Tư tưởng Thiền học Phật giáo thời Trần

1256

  Tóm tắt
Đặc sắc của Phật giáo đời Trần là tính nhập thế tích cực “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác”. Đạo không tách rời đời và đời cũng không thiếu vắng đạo, cả hai đã trở thành một hợp thể linh động, sáng tạo và diệu dụng trong mọi hoàn cảnh. Với tư tưởng Phật tại tâm, học thuyết cư trần lạc đạo,… Dân tộc Việt Nam đã tìm thấy được ở Phật giáo một hệ tư tưởng mới để làm tôn chỉ hoạt động thiền phái. Phật giáo đã trở thành cốt tuỷ và hoà nhập với nền văn hóa dân tộc, nói theo cách nhà Phật là như nước với sữa. Do đó, đạo Phật hoàn toàn phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của một dân tộc khao khát hoà bình, yêu độc lập, tự do.

Góp phần ích đạo lợi đời Tư tưởng Thiền học Phật giáo thời Trần đã có những đóng góp xứng đáng cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Giành lại độc lập cho dân tộc với phương châm “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội”.

Tham luận cũng nêu lên bài học lịch sử nhằm giúp thế hệ tiếp nối kế thừa và vận dụng có hiệu quả của mỗi người con Phật ở đời mà vui với đạo, càng làm sáng tỏ tinh thần tùy duyên bất biến.

Từ khóa: Tư tưởng Thiền học Phật giáo thời Trần.

Lời dẫn

Thiền nói chung là một phương pháp làm an tịnh, hay điều hòa thân tâm. Nó giúp người hành Thiền khai phóng nguồn nội lực tiềm tàng vốn có của tự thân, giúp vận dụng hữu hiệu nguồn năng lực này để thắng vượt chính mình và băng qua những khúc quanh của cuộc đời. Phần đông chúng ta đều cho rằng, đạo Phật có mặt ở Việt Nam là do du nhập từ Trung Quốc, nên Thiền học Việt Nam cũng cùng chung số phận như thế. Mọi người đều không ngờ rằng trước khi Tổ Đạt Ma đưa Thiền tông sang Trung Quốc thì ở Việt Nam đã có Thiền học gần ba thế kỷ, Thiền học lại được truyền ngược lại từ Việt Nam sang Trung Quốc. Người phát huy nền Thiền học đầu tiên, cũng như hoằng truyền đạo Phật tại Việt Nam chính là Thiền sư Khương Tăng Hội.1

Phật giáo tồn tại và phát triển qua nhiều thời đại, nhưng nhìn chung vào thời đại Lý Trần thì phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử quốc gia tự chủ Đại Việt. Đặt biệt nhất là thời Trần, cuộc đời của các vị Thiền sư cũng như cuộc sống sinh hoạt trong chùa gắn bó chặt với đời sống dân tộc. Theo những thăng trầm của đất nước, Thiền học Việt Nam xuất hiện không ít những nhân vật kiệt xuất, có tư tưởng độc đáo đầy sáng tạo, đóng góp lớn lao cho Thiền tông Việt Nam nói chung và mang tính khai sáng đối với Thiền phái “Trúc Lâm Yên Tử” đời Trần nói riêng. Đây là Thiền phái tiêu biểu của Phật giáo Việt Nam và Thiền tông Việt Nam. Từ tư tưởng ấy, chúng ta thấy được hình ảnh các Thiền sư thời này là con người đầy tự tin, hào hùng, phóng khoáng và trong sáng được xem như nét đẹp tiêu biểu của tinh thần thời đại. Đó là hình ảnh đầy hiên ngang, khí phách trên chiến địa, nhưng vừa có những giây phút lắng lòng, trầm mặc nghe tiếng chuông chùa xa xa vọng về mà xuất khẩu nên những áng thơ văn tuyệt tác.

Tìm hiểu “Tư tưởng thiền học Phật giáo thời Trần” để tìm thấy những tư tưởng đặc sắc. Từ đó, rút ra được bài học quý báu trên bước đường tu học giải thoát của tự thân. Dựa trên các cơ sở tài liệu mang tính nghiên cứu như: Thiền học thời Trần của Ban Phật giáo Việt Nam – Ban Phật học chuyên môn, do Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam, ấn hành năm 1992; Việt Nam Phật giáo sử luận, Tập 1, của Nguyễn Lang, Lá bối, Sài Gòn, 1974…, người viết đã thực hiện bài nghiên cứu này.

