư sĩ Phật tử châu Á đã truyền bá Phật giáo đến hầu hết ngõ ngách của đời sống nhân loại như: Đại sư Thái Hư, Tinh Vân, Gandhi,… Nhân vật lịch sử nổi bật, góp công to lớn cho công cuộc chấn hưng và truyền bá Phật giáo thế giới giai đoạn cuối thế kỷ XIX, không ai khác chính là Anagarika Dharmapala.

Ngài Dharmapala thổi bùng ngọn lửa phục hưng Phật giáo tại quê hương Tích Lan và lan tỏa đi khắp xứ Ấn đến các quốc gia Trung Á, Âu – Mỹ. Đỉnh điểm ghi dấu ấn bước ngoặt lịch sử trong cuộc đời cống hiến cho Phật pháp của Ngài chính là tham dự Đại hội Tôn giáo toàn cầu năm 1893 (The Worlds Parliament of Religions of 1893) tại Hoa Kỳ. Ở đó, Anagarika Dharmapala nổi bật như vì sao sáng trong lịch sử Phật giáo Tích Lan bởi lòng nhiệt thành và sự hy sinh cao cả, dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp đấu tranh Phật giáo. Chính ông là người thắp lên ngọn đuốc phục hưng và gây nguồn cảm hứng cho các nước Phật giáo châu Á. Ông cũng là đại biểu châu Á tạo tiếng vang trong Đại hội. Từ đó, Phật giáo chính thức có mặt và tiếp tục lan tỏa sâu rộng khắp trời Âu – Mỹ.

Chính vì vai trò quan trọng và đóng góp vĩ đại của Ngài cho Phật giáo mãi truyền lưu, để làm sáng tỏ vấn đề này, người viết mạnh dạn chọn đề tài: “Vai trò của Anagarika Dharmapala truyền bá chánh pháp từ châu Á sang Âu – Mỹ” để nghiên cứu.

Phật giáo xuất hiện tại Hoa Kỳ đánh dấu sự kiện chuyển Pháp luân làm chấn động nhân loại. Sau lần chuyển Pháp luân của Đức Phật, vào thế kỷ thứ III trước Tây lịch, vua A Dục đã vận hành bánh xe Pháp khắp Ấn Ðộ, Tích Lan và thế giới do những đoàn truyền giáo của Ngài. Trong thời hiện đại, Ngài Dharmapala cũng làm một việc vĩ đại, tương ứng với lời dạy của Thế Tôn:“Này các Tỷ kheo, hãy du hành vì hạnh phúc cho quần chúng, vì an lạc cho quần chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài người”. Ngài đã áp dụng đạo Phật vào xã hội phương Tây với những đặc điểm hoạt dụng của mình trên một nền văn minh xa lạ.

Trước khi đưa Phật giáo truyền bá sâu rộng trên đất Hoa Kỳ, chúng ta sẽ quay về thời niên thiếu và đóng góp của ngài Dharmapala cho Phật giáo tại quê hương Tích Lan cũng như quá trình phục hưng và phát triển Phật giáo ở châu Á thông qua vai trò trọng yếu của Ngài.
Anagarika Dharmapala nguyên danh là Don David Hewavitarne (1864-1934), ra đời tại Colombo, Tích Lan. Ngài thuộc gia đình quý tộc Sinhalese. David Hewavitarne được giáo dưỡng trong văn hóa Sinhalese, xây dựng trên nền tảng nhân sinh Phật giáo. Lòng thành kính chánh pháp của cha mẹ ông đã rèn luyện cho ông có được đạo hiếu cổ truyền, vốn là di sản của dân tộc ông từ hơn 2.500 năm về trước. Noi gương hai thân sinh, hàng ngày ông sống quy y theo Phật, Pháp, Tăng và giữ gìn năm cấm giới theo tập tục của hàng dân chúng. Ông sinh ra như để trở thành một nhân vật cao cả và một đệ tử nhiệt thành của Đức Phật. Thay vì chạy theo những cám dỗ của xã hội tân tiến bấy giờ, ông đã sống một cuộc đời trong sạch và bình dị, tránh xa những ý tưởng tội lỗi và bất thiện.

