Tư tưởng Thiền tông được Việt hóa của Thiền sư Minh Châu Hương Hải

87

  DẪN NHẬP

Thiền sư Minh Châu Hương Hải được biết đến là nhà thơ, nhà văn, nhà tư tưởng lớn ở thế kỷ XVII – XVIII. Điểm nổi bật của Thiền sư Minh Châu Hương Hải là tư tưởng Việt hóa, vận dụng tinh thần Phật giáo đời Trần một dòng Thiền thuần Việt nên hầu hết các sáng tác, dịch thuật, chú giải của Ngài đều dùng văn xuôi chữ Nôm nhiều hơn chữ Hán. Đọc ngữ lục của Ngài sẽ giúp ta dễ dàng nhận ra nhiều đặc điểm của Thiền Tông đời Trần như là tính dung hợp, tinh thần tùy tục, tư tưởng Thiền – Tịnh, Đốn ngộ tiệm tu và đặc biệt là tinh thần Thiền – giáo đồng hành… Những tư tưởng đó đều mang đậm tính dân tộc Việt, là tính chất riêng có của dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử. Đó chính là sự tiếp nối tư tưởng mà Ngài đã sử dụng để giảng dạy đồ chúng thông qua các tác phẩm dịch giải của mình.

 

NỘI DUNG

1. Vài nét về Thiền sư Minh Châu Hương Hải

Thiền sư Minh Châu Hương Hải tên tục là Tổ Cầu Tự, quê quán ở xã Áng Độ, huyện Chân Phúc, phủ Đức Quang, tỉnh Nghệ An. Thiền sư lúc nhỏ thông minh hiếu học, đọc hết các sách, năm mười tám tuổi thi đỗ khoa cử, được bổ vào văn chức ở Thị nội và phong làm tri phủ Triệu Phong. Năm 25 tuổi, Ngài tìm đến Thiền sư Viên Cảnh Lục Hồ và Đại Thâm Viên Thật học đạo được đặt pháp danh là Huyền Cơ Thiện Giác, pháp tự Minh Châu Hương Hải. Ba năm sau từ quan xuất gia rồi giong thuyền ra biển Nam Hải, núi Tiêm Bút La lập am tranh tu hành. Trải qua 8 tháng công phu Thiền định thâm sâu, chấn động quỷ thần, bọn ma quỷ nhiều lần đến quấy phá đều được Ngài nhiếp phục. Thiền sư nổi tiếng với việc dùng Thiền pháp trị cho người, được chúa Hiền và các quan đại thần tin dùng thỉnh về để phò vua giúp nước, lập Thiền Tịnh viện ở núi Quy Kính cho trụ trì. Nhưng duyên giáo hóa không thuận bị chúa Nguyễn nghi ngờ vô cớ, từ đó Thiền sư cùng đệ tử vượt biển ra hoằng hóa xứ Đàng ngoài rất hưng thịnh và phục hưng dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử.

Thiền sư là một nhà văn nhà thơ, nhà tư tưởng lớn ở thế kỷ XVII – XVIII. Tư tưởng thiền của Ngài mang đậm tính dân tộc Việt là sự kết hợp hài hòa giữa các hệ tư tưởng. Trong lúc tình hình xã hội đang phức tạp, trình độ người dân bất đồng, Ngài đã uyển chuyển dung hòa các hệ tư tưởng Thiền giáo đồng hành, Đốn ngộ – Tiệm tu, để phù hợp với căn cơ của tín đồ và hoàn cảnh xã hội.

2. Tinh thần Thiền giáo đồng hành

Thiền tông bắt đầu từ tích Niêm hoa vi tiếu, Đức Phật Thích Ca trên hội Linh Sơn đưa cành hoa sen Ma Ha Ca Diếp mỉm cười, từ đó tổ tổ tương truyền đến tổ thứ 28 là Bồ Đề Đạt Ma sang Trung Hoa năm 520, Phật giáo Thiền Tông Trung Hoa bắt đầu được kiến lập, từ đó phát triển mạnh mẽ thành năm tông bảy phái.

Tông chỉ Thiền Tông bắt đầu từ bài kệ:

Bất lập văn tự
Giáo ngoại biệt truyền
Trực chỉ nhân tâm
Kiến Tánh thành Phật.