Khái quát Phật giáo Thiền tông đời Trần

Phật giáo thời Lý, đã thể hiện sự dung hòa của cả Thiền, Mật và Tịnh, trong đó Thiền tông vẫn là yếu tố chủ đạo. Đó là đạo Phật rất đại chúng, góp phần tạo nên sự hưng thịnh cho triều đại nhà Lý về nhiều mặt. Đáng tiếc là về cuối đời Lý, đạo Phật lại có biểu hiện suy thoái. Năm 1198, Tể tướng Đàm Dĩ Mông tâu với vua Lý Cao Tông: “Đương nay số Tăng đồ và phu dịch ngang nhau. Chúng quy kết bè lũ, lập càn người chủ, tụ họp từng bọn làm nhiều điều ô uế…”2

Sang đầu đời Trần, sự thay đổi của thời đại đã thổi một luồng không khí mới khiến Phật giáo trở lại trong sạch và nhập thế. Các nhà Thiền học uyên thâm như: Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng sĩ, Trần Nhân Tông… đều là những người xông pha trận mạc, lập bao chiến công hiển hách. Đối với các Thiền sư cũng như tất cả người thích Thiền lúc bấy giờ, Phật giáo là đạo Phật hết sức gần gũi và gắn bó.

Thiền tông Việt Nam thời Trần, ngoài tôn chỉ chung của Thiền tông là “phá chấp” “đốn ngộ” (“kiến tính” bằng con đường trực giác), “tâm truyền”, còn có một số nét riêng như:
– Thiền được đưa vào cuộc sống, gắn bó với cuộc sống, phục vụ nhân dân. Nhiều Thiền sư trong giai đoạn này chọn lối sống cư sĩ, nhưng khi đất nước cần thì sẵn sàng tham chính, mặc áo giáp ra trận, vừa hành đạo vừa làm việc đời. Đạo Phật trở thành thứ đạo lý để nuôi dưỡng chân tính, tu dưỡng nhân cách của con người, giúp họ an nhiên tự tại, vui sống, tự tin vào bản thân.

– Thiền dung hợp yếu tố tích cực của cả Nho giáo và Đạo giáo để giúp con người phát triển toàn diện, phù hợp với con đường phát triển của thời đại. Thiền dung hợp với cả với Tịnh độ, Mật tông, hòa cùng tín ngưỡng dân gian bản địa để phù hợp với thực tiễn và mang tính Đại chúng.

Nói chung, Phật giáo thời Lý Trần là hệ tư tưởng phù hợp với đạo lý và tâm lý của con người Đại Việt, là một trong những yếu tố giúp Đại Việt khởi sắc, vừa góp phần tạo lòng tin cho mỗi người, vừa khuyến khích con người quay trở về với chân tâm của mình. Đó là đạo Phật đầy sức sống, không hề hư vô, yếm thế, không thoát ly khỏi đời sống. Trở thành hệ tư tưởng được nhiều người chọn để thể hiện trong thơ văn, tạo nên cho thời đại Lý – Trần một dòng văn học đặc biệt mà mỗi tiêu đề là một khám phá thú vị.

Sự hình thành Thiền phái Trúc Lâm

Nói đến Phật giáo đời Trần không thể không nhắc đến sự hình thành của phái Thiền Trúc Lâm – phái Thiền của Phật giáo Việt Nam. Người chính thức khai sáng và được xem là Tổ thứ nhất của phái Thiền này là đức vua Trần Nhân Tông. Song tư tưởng của phái Thiền này thì đã bắt nguồn từ nhiều bậc thầy trước đó như Trần Thái Tông, Đại Đăng, Tiêu Dao, gần nhất là Tuệ Trung Thượng sĩ – một Thiền gia với tư tưởng đặc biệt phóng khoáng, cởi mở, có thể xem là đại biểu cho phong thái Thiền tông đời Trần. Trên cơ sở kế thừa Thiền tông đời Lý, dung hòa “tiệm ngộ” và “đốn ngộ”, chắt lọc sự tinh túy của Nho giáo và Đạo giáo, Phật giáo đời Trần đã tạo nên một đạo Phật có đặc điểm riêng, phù hợp với người Đại Việt.