Xuất thân là một con dân Phật giáo người Tích Lan, ông là nhà truyền bá Phật giáo trong thời hiện đại, thực hiện thuyết pháp tại: châu Á, Bắc Mỹ và châu Âu. Đồng thời ông là nhà tiên phong trong phong trào chấn hưng Phật giáo ở Ấn Độ sau nhiều thế kỷ suy tàn. Hewavitarne có được một nền tảng giáo dục theo kiểu Anh quốc điển hình: từng theo học tại các Trường Cao đẳng Cơ đốc Kotte; Cao đẳng St. Benedict Kotahena; Cao đẳng S. Thomas Mutwal và học viện Colombo (Cao đẳng Hoàng gia).

Thế kỷ thứ XVI, khi người Bồ Ðào Nha, Ðức, Anh, Pháp, Mỹ… xâm lăng châu Á, những nền văn minh Phật giáo rơi vào tình trạng suy sụp hẳn. Sự thống trị này đã phá hủy nền văn hóa cổ truyền của các xứ sở bản địa, những đoàn truyền giáo Thiên Chúa được dịp phát triển nhanh chóng tại các quốc gia trên ở châu Á. Khi thực dân Anh chiếm Tích Lan, hầu hết các trường học đều theo Thiên Chúa giáo, học sinh đi học phải đặt tên Thánh. Nếu những ai bị phát hiện có dính líu đến Phật giáo đều bị đuổi ra khỏi trường. Cũng trong giai đoạn cai trị này, đã diễn ra cuộc tranh luận rất lớn giữa Phật giáo và Cơ Đốc giáo (1865-1873). Trong cuộc tranh luận, trưởng giả Mahotti Vatte Gunananda đã bẻ gãy mọi lý luận của Cơ Đốc giáo, giành lại chỗ đứng cho Phật giáo. Cuộc tranh luận đã được một học giả người Hoa Kỳ ghi thành sách, lưu lại tại thư viện của Hoa Kỳ và may mắn được ông bà Đại tá Henry Steel Olcott đọc được nên họ quyết định sang Tích Lan nghiên cứu Phật học và giúp cho tín đồ Phật giáo tại nơi này hoằng dương Phật pháp. Năm Phật lịch 2424, trước sự lớn mạnh của Cơ Đốc giáo, ông bà Đại tá đã cho thành lập “Học Hội Linh Trí Phật giáo” (Buddhist Theosophical Society) nhằm cứu vãn Phật giáo ra khỏi ách nạn và phục hưng Phật giáo, nhân đây Dharmapala cũng tham gia vào công tác tuyên truyền.

Đến năm 1891, Dharmapala đã cho thành lập Hội Đại Bồ Đề (Maha Bodhi Society) với tôn chỉ “Tuyên truyền Phật giáo ra nước ngoài, đặc biệt coi trọng Phật giáo Ấn Độ phục hưng và tăng tiến sự nghiệp giáo dục của người Tích Lan”. Hiệp hội đã góp phần tích cực trong công cuộc phục hưng Phật giáo tại Tích Lan, Ấn Độ và lan rộng đến các nước trên thế giới, đặc biệt ở phương Tây. Với sự lan tỏa trên con đường truyền bá chánh pháp, Hội Đại Bồ Đề đã được mở rộng và đặt trụ sở ở nhiều khu vực trên thế giới: Ấn Độ, Anh, Hoa Kỳ, Đức,…
Sự quan tâm chính của Hội là trùng tu các thánh tích Phật giáo tại Ấn Độ. Ngoài ra, Hội còn vận động thành lập một trung tâm Phật giáo Quốc tế tại Sarnath để phát động phong trào hoằng pháp tại Ấn Độ và xuất bản văn học Phật giáo bằng Anh ngữ. Qua những hoạt động trên, Hội không những làm sống dậy tinh thần Phật giáo tại Ấn Độ mà còn làm cho Phật tử Tích Lan và các nước Đông Nam Á có một mục tiêu chung, cùng nhau san sẻ nguyện vọng và thành đạt của mọi công tác.

Với những hoạt động không mệt mỏi: “Dharmapala thường sử dụng thời gian ban đêm với gia đình Mookerjee tại Baniapukur Road, thức đến 2 hay 3 giờ sáng để hành thiền. Sau đó, Ngài đọc kinh sách cùng với các tác phẩm của Max Muller, Sir Edwin Arnold, Sir William Hunter. Thời gian ban ngày, Ngài làm việc tại văn phòng, phúc đáp thư tín, biên tập và điều hành tập san. Mặc dù bận rộn công việc, nhưng Dharmapala vẫn dành thời gian để tham dự các hội nghị thường niên tại Adya, cũng như thiết lập mối quan hệ giới Phật giáo Himalaya ở Darjeeling và cúng dường xá lợi Phật, lá cây Bồ đề và cờ Phật giáo”.