Chư tổ Thiền tông Trung Hoa khi thành lập tông phong tiếp nhận đồ chúng thường sử dụng những cơ phong đặc biệt để khai thị người học như đánh, hét, đối đáp Thiền ngữ, khán thoại đầu, tham công án, không chú trọng kinh giáo, cho rằng kinh giáo chỉ làm tăng trưởng kiến giải trở ngại cho việc hành Thiền. Nhưng phương pháp ấy chỉ thích hợp với những hành giả có căn cơ bén nhạy, chủng duyên sâu dày mới có thể tiếp nhận.

Ngược lại, những người căn cơ bình thường không có chỗ nương tựa để học hiểu Phật pháp. Vì lẽ đó, vào thế kỷ VI, Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi đưa Thiền tông Trung Hoa sang Việt Nam theo lối Thiền giáo song hành, đến thế kỷ thứ IX có Thiền sư Vô Ngôn Thông và sau đó là Thiền sư Thảo Đường thế kỷ XI mang nhiều sắc thái khác nhau. Chư vị Tổ Thiền tông Việt Nam tuy cũng sử dụng những phương thức khai thị đặc biệt của Thiền tông nhưng các Ngài vẫn không rời giáo. Thiền giáo đồng hành chính là điểm đột phá trong đường lối tu học của Phật giáo Việt Nam nói chung và của dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử nói riêng. Có một số ý kiến cho rằng tuy Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm trước Trung Hoa, nhưng do đất nước Việt Nam bị đô hộ cả 1.000 năm cùng với sự giao lưu tiếp biến văn hóa. Vì vậy, sự ảnh hưởng nền văn hóa Trung Hoa đến dân tộc Việt Nam là rất lớn. Giáo sư Lê Mạnh Thát đã có nhận xét: “Phật giáo Việt Nam chưa bao giờ là một bản sao của Phật giáo Trung Quốc, chưa bao giờ được Phật giáo Trung Quốc gầy dựng nên. Ngược lại, trong lịch sử Phật giáo Việt Nam đã từng gầy dựng nên Phật giáo Trung Quốc.”1 Chư vị Tổ sư Việt Nam luôn nỗ lực lột bớt những sắc thái ngoại lai, mong muốn dựng lập một nền Phật giáo đậm đà bản sắc dân tộc, thể hiện tinh thần khế lý khế cơ đưa Phật giáo đến với mọi tầng lớp nhân dân.

Triều đại nhà Trần, vua Trần Nhân tông đã dung hợp ba dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường tạo nên một Thiền phái mang sắc thái riêng của người Việt. Các Thiền sư đời Trần ngoài việc tọa Thiền còn dịch giảng rất nhiều bộ kinh, luật, luận. Trần Nhân Tông giảng Truyền đăng lục, Thiền sư Pháp Loa giảng kinh Niết-bàn, Lăng già, Pháp hoa và Hoa nghiêm rất nhiều lần, Thiền sư Huyền Quang giảng kinh Lăng nghiêm. Các Ngài còn truyền Tam quy Ngũ giới, Bồ tát giới, dạy người tu Thập thiện, làm lành lánh dữ. Thiền sư Minh Châu Hương Hải kế thừa sự nghiệp của chư vị Tổ sư, là người mồi đèn nối lửa đã vận dụng tư tưởng này một cách tích cực. Ngài đã thể hiện quan điểm của mình trong Giải Kim cương kinh lý nghĩa: “Thiền gia dầu bỏ, ắt lỗi ý kinh. Khác nào chưa đến ngạn mà đã bỏ thuyền, há mình chẳng chìm trong nơi khổ hải?”2 Nương vào kinh điển tu tập rõ được lý Thiền, không nên chỉ dựa vào khẩu hiệu “giáo ngoại biệt truyền” mà cần phải học kinh điển.

Bằng sự chứng ngộ lý Thiền sâu xa, Thiền sư tuy lấy tông chỉ “Bất lập văn tự giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật” làm chủ đạo nhưng vẫn không rời kinh điển. Song song với việc hành thiền, Ngài kết hợp soạn dịch, sớ giải, giảng kinh, thuyết pháp, giúp cho người học hiểu sâu kinh điển, ứng dụng vào đời sống tu tập để công phu ngày càng thăng tiến, đạt đến giác ngộ giải thoát.