Đến thời Trần Nhân Tông, Phật giáo Việt Nam đã trở thành Nhất tông, đó là Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Có thể xem Thiền sư Thường Chiếu là gạch nối giữa Phật giáo thời Lý và Phật giáo thời Trần, người đặt nền móng cho sự thống nhất Phật giáo Việt Nam; chính vua Trần Thái Tông đã dùng từ Nhất Tông để tôn xưng Quốc sư Trúc Lâm. Thiền sư Hiện Quang (vị khai sơn phái Yên Tử), Quốc sư Đạo Viên (Viên Chứng – còn gọi là Quốc sư Trúc Lâm), Đại Đăng Quốc sư, Thiền sư Tiêu Dao (Phúc Đường), Tuệ Trung Thượng sĩ và vua Trần Nhân Tông là những người đóng góp tích cực để Phật giáo Việt Nam trở nên thống nhất. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, Phật giáo Việt Nam thống nhất từ Trung ương đến địa phương. Tăng chúng trong cả nước đều được cấp Tăng tịch. Pháp Loa (Nhị Tổ Trúc Lâm Yên Tử) là người được vua Trần Anh Tông cấp Tăng tịch đầu tiên, ông đứng ra tổ chức Giáo hội và thiết lập sổ bộ Tăng Ni cả nước. Theo sử cũ, sổ Tăng Ni có tên trong sổ bộ chính thức đã lên tới 15.000 người. Nhị Tổ đã làm cho Trúc Lâm Yên Tử trở thành trung tâm Phật giáo Việt Nam, một nơi lý tưởng, thu hút đông đảo Tăng Ni trong cả nước về đây tu học và tìm đường giải thoát, vì vậy nhân gian đã truyền tụng câu ca:

Dù ai quyết chí tu hành,
Có về Yên Tử mới đành lòng tu.

– Tinh thần tùy duyên nhập thế

Nhập thế, theo cách định nghĩa của Đại từ điển Tiếng Việt thì đó là vào gánh vác việc đời, không xa lánh đời. Ví dụ, các nhà nho nhập thế, các nhà Sư nhập thế.3

Khái niệm nhập thể nhập vào đời sống tâm thức người Việt Nam ngay từ khi đạo Phật du nhập vào. Chính Mâu Tử đã đưa ra khái niệm nhập thế như sau: “Ở trong nhà thì hiếu thảo với cha mẹ, ra ngoài thì cứu dân, cứu nước, khi ngồi một mình thì tự hoàn chỉnh bản thân”. Do đó, khái niệm nhập thế không chỉ dành riêng cho Nho giáo như một vài ý kiến của các trường phái Nho gia thường nói. Thật ra khái niệm nhập thế đã được đức Phật nói từ lâu: “Này các Tỳ kheo, vì hạnh phúc, an lạc cho quần sanh, vì lợi ích cho chư thiên và loài người, hãy đi mỗi người một ngã, đừng đi hai người trên một đường, vì lòng thương tưởng cho đời hãy đem Chánh pháp đến gieo rắc khắp nơi.”

Trong các Thiền đường Việt Nam khái niệm nhập thế được hiểu: “Phù xuất gia giả, phát túc siêu phương, tâm hình dị tục, thiệu long thánh chúng, chấn nhiếp ma quân, thượng báo tứ ân, bạc tế tam hữu” (Phàm là người xuất gia, bước đi một bước vượt đến chân trời cao rộng, hình tướng và tâm hồn khác với người thế tục, làm cho dòng thánh hưng long, nhiếp phục ma quân để trên báo đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ cho ba đường).4

Đặc điểm to lớn nhất của Phật giáo thời Trần là đi đôi với hướng nội, Phật giáo thời này mang tinh thần nhập thế sâu sắc. Nghe lời Quốc sư, Thái Tông vừa lo việc triều chính vừa học đạo, hành Thiền. Ông hiểu rõ rằng đạo bất viễn nhân, nên đạo phải được thể nghiệm ngay trong lòng cuộc đời, lấy chúng sinh làm đối tượng để phụng sự, và đời sống môi trường thiết yếu cho sự hành Thiền. Bởi vậy mà các vua đầu Trần, đã lấy ý muốn của nhân dân làm ý muốn của mình. Đất nước cần, có thể lên ngựa cầm quân xông pha trận mạc, để cứu an cho dân, cho nước.5

Đối với tinh thần nhập thế của thời Trần là một Phật giáo nhập thế liên hệ mật thiết với chính trị và văn hóa xã hội. Con người của Phật giáo thời Trần rất thích một phong trào như thế đó và đó là lý do chính khiến thiền dòng thiền Trúc Lâm được thành lập. Truyền thống Phật giáo đến thời Trần đã mang nặng tính cách xã hội và nhập thế cho nên Trần Nhân Tông là một ông vua lúc nào cũng lo cho dân cho nước. Khi đất nước sạch bóng quân thù luôn lo nghĩ về dân, lo đến sự đoàn kết toàn dân, đặc biệt là sự nhất trí về tư tưởng. Chính vì vậy, ông đã đứng ra thành lập dòng Thiền Việt Nam Trúc lâm Yên Tử. Trần Nhân Tông nói: “Ta xem ngai vàng như chiếc giày rách bỏ đi bao giờ cũng được” (Việt sử tiêu án). Đó chính là khái niệm nhập thế của Phật giáo Đại Việt nói chung và Phật giáo thời Trần nói riêng.

