8.4 C
London
Thứ Tư, Tháng Mười Hai 1, 2021

Ứng dụng lý tưởng Bồ Tát vào xã hội ngày nay

- Advertisement -
- Advertisement -

  Xã hội hiện nay đang trên đà phát triển về mọi mặt, đời sống con người ngày càng văn minh, nhận thức con người theo đó cũng dần dần phát triển. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, xã hội đã phát sinh nhiều mặt trái ngoài ý muốn như: vấn đề suy thoái Đạo Đức, các tệ nạn xã hội, các hành vi vô cảm, bạo lực, bạo hành, thiếu niềm tin… Vậy làm thế nào để đưa giáo lý Phật giáo ứng dụng vào đời sống, giải quyết những vấn nạn mà con người, xã hội ngày nay đang vướng phải? Để mọi người có một cuộc sống đầy đủ về vật chất, và hạnh phúc nơi nội tâm. Đứng trước những thách thức đó, trách nhiệm của người tu sĩ cần làm là gì, để đem lại lợi lạc cho nhân sinh, phát triển xã hội đất nước? Hạnh nguyện Bồ tát trong đạo Phật là dấn thân làm lợi ích cho chúng sanh, đem lại hạnh phúc thật sự cho con người, tránh xa những điều bất thiện, khổ đau. Bởi lẽ đó, người tu sĩ cần phải áp dụng lý tưởng Bồ Tát nhập thế như thế nào cho đúng, cho có kết quả tốt? Vậy, đối tượng nhập thế là ai, phương tiện nhập thế là gì, làm sao để phù hợp với hoàn cảnh xã hội hiện nay ? Đó là điều nan giải. Vì thế, muốn giải quyết những vấn đề trên, nên đề tài: “Ứng dụng lý tưởng Bồ tát vào xã hội ngày nay” nhằm mục đích, chuyển tải lời Phật dạy trong đời sống thực tiễn (nhập thế) giải quyết những vấn nạn mà xã hội ngày nay đang vướn phải.


Tại vườn Lộc Uyển (Isipatana) thuộc thành Ba-la-nại (Baranasi) sau khi độ sáu mươi người đệ tử, bấy giờ Phật dạy các Thầy nên du hoá để chia sẽ Đạo tỉnh thức,“Kinh Tương Ưng” ghi lại như sau: “Này các Tỷ kheo! Hãy du hành,vì hạnh phúc cho quần chúng, vì an lạc cho quần chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và loài người….Hãy tuyên thuyết phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh…”1. Qua đó cho thấy tinh thần nhập thế xuất hiện từ thời Đức Phật, Ngài đã dạy cho các vị đệ tử hãy du hành, đem giáo pháp vừa được học, đi truyền dạy khắp đó đây để cho mọi người cùng lợi ích. Không dừng lại ở đó, suốt bốn mươi chín năm, Đức Phật đã du hoá khắp xứ Ấn Độ để hoằng pháp, là một minh chứng cho tinh thần nhập thế của Ngài.

Bài viết được trình bày sẽ đem lại lợi ích thiết thực, từ đó mỗi người có cái nhìn đúng hơn về vấn đề nhập thế cũng như tinh thần nhập thế chất chứa trong Phật giáo đại thừa. Khi nhập thế hay làm việc đưa đến tích cực hay tiêu cực, mục đích chính đem lại lợi ích chúng sanh, không quảng khó nhọc, không mưu cầu lợi riêng, mà vì sự trường tồn Phật pháp.
“Cuộc sống luôn nhiều khổ đau, do bệnh tật, thiếu ăn, thiếu mặc, chiến tranh, hận thù, thiên tai, bão lụt; Nỗi khổ đau do mất người thân, sanh ly tử biệt, thế thái nhân tình, vô thường biến hoại… Cuộc đời đang chờ những nhân cách đầy lòng từ bi, trí tuệ che chở. Khó có ai sống trong thế gian này không cần đến sự chia sẽ lòng yêu thương, nhân từ, khoan dung độ lượng”2. Qua đó cho thấy dù xã hội có phát triển tới đâu, khoa học dẫu có tiên tiến đến mấy, một khi nỗi khổ của con người chưa đoạn diệt thì Phật pháp vẫn rất cần ở thế gian. Con người rất cần các mối quan hệ, chia sẽ quan tâm, động viên hợp tác, và rất cần một tình thương, bởi vì từ xưa đến nay con người chưa từng tồn tại đơn độc.

