8.4 C
London
Thứ Tư, Tháng Mười Hai 1, 2021

Từ cô nhi viện Diệu Quang đến nhà tình thương Từ Hạnh

- Advertisement -
- Advertisement -

  Tọa lạc trên ấp 1, Quốc lộ 4, tuyến đường Sài Gòn – Mỹ Tho, chùa Từ Hạnh được biết đến là một trung tâm Từ thiện Xã hội với sự có mặt của Cô nhi viện Diệu Quang và nhà tình thương Dưỡng lão… Thuở xưa, việc cố thủ ở một vị trí thuận lợi trên tuyến đường từ Sài Gòn về Lục tỉnh và từ lục tỉnh lên Sài Gòn như thế cũng thầm kêu gọi sự quan tâm của khách thập phương giàu lòng nghĩa hiệp và từ tâm hoan hỷ, tiếp tay xoa dịu những vết thương của xã hội và của chiến tranh. Trong ý nghĩa đó, Viện lấy tên Diệu Quang với hai ý nghĩa: vừa gợi nhớ đến sự anh dũng vì pháp thiêu thân, chống lại chế độ độc tài và bất công Ngô Đình Diệm của Ni cô Diệu Quang ở Khánh Hòa, vừa nhắc nhở thế hệ sau ghi nhớ sự hi sinh của một nữ tu cho người đồng đạo, đồng bào, đồng loại. Có thể, đó cũng là thứ ánh sáng dịu hiền có thể soi sáng, xoa dịu, đùm bọc các em bé thơ ngây vô tội, những mảnh đời cơ nhỡ, neo đơn.

Nguyên sơ, ngôi cổ tự do Hòa thượng Thích Thiện Hòa – đại diện Ban Từ thiện GHPGVN đứng tên sổ bộ thành lập ngày 06/7/1959 nhưng đến ngày 10/10/1965 mới tổ chức đặt đá xây dựng Cô nhi viện Diệu Quang. Mô hình đồ án xây cất do Kiến trúc sư Mohamed Hamim phát tâm thiết kế với sức chứa lên đến 1.000 thiếu nhi từ sơ sinh cho đến 16 tuổi bao gồm các phòng ăn, phòng ngủ, phòng học, thư viện, phòng khách, xưởng hướng nghiệp, niệm Phật đường… Nhưng rồi, bao nhiêu dự tính đều bị trì hoãn để tiếp đón đồng bào tỵ nạn những năm 1968. Mãi đến năm 1971, Cô nhi viện Diệu Quang mới chính thức bắt đầu khởi công lễ xây dựng. Bấy giờ đã có đến 300 trẻ mồ côi. Chương trình hoạt động từ thiện xã hội cũng là một mặt hoạt động của Giáo hội Phật giáo. Là một cơ quan của GHPGVN, chùa Từ Hạnh và Cô nhi viện Diệu Quang bấy giờ không có sự tách biệt. Sau 30/4/1975 Nhà nước được độc lập, cơ sở này chia tách làm hai.

Trang sử của Viện Cô nhi dần ẩn mình, chìm trong nhiều tên gọi vốn không thuộc mục đích thành lập ban đầu: nào là “Trường thiếu niên II”, “Trung tâm giáo dục dạy nghề An Lạc”… Hội bảo trợ bệnh nhân nghèo thành phố sử dụng làm kho chứa hàng hóa và cho thuê cũng không hiệu quả, một thời gian khá dài bị bỏ hoang. Để bảo tồn giáo sản của Giáo hội, năm 1982, Ni trưởng Thích Nữ Trí Phát đã làm đơn xin được sử dụng ngôi chánh điện vì nó thuộc về phạm vi Tôn giáo. Từ năm 1983, GHPGVN đã tổ chức thành công đại hội đại biểu thống nhất các hệ phái về mái nhà chung GHPGVN, chùa Từ Hạnh do Ni trưởng Trí Hòa làm trụ trì. Năm 1992, Ban Đại diện huyện Bình Chánh cũng như Ni trưởng Trí Hòa năm 1993 có gửi đơn xin nhận lại đất và cơ sở Cô nhi viện nhưng mãi đến nay vẫn chưa nhận được. Kế tục sự nghiệp của Nhị vị Ni trưởng Trí Phát và Ni trưởng Trí Hòa là Ni sư Thích Nữ Như Diệu (từ năm 1991 đến nay). Đến thăm Diệu Quang, người viết chỉ nhìn thấy hiện trạng còn lại trong mô hình kiến trúc xưa là chiếc cổng vòm cung và bờ tường phía trước đã bị giải phóng mặt bằng.