Xã hội Việt Nam giai đoạn thế kỷ XVII – XVIII đất nước đang trong cuộc chiến tranh giành quyền lực, nhân dân lầm than, trình độ quần chúng thấp kém nhiều căn cơ khác nhau nên việc học hiểu kinh điển là điều cần thiết. Thiền sư là những bậc chân tu thật học, là người đã liễu ngộ được Thiền lý có khả năng làm sáng tỏ một cách rõ ràng những lời thâm diệu của Đức Phật, chính xác hơn giúp cho những người căn cơ chậm lụt tiếp nhận được yếu chỉ sâu xa qua lời dạy của Phật Tổ. Do đó mà các Ngài dịch giải kinh điển, thuyết pháp, giáo hóa đồ chúng, đây cũng là nét riêng biệt của Phật giáo Việt Nam. Lê Mạnh Thát trong Toàn tập Minh Châu Hương Hải có nhận xét:

“Minh Châu Hương Hải đã nằm trong dòng chủ lưu của Thiền Phật giáo Việt Nam, không bị ảnh hưởng nhiều của các dòng Thiền Trung Quốc. Nói khác đi, một trong những nét khác biệt giữa Thiền Trung Quốc và Thiền Việt Nam ngay từ đầu cho đến những phát hiện về sau là không loại bỏ việc học và tụng niệm các kinh điển Phật giáo, trong khi vẫn tự nhận mình là tu học theo thiền.”3

Theo cái nhìn của Thiền Việt Nam, tất cả kinh điển đều có thể làm sáng tỏ lý thiền, các Thiền sư khi ngộ lý Thiền thì cũng có thể thông suốt kinh điển qua cái nhìn của Thiền gia. Lục Tổ Huệ Năng là người không biết chữ nhưng khi Ngài đã liễu ngộ được lý Thiền thì tất cả kinh điển Ngài đều thông suốt.

Theo cái nhìn của Thiền Việt Nam tất cả kinh điển đều có thể làm sáng tỏ lý thiền, các Thiền sư khi ngộ lý Thiền thì cũng có thể thông suốt kinh điển qua cái nhìn của Thiền gia. Lục Tổ Huệ Năng là người không biết chữ nhưng khi Ngài đã liễu ngộ được lý Thiền thì tất cả kinh điển Ngài đều thông suốt.

Các vị Thiền sư khi đã liễu ngộ thì tâm rỗng lặng sáng suốt, hằng sống với bản tâm thanh tịnh nên khi đọc kinh sẽ hiểu ý nghĩa sâu xa ngoài câu lời, do đó càng giảng linh động sáng tạo giúp người nghe dễ dàng thâm nhập hơn. Do đó, các Thiền sư đời Trần cho đến về sau Thiền sư Minh Châu Hương Hải đã gia tâm dịch giải kinh điển sang chữ Nôm và trước tác thơ văn bằng tiếng Việt, để lại kho tàng quý giá cho nền văn học Việt Nam cho tới ngày nay. Những tác phẩm mà Thiền sư đã trước tác gồm 30 quyển với 20 tác phẩm đa số đều dịch giải các kinh, hiện tại đã mất chỉ còn lại 5 tác phẩm (Lê Mạnh Thát, 2000).

Thiền sư Minh Châu Hương Hải tuy được truyền thừa từ phái Thiền Lâm Tế nhưng không bị ảnh hưởng bởi các phương thức khai thị đánh, hét của Thiền Trung Quốc mà mang tư tưởng thuần Việt, như lời nhận xét của Lê Mạnh Thát trong Toàn tập Minh Châu Hương Hải:
“Điều này chứng tỏ Ngài Minh Châu Hương Hải đã nằm trong dòng chủ lưu của Thiền Phật giáo Việt Nam, không bị ảnh hưởng nhiều của các dòng thiền Trung Quốc”, hay “trong lịch sử Thiền tông Trung Quốc hầu như không bao giờ gặp một vị tổ nào vừa là Thiền sư vừa là dịch giả.”4