1. Vài nét về thực trạng của xã hội ngày nay

như chúng ta đã biết, đất nước ngày nay đang khủng hoảng đa phương diện. Kinh tế chậm tiến, kéo theo hàng loạt thuế ra đời, người làm ra của cải vật chất ít hơn so với người tiêu dùng (cung thấp hơn cầu) cho nên giá cả càng ngày leo thang nhảy vọt không ngừng, do sự lạm phát nên đồng tiền trở nên mất giá.v.v…

Kinh tế của một đất nước phát triển nhờ đội ngũ lao động dồi dào, thành phần làm ra của cải vật chất phong phú đa dạng thì kinh tế phát triển. Theo thực trạng hiện nay, nhiều ngành như : dịch vụ ăn uống, hàng hóa, du lịch, môi giới, v.v… xuất hiện quá nhiều, vì công việc nhẹ nhàng mà lợi nhuận cao, nhưng kinh tế thật sự nằm trong tầng lớp lao động, tạo ra sản phẩm và thông qua khối ốc và chân tay. Nếu người tạo ra của cải vật chất ít hơn lượng người tiêu dùng thì giá trị sản phẩm đó nâng cao giá cả. Vì thế đội ngũ làm ra sản phẩm cực kỳ quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế. Còn các ngành nghề như: dịch vụ ăn uống, hàng hóa, du lịch, môi giới.v.v… chỉ là thứ yếu mà thôi.

Về người làm giáo dục hiện nay được xem là nghề làm ăn, sinh sống. Bởi vì học sinh đi học thì đóng tiền, thầy giáo đi dạy nhận lương, công bằng đến mức học trò không còn kính trọng thầy cô giáo như ngày xưa nữa. Bên cạnh đó bạo lực học đường, đánh nhau gây thương tích, đánh hội đồng hay đơn lẻ vẫn còn liên tiếp xảy ra.

Về mặt xã hội, hiện nay con người rơi vào thờ ơ vô cảm với những mối quan hệ hằng ngày, bởi chạy theo vật chất đồng tiền mà bất chấp lương tâm, lương tri. Họ không còn quan tâm đến những việc xung quanh, bỏ qua lễ nghĩa tiểu tiết, vì thế làm cho con người ngày càng cách xa nhau hơn. Đây là hiện trạng vô cảm xảy ra hằng ngày, mà chúng ta thường gặp.vv…

Rất nhiều vấn đề cần bàn cãi ở đây, những nguyên nhân gây mâu thuẫn giữa con người với nhau là do tâm tham-sân-si, tranh nhau hơn thua thiếu lòng từ bi, nên vô cảm mọi vấn đề. Đó là những vấn đề nóng bỏng mọi người đã tốn biết bao nhiêu công sức để tìm ra phương pháp giải quyết, nhưng chưa thấy khả thi vì việc áp dụng chưa đưa đến giải quyết triệt để. Trên đây đưa ra vài đặc tính cho sự yếu kém trên, để có sự nhìn nhận hợp lý hơn.

2. Thiếu sự nhường nhịn

Người biết đạo lý sẽ toát ra bên ngoài vẻ thanh lịch, đầy lòng vị tha.Vì chúng ta nhận chân được vô thường, khổ đau, vô ngã. Cho nên chúng ta sống kiên nhẫn, không tranh giành hơn thua lẫn nhau, không chấp thủ những thứ thuộc về mình. Nếu như con người biết nhường nhịn, sống mở lòng san sẻ cho nhau những gì có thể, giữa người với người yêu quý nhau hơn, quan tâm đùm bọc lẫn nhau (Kim vàng ai nở uốn cau, Người khôn ai nở nói nhau nặng lời). Trong Lục độ ba la mật, nhẫn nhục là yếu tố thứ ba, con người biết tu hạnh nhẫn nhục thông qua sự khiêm hạ, nhường nhịn, sẽ chia yêu thương thì cuộc sống sẽ tốt đẹp biết chừng nào.