Anagarika Dharmapala ngay từ nhỏ đã thấm nhuần giáo lý đạo Phật theo truyền thống gia đình. Năm 20 tuổi ông phát nguyện dâng hiến trọn đời cho Phật giáo và tự đặt tên là Dharmapala và xuất bản tạp chí. Nhờ đọc được bài viết của Darmapala trên tạp chí này, mục sư J.H. Barrows đã gửi thư mời ông tham dự Đại hội Tôn giáo Thế giới đầu tiên tại Hoa Kỳ.

Đến dự Hội nghị, Anagarika Darmapala được vinh dự ngồi vào hàng ghế đầu tiên bên cạnh Hồng y Gibbon và Đại sư Swami Vivekananda. Ông được mời phát biểu bài diễn văn chào mừng Hội nghị trong cuối buổi khai mạc. Với mái tóc quăn đen chấm ngang vai, ánh mắt sáng quắc tự tin nhìn thẳng vào thính giả hội trường, giọng nói sang sảng của người truyền giáo, lưu loát trong diễn đạt Anh ngữ. Anagarika Darmapala đến Đại hội được vinh dự ngồi vào hàng ghế đầu bên cạnh Hồng y Gibbon và Đại sư Swami Vivekananda. Ông có bài diễn văn chào mừng trong cuối buổi khai mạc. Thông qua bài tham luận tại Đại hội, Dharmapala chinh phục các đại biểu, nổi lên như một đại biểu thống nhất các tông phái Phật giáo đang gieo truyền “Ánh sáng Á châu” vào văn minh Kitô. Nhiều người còn so sánh phong thái của Dharmapala với Chúa Jesus.

Dharmapala không chỉ thuyết phục thính giả bởi nội dung bài diễn thuyết mà còn cả về phong cách của mình. Philangi Dasa đánh giá: “Khi tham dự Đại hội Tôn giáo Thế giới, những đại diện như pháp hữu Dharmapala đã vui vẻ bắt tay hàng trăm phụ nữ Cơ Đốc giáo, ký tên lưu niệm trên sổ tay và những chiếc quạt nhỏ. Thật là một cử chỉ ngoạn mục.” Ông còn nhận xét thêm: “Hành động ấy sẽ khiến cho ngân sách giáo xứ trong mùa Giáng sinh bị sút giảm và khiến cho những thiếu nữ Cơ Đốc giáo không còn e lệ với những người tình Phật tử”.

Điều đó cho thấy, ngay từ đầu, với phong thái đặc biệt, cũng như sự khéo léo trong cách nói chuyện của Dharmapala đã thu hút sự chú ý của rất nhiều người, ông như vầng sao sáng lớn đang tỏa chiếu trên bầu trời tôn giáo. Bởi căn bản ông không phải là một tu sĩ Phật giáo, nhưng sự cống hiến cho Phật giáo của ông lại rất lớn, mọi tâm tư, nguyện vọng của ông dường như đều dồn vào công cuộc phục hưng và truyền bá Phật giáo đến các nước phương Tây, ông cống hiến, hoạt động như một tu sĩ Phật giáo thực sự.

Mặc dù trong Hội nghị có rất nhiều đại biểu đại diện cho châu Á lên phát biểu như: Yoshigirai Kawai – đại diện của Nhật Liên Tông (Nhật Bản). Vị này cho rằng: “Dù là hạng bình dân, không biết đọc, biết viết, nếu chuyên niệm “Namu Myo Ho Ren Geky” đều được giác ngộ”. Nhưng bài phát biểu không mấy ấn tượng, không đủ sức lôi cuốn, cuốn hút người dân bản xứ, một phần do vị ấy dùng ngôn ngữ bản xứ, một phần không thích hợp với điều kiện và tư tưởng của người dân Tây phương. Riêng Dharmapala lại rất ấn tượng bởi ông hội đủ những điều kiện đó, cả về hình thái phong cách, tư chất lẫn kiến thức uyên bác của mình.