– Tinh thần Cư Trần Lạc Đạo

Phật giáo là cuộc sống, không có sự phân biệt bất cứ thành phần nào trong xã hội, Phật giáo chính là quá trình đi tìm chân lý. Chân lý thì không nằm trong Phật giáo mà nằm trong cuộc sống. Từ đây chúng ta không ngạc nhiên vì khi Trần Nhân Tông xây dựng chủ thuyết Cư Trần Lạc Đạo để làm tôn chỉ hoạt động thiền phái. Thông qua bài Cư Trần Lạc Đạo tư tưởng ở đời mà vui với đạo, càng làm sáng tỏ tinh thần tùy duyên (nhập thế) để con người an trú với Đạo.6

Mình ngồi thành thị nết dụng sơn lâm.
Muôn nghiệp an nhàn lặng an nhàn thể tính
Nữa ngày tự tại thân tâm
Ta hiểu đời là thành thị, đạo là sơn lâm.
(Cư Trần Lạc Đạo Phú, hồi thứ II)

Tuy vậy, cuộc sống thực tiễn cho thấy một người dù ở thành thị gánh vác bao nhiêu việc đời, xong họ biết xử lý công việc với lòng trong sạch chẳng khác gì ở núi rừng. Người Phật tử Đại Việt thời Trần chỉ tùy duyên, tùy thuận vào mối liên hệ phân công của xã hội theo khả năng của mình mà thể hiện đời sống đạo bằng cách.

Dứt trừ nhân ngã, thì ra thực tướng kim cương
Dừng hết tham sân mới lảu lòng mầu Viên giác.
(Cư Trần Lạc Đạo Phú, hồi thứ II)

Như vậy, sống ở thành thị hay núi rừng không quan trọng mà quan trong nhất là ở giữa cuộc đời trần tục giác ngộ mới đáng thật tự hào. Chính bản thân Trần Nhân Tông là một người tìm thấy giác ngộ ngay những ngày với cương vị nhà lãnh đạo tối cao đang ráo riết chuẩn bị đối phó với cuộc chiến tranh (1287) do Phất Tất Liệt tiến hành và nhất là rơi vào thời điểm khi mẹ vua Trần Nhân Tông mất như sử liệu ghi.7

Rõ ràng giữa bao nhiêu biến động cuộc đời, con người vẫn có thể chuyển hóa thân tâm “muôn nghiệp lặng, an nhàn thể tính”. Chẳng khác nào Pháp Loa nói trong bài kệ “Thị tịch”, khi con người cắt đức vạn duyên hảo huyền, tức là chấm dứt hệ lụy:

Vạn duyên tuyệt đoạn nhất thân nhàn
Tứ thập dư niên mộng ảo giang
Trân trọng như nhân hưu tá văn
Ná biên phong nguyệt cánh hoàn khoan.

Dịch:

Một thân nhàn nhã dứt muôn duyên
Hơn bốn mươi năm những hảo huyền
Nhắn bảo các người đừng gạn hỏi
Bên kia trăng gió rộng vô biên.8

Phật luôn hóa hiện giữa đời, mỗi người chỉ cần đoạn xan tham, sống đạo đức nhân nghĩa với người khác thì ai cũng là Phật. Đây là giá trị thiết thực mà tư tưởng giác ngộ trong Cư Trần Lạc Đạo đem lại.

Trần tục mà nên, phúc ấy càng yêu hết tấc
Sơn lâm chẳng cốc, họa kia thực đã đồ công.
(Cư Trần Lạc Đạo Phú, hồi III)

Lý tưởng giác ngộ và giải thoát dành cho tất cả mọi người, xuất gia cũng như tại gia, sống trong chùa cũng như sống ngoài đời, miễn là con người biết tu tập tâm. Người trần tục tu hành thành công, được giác ngộ giải thoát, thì phúc đức ấy thật quý giá, còn tu trên rừng núi mà vẫn không giác ngộ thì đó là cái họa vô ích mà thôi.