Tinh thần Thiền giáo đồng hành của Thiền sư Minh Châu Hương Hải ảnh hưởng nhiều từ dòng Thiền Trúc Lâm đời Trần bằng cách dịch, giải kinh điển, trước tác thơ văn. Bằng chứng là vua Trần Thái Tông tuy ở ngôi cao, công việc bề bộn mà vẫn công phu sáng tỏ lý Thiền. Trong bài tựa Thiền Tông Chỉ Nam vua đã tự thuật: Trẫm thường đọc kinh Kim Cang đến câu: ‘Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm’, trong khoảng để quyển kinh xuống trầm ngâm, bỗng nhiên tự ngộ. Liền đem chỗ ngộ này viết thành bài ca, đề tên là Thiền Tông Chỉ Nam5. Sơ tổ Trúc Lâm cũng đã dịch, giảng các kinh, luật, luận sang chữ Nôm và trước tác nhiều tác phẩm như Cư trần lạc đạo phú, Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca, Nhị tổ Pháp Loa cũng luận giảng nhiều kinh, Tam tổ Huyền Quang có tác phẩm Vịnh Vân Yên tự phú, đến Thiền sư Minh Châu Hương Hải cũng dịch rất nhiều kinh điển ra chữ Nôm và trước tác thơ văn bằng Quốc ngữ… Các Ngài đã để lại một kho tàng văn học rất lớn cho dân tộc ta. Điều này chính là thể hiện tinh thần tự lực tự cường của dân tộc.

3. Đốn ngộ tiệm tu

Khái niệm đốn ngộ và tiệm ngộ xuất phát từ Thiền tông Trung Hoa, khi Tổ Bồ Đề Đạt Ma sang Trung Hoa lần lượt truyền thừa đến đời thứ sáu là Lục tổ Huệ Năng. Đến đây, Thiền tông chia làm hai phái Nam tông (đốn ngộ) đại diện là Lục tổ Huệ Năng và Bắc tông (tiệm ngộ) đại diện là Thần Tú. Nguyên nhân của sự phân chia Nam và Bắc là do sự bất đồng về quan điểm giác ngộ giữa hai vị đệ tử của Ngũ tổ Hoằng Nhẫn là Thần Tú và Huệ Năng, khi Ngũ tổ muốn tìm người nối pháp nên bảo trình kệ. Nội dung hai bài kệ của Thần Tú và Huệ Năng được nhắc đến trong kinh Pháp bảo đàn (Thích Thanh Từ, 2012).

Theo Thần Tú người tu hành muốn đạt đến giác ngộ phải luôn luôn lau chùi gương tâm của mình không để cho dính bụi, luôn luôn học hỏi kinh điển, cần đến phương tiện để giác ngộ dần dần, từ thấp đến cao (tiệm ngộ) tức “mượn kinh giáo để ngộ tông chỉ”. Trong khi Thần Tú đề cao tiệm ngộ thì Lục tổ Huệ Năng lại xiển dương đốn ngộ. Phương pháp đốn ngộ của Lục tổ Huệ Năng thì nhanh chóng, đột ngột. Khi ánh sáng trí tuệ lóe lên tức giác ngộ, nên không cần đến ngôn ngữ, ngôn ngữ văn tự chỉ làm cho hành giả thêm dính mắc.

Xuất phát từ quan điểm ấy nên đã hình thành nên hai phương pháp giác ngộ đối lập nhau. Theo Lục tổ: “Xưa nay chánh giáo không có đốn tiệm, tánh người tự có lợi và độn, người mê thì lần lần khế hợp, người ngộ thời chóng tu, tự biết bản tâm, tự thấy bản tánh, tức là không có sai biệt, do đó nên lập giả danh đốn, tiệm”6. Giáo pháp xưa nay vốn không có đốn tiệm, nói đốn nói tiệm cũng chỉ là giả danh, tạm lập bày. Người ngộ khi nghe liền được khế hợp, người mê thì phải tiệm tu nhưng đích đến là một, chỉ tùy vào căn cơ mà lập bày phương tiện có mau có chậm. Cho nên, Trần Thái Tông người đặt nền móng cho Thiền phái Trúc Lâm đã nói trong bài tựa Lục thời sám hối khoa nghi: “Rộng nguyền đại trí, mở cửa từ bi. Tùy đường mà chỉ lối về, liệu bệnh mà cho thuốc chữa.”7