Sở dĩ mọi người không biết nhường nhịn, thường hơn thua nhau từ lời nói, việc làm, cho đến danh vọng, địa vị, tài sản… Đã tạo ra nỗi khổ triền miên từ đời này sang kiếp nọ. Tùy theo từng độ tuổi khác nhau mà có sự tranh giành hơn thua cũng khác nhau. Những nguyên nhân xâu xa là do lòng tham lam, sân hận, si mê mà tạo ra, vì với họ cố chấp tự ngã quá lớn, cho mình đúng thì người khác là sai, mình thì tốt người ta thì xấu, muốn được việc về mình mặc kệ người khác… vì tánh hơn thua ấy gieo cho nhau biết bao đau khổ. Vì thế, Phật dạy Bồ tát tu hạnh Nhẫn nhục ba la mật đạt được 6 thứ năng lực:

1. Tâm vẫn thản nhiên trước những lời mắng chửi, Bồ tát được Trí lực bình đẳng như tiếng vang tuy bị người ta chửi mắng mà vẫn an nhiên chịu đựng không hề đáp lại. Ở đây, như tiếng vang nghĩa là âm thanh được thét lớn vào trong núi, hang động được vang dội lại. Bồ tát nghe tiếng mắng chửi cũng như thế vì không thật có.

2. Tâm vẫn thản nhiên khi bị người đánh đập, Bồ tát được Trí lực bình đẳng bóng trong gương, dù bị người ta đánh đập mà vẫn an nhiên chịu đựng, không đáp trả lại. Bóng trong gương nghĩa là y hệt như những hình bóng hiện ra trong tấm gương, đều là giả không phải thật.

3. Tâm vẫn thản nhiên trước sự bị bức não, Bồ tát được Trí lực bình đẳng như huyễn, dù bị người não hại mà tâm vẫn an nhiên chịu đựng không đáp lại. Như huyễn nghĩa là cũng như trò ảo thuật, điều không phải có thật.

4. Tâm vẫn thản nhiên trước sự tức giận, Bồ tát được Trí lực bình đẳng thanh tịnh bên trong, dù bị người tức giận quát mắng mà vẫn an nhiên chịu đựng, không đáp lại.

5. Tâm vẫn thản nhiên đối trước 8 pháp, Bồ tát được Trí lực bình đẳng thế pháp thanh tịnh, cho nên không bị 8 pháp của thế gian: “Lợi, suy, khen, chê, tâng bốc, dèm pha, khổ và vui” làm động tâm.

6. Phiền não không nhuốm, Bồ tát được Trí lực bình đẳng tập nhân duyên, cho nên tất cả phiền não đều không thể làm cho Bồ tát ô nhiễm.

Khi chúng ta quán chiếu tất cả điều là hư vọng không thật, thì khi ấy không còn tranh giành hơn thua, cũng như cái ta và cái của ta cũng vậy. Khi có cái ta và cái của ta thì tâm chấp giữ được sanh khởi, kéo theo hàng loạt tâm bất thiện cùng câu khởi và tạo nghiệp. Kinh giáo giới Lahula Đức Phật dạy:

“ Này Rahula, con hãy học theo hạnh của đất. Dù người ta đổ và rải lên đất những thứ tinh sạch và đẹp đẽ như hoa, nước thơm, sữa thơm, hoặc người ta đổ lên đất những thứ dơ dáy hôi hám như phân, nước tiểu và máu mủ, hoặc người ta khạc nhổ xuống đất thì đất cũng tiếp nhận tất cả những thứ ấy một cách thản nhiên, không vui vẻ mừng rỡ mà cũng không chán ghét tủi nhục. Cũng như thế, khi những cảm thọ khoái lạc hoặc buồn khổ phát sinh, con đừng để cho chúng làm nhiễu loạn tâm con và chiếm cứ lòng con”. (Đức Phật và Phật pháp– tác giả:Minh-Thiện, TrầnHữu Danh)

Đức Phật đã giáo giới La hầu la về tu hạnh nhẫn nhục theo tứ đại, và mõi mỗi người con Phật phải cần nên tập thực hành theo lời dạy này sẽ được hạnh phúc an vui, hóa giải oán thù trong cuộc sống.