Đó là tư tưởng mọi người đều bình đẳng trước chân lý, trước lý tưởng giải thoát giác ngộ của đạo Phật. Con người vốn là Phật, nhưng lại quên mất gốc của mình là Phật nên đi cầu tìm Phật ở đâu. Đây là quan niệm hướng nội của Phật giáo đời Trần, của Phật giáo đích thực, theo đúng lời dạy của Bổn sư:

“Hãy tự thắp đuốc lên mà đi. Hãy dựa vào chính mình, không dựa vào nơi nào khác. Hãy dựa vào Chánh pháp, không dựa vào nơi nào khác…”9

Phật giáo Đại Việt với nền Phật giáo thế sự, lấy chủ trương tùy tục để nhập thế. Con người không nhất thiết xuống tóc xuất gia, chỉ cần ngộ cái lý 5 uẩn là không, chân tâm không tướng … thể nhập đời trong mối tương quan mà có thái độ sống thích hợp, cống hiến cho đời là cho đạo.

“Sạch với lòng, chùi giới tướng, nội ngoại nên Bồ tát trang nghiêm.
Ngay thờ chúa, thảo thờ cha, đi đỗ mới trượng phu trung hiếu.
Tham thiền kén bạn, nát thân mình mới khá hồi ân.
Học đạo thờ thầy, dọt xương óc chưa thông của báo”10
(Cư Trần Lạc Đạo Phú, hồi thứ VI)

Hình tượng này là tiêu biểu cho mẫu người Đại Việt thời đại Đông Á nói chung, chứ không phải riêng gì cho Phật giáo. Những người làm nên sự nghiệp hào hùng của dân tộc ta vào thời này hầu hết là Phật tử.

Với chủ thuyết Cư Trần Lạc Đạo, hướng đến việc xây dựng mẫu người Phật tử nhằm bảo vệ độc lập và chấn hưng đất nước. “Dựng cầu đò, giồi chiền tháp, ngoại trang nghiêm sự tướng hãy tu”. Việc Trần Nhân Tông đem 10 điều thiện dạy khắp nơi đã phản ánh dùng Chánh pháp để an dân với mục đích:

Rèn lòng làm Bụt,
chỉn xá tua một sức dồi mài,
đãi cát kén vàng,
còn lại nhiều phen lựa lọc.
(Cư Trần Lạc Đạo Phú, hội thứ VIII).

Do đó, Trần Nhân Tông khuyến cáo người dân hãy tin tấn rèn lòng làm Bụt, như là sự thăng tiến đạo đức bằng nhiều phương thức để giác ngộ.
Sống ở đời mà vui với đạo theo vua Trần Nhân Tông là cuộc sống thiền. Đã là thiền thì tùy duyên, tùy căn, tùy thời mà sống với đạo.

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc xan hề khốn tắc niên
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.

Dịch:

Cư trần vui đạo hãy tùy duyên
Đói cứ ăn no, mệt ngủ liền
Báu sẵn trong nhà thôi khỏi kiếm
Vô tâm trước cảnh hỏi gì thiền.

Thích nữ Hòa Nhã


Chú thích
1. Nguyễn Lang (1974), Việt Nam Phật giáo sử luận, Tập 1, Lá bối, Sài Gòn, tr. 352.
2. Trương Hữu Quýnh chủ biên (2000), Đại cương lịch sử Việt Nam, tập 1, NXB. Giáo Dục, tr. 116.
3. Nguyễn Như Ý (1998), Đại từ điển Tiếng Việt, NXB. Văn hóa Thông tin, tr. 132.
4. Thích Hành Trụ (1970), Quy Sơn Cảnh Sách, NXB. Sen Vàng, tr. 32.
5. Ban Phật giáo Việt Nam – Ban Phật học chuyên môn (1995), Thiền học đời Trần, Sđd, tr. 239.
6. Viện KHXHNV (1998), Đại Việt sử ký toàn thư, Tập II, NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr .58.
7. Viện văn học (1989), Thơ văn Lý Trần, Tập II, NXB. KHXH – Hà Nội, tr. 648.
8. Thơ Văn Lý – Trần (1997), Tập I, Viện Văn Học, KHXH, Hà Nội, tr. 204
9. Ngữ Văn 10 (2003), Tập Hai. Bộ 1. NXB. Giáo dục, Hà Nội, tr. 23.
10. Lê Anh Dũng (1994), Con đường tam giáo Việt Nam, NXB. Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 90 – 91.