Trong Giải Kim cương kinh lý nghĩa Thiền sư Minh Châu Hương Hải nói: “Ví bằng sang sông, đã sang sông rồi, ắt chẳng dùng thuyền. Dầu chưa sang sông, há chẳng dùng thuyền, sao đến được ngạn? Ví bằng người làm đạo, đã liễu ngộ, chẳng khá chấp rằng có Phật pháp. Dầu chưa liễu ngộ, chẳng khá rằng không Phật pháp.”8 Người đã đốn ngộ đến được bờ giác không cần dùng phương tiện, nhưng người chưa đốn ngộ hoặc đốn ngộ từng phần phải cần đến phương tiện mới có thể sang sông đến bờ giác ngộ giải thoát.

Pháp tu đốn tiệm như thế không chỉ là quan điểm của Trần Thái Tông hay Minh Châu Hương Hải mà ngay từ đời Lý Thiền sư Bản Tịch thuộc thế hệ thứ 13 dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã rõ được pháp đốn giáo và tiệm giáo “Sư không còn vướng mắc vào việc hữu vô, gồm rõ đốn tiệm.”9 Trên văn bia Chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh cũng có ghi: 雖 敎 分 於 頓 漸; 隨 機 悟 有 淺 深10 (Tuy giáo phân ư đốn tiệm; tùy cơ ngộ hữu thiển thâm. Dịch: Tuy có phân ra đốn giáo và tiệm giáo, tùy theo căn cơ mà chỗ ngộ có cạn, sâu), tùy theo căn cơ mà dẫn dắt người học bằng những cách khác nhau.
Theo Thiền sư Minh Châu Hương Hải, đốn ngộ là thấy được tự tánh hay Phật tánh: “Mặt Thầy sẽ thấy trên mặt mình.” Thiền sư còn nói về điều đó như sau: Nếu biết xoay ánh sáng soi lại chính mình, bỏ cảnh mà quan sát tâm, thì mắt Phật sáng rõ mà bóng nghiệp thành không, Pháp thân hiện ra mà những dấu vết của trần dứt tuyệt. Pháp thân hiện ra đó là đốn ngộ, phá bỏ được một phần chấp ngã, chấp pháp, từ đó tiếp tục tiệm tu cho đến khi chứng ngộ hoàn toàn Pháp thân. Như vậy, sau khi đốn ngộ thấy được phần nào pháp thân, hành giả cần phải tiếp tục tiệm tu cho đến khi sống được trọn vẹn với pháp thân đó. Rõ ràng, Thiền sư Minh Châu Hương Hải là đệ tử nối pháp dòng Thiền Lâm Tế, theo truyền thừa thì thuộc phái Tào Khê của“Hãy nhìn sáu tổ năm tông, Thiền hà muôn phái một dòng Tào Khê.”11 Thế nhưng khi ứng dụng thực hành và giáo hóa đồ chúng lại kết hợp cả phương pháp đốn ngộ của Huệ Năng và tiệm ngộ của Thần Tú.

Tuy chịu ảnh hưởng nhiều từ Thiền tông Trung Hoa nhưng Phật giáo Việt Nam nhất quyết không là bản sao của Thiền Trung Hoa. Người Việt tiếp nhận phương pháp tu tập của Phật giáo Trung Hoa nhưng đã uyển chuyển để phù hợp với văn hóa xã hội Đại Việt, đề cao đốn ngộ nhưng vẫn không gạt bỏ tiệm ngộ ra khỏi phương pháp tu hành mà tùy duyên hóa độ. Đối với hàng căn cơ thấp kém, một khi nghe không thể đốn ngộ thì phải phương tiện dẫn dắt để họ nhận ra được bản tâm, đó là phương pháp tiệm ngộ. Vì thế, hầu hết thơ văn của Thiền sư Minh Châu Hương Hải đều mang tính giản dị, dễ đọc dễ hiểu, Ngài không lý luận nhiều, cũng ít dùng đến những thuật ngữ bí ẩn của Thiền tông giúp cho người học dễ tiếp cận. Dù là bằng phương cách nào thì mục đích cũng là nhắm đến tuệ giác, chỉ khác nhau ở phương thức hành trì mà thôi.