Qua đó cho thấy, người biết nhẫn, biết nhường nhịn thì sẽ được mọi người tôn trọng cung kính. Người ấy, xả bỏ bản ngã sống biết kính trọng mọi người xung quanh, chia sẽ giúp đỡ mọi thứ, từ vật chất đến tinh thần, bởi người hạnh phúc cũng như mình được hạnh phúc. Vì thế, lợi ích của sự nhường nhịn thật lớn lao, mọi người ai cũng biết áp dụng nhường nhịn thương yêu, gia đình đâu cãi vã, xã hội đâu tranh chấp, đất nước nào có chiến tranh.

3. Thiếu vắng lòng vị tha

Thực trạng xã hội này nay không chỉ thiếu nhường nhịn và còn thiếu kém về lòng vị tha. Bởi vì, họ cho rằng đồng tiền là thước đo chuẩn mực cuộc sống, nên điều đó làm cho con người đối xử với nhau sòng phẳng đến mức bỏ quên tình nghĩa. Con giết cha, anh giết em, người với người sát hại không chút lương tâm, đó cũng là vì thiếu chất liệu từ bi, vắng mặt lòng vị tha.

Kinh Pháp Hoa có đoạn: “Đức Phật vì muốn cho chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến mà thị hiện nơi đời. Tấm lòng bao dung vị tha là vì người mà làm, Đức Phật vì chúng sanh mà thị hiện ra nơi đời, vì chúng sanh mà giáo hóa khắp đó đây, suốt 49 năm hoằng pháp không mệt mỏi, cũng chính vì tấm lòng vị tha mà Ngài đã đến Vesali để độ Tu Bạt Đà La, người đệ tử cuối cùng của Phật. Với hình ảnh đó cho thấy tinh thần Vô Ngã Vị Tha của Đức Phật thật cao cả rộng lớn biết bao, chư vị Bồ Tát sơ phát tâm hành Bồ tát đạo, cũng lấy chúng sanh làm gốc, nhìn nỗi khổ của chúng sanh cũng như nỗi khổ của chính mình, khi nào chúng sanh không còn khổ đau, khi ấy các Ngài mới thành Phật.

Thế gian vì sống thiếu lòng vị tha nên đã tranh giành, hơn thua, đấu đá lẫn nhau, miễn có lợi ích cho bản thân mà không màn đến tha nhân hay tội lỗi. Thông thường người đời sống vị Ngã hơn là vị Tha, bởi vì ai cũng thích có tiền, địa vị, danh vọng, ăn ngon, ngủ ấm… Nhưng có biết đâu, ngũ dục ấy đưa con người ta đi đến tội lỗi, đưa đến những việc làm vô nhân đạo, hại mình, hại người thật vô cùng nguy hiểm. Vì thế cần phải áp dụng lời Phật dạy ban rãi khắp đó đây cho người đời biết Ngũ dục (tài, sắc, danh, thực, thùy) là năm ngọn lửa lớn thêu đốt chúng ta, làm cho tâm tham, sân, si phát triển, không nghĩ thiện hay ác, khiến cho chúng ta sống vì mình hơn vì người. Vì thế, Bố thí là phương pháp tối hậu dắt dẫn chúng sanh đạt đến lòng vị tha hữu hiệu nhất, cho cái cần nên cho, giúp đỡ những gì cần giúp đỡ, luôn sống yêu thương bảo bọc lẫn nhau. Nếu ai đó xúc phạm hay gây đau khổ tổn hại đến ta thời cần quán xét, nguyên nhân, mục đích mà học làm như vậy, từ đó chúng ta xả bỏ nó. Người có tấm lòng càng rộng mở thì kẻ ấy xả bỏ chấp Ngã càng nhanh, yêu thương cùng khắp. Vì thế Bồ Tát phát nguyện tu hành vị tha là vì lòng đại từ bi của các Ngài, không sống vì mình, mà vì muốn tất cả chúng sanh đều được hạnh phúc.