Dưới sự tiếp quản của Ni sư Như Diệu, chùa Từ Hạnh đã dần tiến hành trùng tu, mở rộng ngôi chùa, tổ chức nhiều hoạt động từ thiện xã hội có ý nghĩa cho cộng đồng. Hiện tại, Viện đang nuôi dưỡng 102 em mồ côi và 60 cụ già. Ngoài ra, còn mở thêm bếp ăn tình thương mỗi ngày cho bệnh nhân nghèo và người nghèo, lập phòng khám Đông – Tây y và nhiều chương trình thiện nguyện khác tại nhiều tỉnh, thành hằng năm. Đặc biệt, tại Vĩnh Long, Ni sư cũng đã cho thành lập một cơ sở hoạt động từ thiện không kém phần quy mô. Sự quan tâm của Ni sư cũng như chư vị tiền bối trước đó không có ý muốn sẽ gặp nhiều trẻ em trong hoàn cảnh này, cũng không có ý khuếch trương sự cưu mang rộng lớn của nhà chùa, chỉ muốn xem cơ sở này đơn thuần là mái ấm che chở con người với nhau trong tình thương đồng loại. Do vậy, Ni sư vẫn rất ước ao chính quyền sẽ tạo mọi điều kiện giúp đỡ và sớm giao lại mảnh đất xưa để Ni sư có thể tiện bề chăm lo các công tác Phật sự.

Được hỏi về đời sống sinh hoạt tại trú xứ, Ni sư cho biết, các em và các cụ đều được chăm sóc rất chu đáo, được nhiều vị lương y, bác sĩ, dược sĩ tận tâm giúp đỡ. Vấn đề ăn uống và chi phí phần lớn nhờ sự đóng góp của quý vị ân nhân, thập phương bá tánh, các cơ quan từ thiện. Về phương diện giáo dục: bù lại những tháng ngày khó khăn tại các lớp học tình thương do Cô nhi viện tổ chức thì giờ đây ngoài việc tạo điều kiện cho các em có thể cắp sách đến trường như các bạn cùng trang lứa thì Viện còn hướng dẫn các em xây dựng nhân cách đạo đức. Dĩ nhiên, việc nuôi dạy này không ép buộc các em phải tu hoặc trở thành những Phật tử ngoan đạo. Song, cho đến thời điểm hiện tại, đã có 2 em xuất gia học Phật, một em học đại học và hỗ trợ chùa rất nhiều trong việc tiếp đón các đoàn du khách ngoại quốc đến từ các nước phương Tây.

Riêng hỏi về những khó khăn trong công tác thiện nguyện, Sư cho biết: “Thực ra, Sư không cảm thấy khó khăn lắm. Chỉ cần phát khởi lòng thành thì không Phật sự nào là không thể vượt qua. Chính vì thế, Sư không chỉ muốn thành tựu vị trí của một ‘nhà’ từ thiện mà còn muốn làm một ‘trung tâm’ từ thiện”. Hẳn nhiên, đó không phải là một tham vọng cho riêng mình. Sự nhiệt thành vì người, vì xã hội này là một nghĩa cử rất đáng trân quý. Thiết nghĩ, chẳng ai rảnh rỗi đi nhận lấy trách nhiệm mà cuộc đời thải ra làm gánh nặng của mình. Ấy vậy mà một nữ tu sĩ chân yếu tay mềm lại bản lĩnh, kiên cường gồng gánh, dang rộng đôi tay chào đón nhiều mảnh đời bất hạnh đang hiện diện trên vùng đất Sài Gòn là điều mà người viết vô cùng kính nể.