Ông còn tuyên bố: “Đối tượng khai sáng hiện nay không còn nhắm về thần học mà về triết lý và tâm lý”. Ông phê bình thái độ mập mờ của Ấn giáo, xem Phật giáo như một phần của tôn giáo truyền thống trong khi giữa Phật giáo và Ấn giáo có nhiều sai khác không thể nào hóa giải được: Hai mươi lăm thế kỷ qua, Ấn Độ mục kích một cuộc cách mạng về tri thức và về tôn giáo lên đến cao độ đã lật đổ chủ nghĩa độc thần, các nhà tu ích kỷ và thiết lập một tôn giáo hòa hợp, một hệ thống ánh sáng và tư tưởng được gọi là Giáo pháp (Dhamma), một triết học tôn giáo. Như trước đó, ông từng phát biểu: “Phật giáo của quê hương Ấn Độ chúng ta đã lưu lạc tha phương ngót 800 năm; ngày nay, Phật giáo đã trở lại cố quốc, là niềm an ủi lớn nhất cho tất cả chúng ta. Ngay lúc này đây, người dân Ấn phải thức tỉnh, phải vươn lên mọi định kiến giai cấp và tín điều; chỉ với một mục đích duy nhất là cùng với Hội Đại Bồ Đề, đem giáo lý của Đức Phật tặng lại cho nhân dân Ấn Độ”. Với lời tuyên bố đầy tình cảm, đầy nhiệt huyết đã phần nào thể hiện rõ tinh thần và tấm lòng phụng sự của một con người sống hết mình vì đạo, “thủy chung, son sắt” với “người tình” mang tên Phật giáo. Lần nữa, trong bài phát biểu thứ hai của mình, Dharmapala đã xác định lại vị trí của Phật giáo: “Đấng tạo hóa không có vị trí nào trong Phật giáo, do đó Phật giáo không cần bịa đặt bất cứ huyền thoại nào hay phép lạ nào trái ngược với khám phá khoa học, món nợ của thế giới đối với Đức Phật… đối tượng khai sáng hiện nay không nhắm về thần học nữa mà về triết học và tâm lý. Quả thật tài năng và trí tuệ hùng biện của Ông vượt xa các đạo sư khác. Như tu sĩ Nhật Liên Tông là Yoshigirai Kawai đại diện cho Phật giáo Nhật Bản cũng phát biểu, nhưng tư tưởng giáo lý của ông không hấp dẫn phù hợp với tinh thần của người bản xứ và không được đón nhận. Một phần vì giáo lý ấy bằng tiếng Nhật, một phần vì đạo lý ấy không phù hợp với người Hoa Kỳ bấy giờ. Vì thế, chỉ khi nào tinh thần giáo lý ấy phù hợp với người bản xứ mới được đón nhận.

Trái lại, tinh thần giáo lý của Dharmapala phù hợp với tư tưởng bản xứ, được đón nhận tích cực. Minh chứng là ngày thứ ba của Đại hội có thương gia Strauss xin thọ Tam quy ngũ giới với ông và trở thành vị Phật tử đầu tiên là người bản xứ. Tiếp đó, sau Đại hội, ông được mời giảng pháp với chủ đề “Phật giáo và Thông thiên học” (cho thấy ông khéo léo dùng chủ đề phù hợp với món ăn tinh thần của người bản xứ Hoa Kỳ). Ba năm sau, ông trở lại Hoa Kỳ, đến nhiều bang thuyết giảng, chủ đề được yêu cầu nhiều nhất là “Sự hóa giải giữa Phật giáo và Thiên chúa giáo”. Báo chí Hoa Kỳ ca ngợi: “Ông là nhà hùng biện của Phật giáo, có giọng nói tiếng Anh độc đáo, chạm đến trái tim nhiều người… ”