KẾT LUẬN

Thiền Phật giáo Việt Nam tuy được tiếp thu và có ảnh hưởng từ Thiền Trung Hoa nhưng không rập khuôn theo Thiền Trung Hoa mà có sự uyển chuyển để phù hợp với hoàn cảnh xã hội và con người. Sự kết hợp giữa phương pháp đốn ngộ và tiệm tu, tuy có phần ảnh hưởng từ Phật giáo Trung Hoa nhưng khi xuất hiện ở Việt Nam đã kết hợp thêm Thiền với Giáo, tạo nên một sắc thái mới khác hẳn với Thiền Phật giáo Trung Hoa, đó là bản sắc riêng, độc đáo của Phật giáo Việt Nam.


Từ chỗ không tách rời Thiền với giáo đã tạo nên được sự hài hòa trong phương pháp tu tập, không xa rời hiện thực đất nước, giúp cho Phật giáo Việt Nam đứng vững trong lòng xã hội.
Thiền sư Minh Châu Hương Hải kế thừa tư tưởng Phật giáo đời Trần, tiếp thu và làm phát triển các hệ tư tưởng Thiền và giáo, đốn ngộ và tiệm tu. Đặc biệt là tinh thần Việt hóa cũng được triển khai triệt để, điển hình là trong sáng tác, và trong cách giảng dạy của Ngài đã thể hiện được tính dân tộc cao, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc.

ThS. Thích Nữ Trí Truyền


  1. Lê Mạnh Thát (2000), Toàn tập Minh Châu Hương Hải, NXB. Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 73.
  2. Toàn tập Minh Châu Hương Hải, sđd, tr. 247 – 248.
  3. Toàn tập Minh Châu Hương Hải, sđd, tr.67.
  4. Toàn tập Minh Châu Hương Hải, sđd, tr.67.
  5. Viện văn học (1998), , tập 2, NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr.25.
  6. Thích Thanh Từ (2012), Kinh Pháp bảo đàn giảng giải, NXB. Tôn giáo, tr. 197.
  7. Lê Mạnh Thát (2006), Trần Nhân Tông toàn tập, NXB. Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 415.
  8. Toàn tập Minh Châu Hương Hải, sđd, tr. 265.
  9. Lê Mạnh Thát (2005), Nghiên cứu về Thiền uyển tập anh, NXB. Phương Đông, tr. 312.
  10. https://langduytinh.com/van – bia – chua – sung – nghiem – dien – thanh/
  11. Toàn tập Minh Châu Hương Hải, sđd, tr. 395.


    Tài liệu tham khảo
    1. 香海禪師語籙, Bản Hán Văn, Bản Sùng Khánh do Thư viện Huệ Quang phát hiện và phục chế in trong Huệ Quang Phật điển tùng san mang ký hiệu HQPĐTS.33
    2. Lê Mạnh Thát (2000), Toàn tập Minh Châu Hương Hải, NXB. Thành phố Hồ Chí Minh.
    3. Lê Mạnh Thát (2004), Trần Thái Tông toàn tập, NXB. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
    4. Lê Mạnh Thát (2005), Nghiên cứu về Thiền uyển tập anh, NXB. Phương Đông.
    5. Lê Mạnh Thát (2006), Trần Nhân Tông toàn tập, NXB. Thành phố Hồ Chí Minh.
    6. Lê Quý Đôn (2013), Kiến Văn tiểu lục, quyển 1, 2, NXB. Trẻ, NXB. Hồng Bàng.
    7. Nguyễn Duy Hinh (1999), Tư tưởng Phật giáo Việt Nam, NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội.
    8. Thích Thanh Từ (2012), Kinh Pháp Bảo Đàn giảng giải, NXB. Tôn giáo.
    9. Viện văn học (1998), Thơ văn Lý – Trần, tập 1, 2, 3, NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội.
    10. https://langduytinh.com/van – bia – chua – sung – nghiem – dien – thanh/