4. Nuôi dưỡng cái tôi không đúng cách

Những ai trong cuộc sống dù ít hay nhiều với những việc làm, suy nghĩ đều liên quan đến cái ta, cái của ta… Vì ta là trung tâm của vũ trụ. Những nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống đều phục vụ cho ta, và muốn được tồn tại phát triển chúng ta cần phải đấu tranh sinh tồn, duy trì nòi giống. Vì thế, Ta rất quan trọng trong cuộc sống này.

Như vậy, chúng ta cần phải nuôi dưỡng cái Ta như thế nào cho đúng cách, và đúng với lời Phật dạy. Theo triết lý Phật giáo thì tất cả pháp có hình tướng điều là hư vọng, giả hợp giả tan. Nó sinh khởi là do nhân duyên hội tụ, khi nhân duyên thiếu vắng thì cũng tự động tan rã, đó là thật tế. Sự sinh diệt của các pháp liên tục không gián đoạn, không thêm, không bớt, không đầu không đuôi. Từ đó cho thấy cái thân vật chất không thật, chúng ta không thể làm chủ được nó, nó sanh diệt cũng theo quy luật tất yếu (sanh, lão, bệnh tử). Người ta vô minh nên cho nó là thật có rồi yêu quý thân này, chăm sóc chiều chuộng, lo lắng cho nó không gián đoạn, ấy thế mà nó vẫn bỏ ta ra đi. Vì chúng ta không làm chủ được nó nên gọi là Vô Ngã (không có gì là của ta), vì Vô Ngã nên vô thường, vì vô thường nên không có cái gì là ta hay của ta cả.

Người đời cho nó là thật, nên một ai đó dùng lời nói hay hành động xúc phạm đến cái thân này thì đau khổ, buồn rầu, tìm cách trả thù… rồi cũng từ đó mâu thuẫn sanh khởi, sát hại lẫn nhau không chút thương tâm, không những là ta mà cái của ta cũng lại chấp thật như vậy. Cái của ta, thuộc quyền sở hữu của ta, mất đi thì tiếc, có khi cái của ta quý giá hơn là ta nữa, đó là do sự nuôi dưỡng cái “Tôi” quá sai lầm.

Phàm là cuộc sống, nhu cầu về cái ta là rất cần thiết, nhưng cũng phải biết vừa chừng. Ở đây, Đức Phật dạy cho hàng xuất gia cũng như tại gia phải biết “thiểu dục tri túc”, “ăn mặc ở” đều vừa đủ, không nên vì những nhu cầu ngoài thân mà tạo tội lỗi, cũng như tạo nghiệp quả báo xấu, đưa đến kiếp này kiếp sau đau khổ. Hàng Phật tử tại gia cũng vậy, cần có sự nhận thức đúng về vấn đề này. Người làm kinh tế phải lấy đạo đức đặt lên hàng đầu, kinh doanh vì muốn tạo công ăn việc làm cho mọi người chứ chẳng phải là vì lợi nhuận mà bán rẻ lương tâm. Cần nuôi dưỡng cái ta cho đúng với hoàn cảnh xã hội hiện nay, cũng vì cái tôi, vì sự ngã mạn mà không chịu thua ai, không nhường nhịn bất cứ vấn đề gì, không nghĩ đến hậu quả, dẫn đến sát hại thương tâm, đó là điều vô đạo đức nhất trong xã hội.