Ông qua đời ở Sarnath vào ngày 29/4/1933. Trước khi mất, ông đã đến thọ giới với Trưởng lão Boruggamuwe Rewta và chính thức gia nhập Tăng đoàn, trở thành một vị Tỷ kheo và đã có lời nguyện: “Đây là giây phút của đời tôi. Để phục hưng Phật giáo, tôi cầu mong được tái sinh vào một gia đình Bà La Môn. Để làm Phật sự, tôi nguyện chuyển sinh vào cõi đời này 25 lần nữa”. Cho đến giây phút cuối đời, Ngài vẫn mang trong mình một tâm nguyện vô cùng lớn, có lẽ tâm nguyện phục hưng Phật giáo tại Ấn Độ chưa hoàn thành nên Ngài muốn quay lại, tái sanh vào dòng họ cao quý để dễ dàng hoàn thành công việc còn dở dang. Đây chính là tâm nguyện của một vị Bồ tát đang hoằng hóa tại thế gian, làm cho Phật giáo được lưu truyền, chánh pháp mãi trường lưu trên khắp thế giới. Có thể nói rằng, Dharmapala là một người vô cùng thủy chung với Phật giáo, để tìm được một người đầy nhiệt huyết, phụng sự Phật pháp đến giây phút cuối cùng như Dharmapala rất hiếm, Ngài xứng danh là một ngôi sao sáng lớn trong ngôi nhà chánh pháp của Như Lai, là người đã thắp sáng ngọn đuốc phục hưng cho Phật giáo không chỉ ở Tích Lan, Ấn Độ mà còn ở các nước trên thế giới. Đại hội Tôn giáo Thế giới tại Chicago như một cánh buồm đã căng gió giúp cho Dharmapala vững lái con chuyền chánh pháp lướt nhanh trên dòng đại dương.

Một lần nữa xin kính cẩn nghiêng mình trước giác linh cố Đại đức Dharmapala. Ngài là hiện thân của vị Bồ tát, dấn thân vì lý tưởng “Vì Đạo pháp, phục vụ nhân sinh”. Tấm gương sáng ngời của Ngài là ngọn hải đăng cho thế hệ mai sau nối truyền chánh pháp, khai ngọn đuốc chấn hưng và truyền bá Phật giáo đến mọi nơi. Vai trò và tên tuổi của Ngài xứng danh được tôn xưng là A Dục của thời cận đại.

Thích Minh Tuệ
Tăng sinh khóa XI – HVPGVN tại TP.HCM


  1.   Thích Minh Châu (dịch), Kinh Bẫy Sập, Tương Ưng Bộ Kinh, tr.178.
  2. Trần Quang Thuận, Lịch sử Phật giáo Tích Lan.
  3. Trần Quang Thuận, Phật giáo Nam tông tại Đông Nam Á, tr.334-335.
  4. Tập san Maha Bodhi – Tài liệu Giáo thọ cung cấp.
  5. Thích Tâm Quang (dịch), Phật giáo dưới mắt các nhà tri thức, tr.54-55.
  6. Minh Đức Triều Tâm Ảnh, Sử Phật giáo thế giới, tập 1: Trung quốc – Ấn Độ, tr.160.
  7. Thích Nữ Như Nguyệt, Bài giảng Phật giáo Âu-Mỹ, Khóa XI.
  8. Huỳnh Hạ Niên, Nhân vật Phật giáo Tích Lan cận đại, tr.31.
  9. Pháp sư Thánh Nghiêm – Tịnh Hải, Lịch sử Phật giáo thế giới, tr.640- 641.
    Tài liệu tham khảo
    1. Thích Minh Châu (dịch), Kinh Tương Ưng Bộ, NXB. Tôn giáo, 2016.
    2. Pháp sư Thánh Nghiêm, Pháp sư Tịnh Hải, Lịch sử Phật giáo thế giới, NXB. Khoa học Xã hội, 2008.
    3. Ven.Dr. K.Sri. Dhammananda, Thích Tâm Quang (dịch), Phật giáo dưới mắt các nhà tri thức, 1994.
    4. Huỳnh Hạ Niên, Thích Trung Nghĩa (dịch), Nhân vật Phật giáo Tích Lan cận đại, NXB. Hồng Đức, 2015.
    5. Minh Đức Triều Tâm Ảnh, Sử Phật giáo thế giới, tập 1: Trung Quốc – Ấn Độ, NXB. Thuận Hóa, 2008.
    6. Trần Quang Thuận, Phật giáo Nam tông tại Đông Nam Á, NXB. Tôn giáo, 2008.
    7. Trần Quang Thuận, Lịch sử Phật giáo Tích Lan, NXB. Tôn giáo, 2008.
    8. Thích Nữ Như Nguyệt, Bài giảng Phật giáo Âu – Mỹ, Khóa XI.
    9. Thích Nữ Như Nguyệt, Bài dịch Anagarika Dharmapala, Khóa XI.

Tin khác

Cùng chuyên mục

error: Nội dung được bảo mật !!