Điểm quan trọng nhất ở bài viết là tinh thần Nhập Thế của hàng cư sĩ tại gia và xuất gia. Cốt lõi của người hành Bồ tát đạo là phải phát nguyện làm lợi ích cho chúng sanh, không kể đến thân mạng, chỉ một lòng giải quyết nỗi khổ niềm đau cho tha nhân đó là tinh thần Bồ tát hạnh. Phương tiện tu tập mà hàng Bồ Tát phải vận dụng như: Tứ nhiếp pháp, 37 Phẩm trợ đạo, Tứ thánh đế, Lục ba la mật… Bồ tát lấy chúng sanh làm đối tượng pháp tu để thực hành hạnh nguyện. Việc làm của một vị Bồ tát là Tự lợi và Lợi tha, trước lợi mình sau lợi người, muốn làm được như vậy người hành hạnh Bồ Tát cần có tấm lòng đại Từ Bi, vì chúng sanh mà hi sinh kể cả thân mạng, vợ con, thành quách tài sản.v.v…

Sở dĩ chúng sanh khổ đau là do vô minh, vì sự vô minh ấy nên mới có chấp ngã, từ đó tạo ra muôn ngàn đau khổ. Muốn có được hạnh phúc thật sự, thì mỗi con người chúng ta phải biết nhường nhịn lẫn nhau, nhờ nhẫn nại được tất cả những gì không vừa ý, xem nó như là gió thoảng mây bay, nhận thức rõ vô thường đó mới là chân hạnh phúc.

“Nhường một chút gió yên sóng lặn
Lùi một bước biển rộng trời cao”

Thứ hai là mở rộng lòng từ bi yêu thương, cho người niềm vui cũng như ta có được niềm vui, tạo cho người hạnh phúc như ta được hạnh phúc. Tấm lòng vị tha rộng lớn sẽ không chấp vào những vấn đề nhỏ nhặt, hơn thua ích kỷ.Từ đó, mọi người sống cởi mở với nhau hơn, nhà nhà an vui, nơi nơi hạnh phúc. Đừng chấp chặt cái “Tôi” bé nhỏ mà phải sống hết lòng vì mọi người xung quanh. Kẻ ích kỷ luôn sống trong sự cô quạnh, sẽ không được mọi người quan tâm giúp đỡ, vì thế chúng ta cần phải nuôi dưỡng lòng từ, như tục ngữ thường nói:

“Sống trong bể ngọc kim cương,
Không bằng sống giữa tình thương muôn người”.

TN. Diệu Hương


  1. ThíchMinh Châu (dịch), Kinh Tương Ưng, tập 1. (Tp.Hồ Chí Minh: VNCPHVN, 1991), 235.
  2. Thích Viên Trí.Phật giáo qua lăng kính xã hội.(Hà Nội: Hồng Đức, 2018), 15.


    Tài liệu tham khảo
    1. Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh
    《大方廣佛華嚴經》卷23:“十地品” (CBETA, T09, no. 278, p. 542a5)
    2. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Thích Trí Tịnh dịch. Hà Nội:Tôn Giáo, 2007.
    3. Kinh Tương Ưng, tập 1. Thích Minh Châu dịch. Tp.Hồ Chí Minh: VNCPHVN, 1991.
    4. Kimura Taiken. Nguyên thủy Phật giáo tư tưởng luân, Thích Quảng Độ dịch.Hà Nội: Tôn Giáo, 2012.
    5. Luận đại trí độ, tập I, II, III, IV, V. Thích Thiện Siêu dịch.Tp.Hồ Chí Minh: VNCPHVN, 1997.
    6. Pháp Xứng, Luận đại thừa tập Bồ tát học, Nguyên Hồng dịch. Tp. Hồ Chí Minh: Phương Đông, 2011.
    7. Thích Trí Siêu. Bồ tát hạnh.Hà Nội: Hồng Đức, 2015.
    8. Thích Viên Trí. Ấn Độ Phật giáo sử luận.Hà Nội: Hồng Đức, 2018.
    Thích Viên Trí. Phật giáo qua lăng kính xã hội, Hà Nội: Hồng Đức, 2018.

- Advertisement -
Latest news
- Advertisement -
Related news
- Advertisement -