Trớ trêu thay, cuộc đời lại hay càu nhàu: “Tu hành, bỏ cha bỏ mẹ, giờ vào chùa rồi nhận thêm một tá người không rõ nguồn gốc lai lịch làm quyến thuộc, thiệt mâu thuẫn…”. Nhưng mấy ai hiểu được “quyến thuộc Bồ-đề”? Một khi, con người ta đã không có mái ấm chở che và nếu xã hội ai cũng né tránh thì trần gian đối với họ chỉ thêm trần trụi và buồn tẻ. Nhìn dưới góc độ một nhà hoằng pháp, nếu lấy phương châm: “Hằng thuận chúng sanh” để làm kim chỉ nam thì những con người này chính là đối tượng rất đáng chú ý cho việc hoạch định độ sanh của người con Phật. Ở đó, không lấy giàu kết giao, thấy nghèo phụ bạc… Thoáng qua, việc làm của Ni sư vô hình trung soi rọi cho nữ tu Phật giáo thấy được dũng khí của một người nữ khi thật tâm tu học, hoằng pháp.

Đồng thời, gợi nhớ cho mai hậu lời Phật dạy trong Kinh Tâm Địa Quán: “Tất cả chúng sanh sống trong vòng luân hồi vô tận này đều đã từng làm cha mẹ hoặc làm thân bằng quyến thuộc, anh em với nhau”. Sao ta có thể làm ngơ khi thân bằng quyến thuộc mình bơ vơ, không nơi ăn chốn ở? Do vậy, người viết cho rằng người đi vào được con đường này phải mang bi tâm rất lớn mới có thể thực hành được bi nguyện độ tha. Rõ ràng, sự thể nghiệm này không sai lệch đường hướng giáo dục, tâm linh Phật giáo.

Còn đó, trên nét mặt hiền từ của bậc nữ tu khả kính là niềm hoan hỷ trong nhiều sứ mệnh ấp ủ giữa đời thường: vừa làm thầy chỉ đạo cho Phật tử bốn phương, vừa làm cha, làm mẹ của đàn em nhỏ mồ côi trong xã hội, cũng là người thân của những cụ già neo đơn sắp gần đất xa trời… Bộn bề Phật sự nhưng khi hỏi về vấn đề gì cũng cảm thấy nơi Ni sư như thể đa sự mà vô sự, hóa ra nhẹ tênh. Dẫu cho, từ thiện xã hội, hoằng pháp, cúng kiếng… bị đồng hóa trong các trào lưu cũng như những ngành nghề riêng biệt cho tu sĩ Phật giáo hiện đại, Ni sư vẫn thản nhiên xem: “Không có gì đáng bận tâm về những đẩy đưa của dư luận, người con Phật chỉ cần làm trong hạnh phúc, trong tình thương và tuệ giác của mình”. Với Ni sư, tất cả chỉ để đền đáp công ơn Thầy Tổ – xã hội. Đặc biệt, sự khiêm cung, từ tốn có thừa nơi Sư đã khiến người viết nhớ đến những lời lẽ thâm tình, đạo vị, vô cùng khiêm tốn của cố Ni trưởng Trí Phát trong hạnh nguyện giúp người: “Không nói, quý liệt vị cũng đã thừa hiểu, động cơ thúc đẩy sự thành lập Cô nhi viện này không khác gì hơn là lòng từ bi, mà người con Phật đã hấp thụ được của Đấng Cha lành muôn thuở. Trước nỗi đau thương của đồng bào và riêng của những em bé thơ ngây, không cha, không mẹ, người Phật tử nhận thấy có bổn phận gánh vác một phần nào những đau khổ ấy. Thực ra, biển khổ thì mênh mông mà phương tiện cứu độ của chúng tôi thì chẳng khác gì những thùng nước nhỏ. Dùng những thùng nước nhỏ ấy để tát biển nước rộng lớn kia, chắc chắn là nước không bao giờ cạn. Nhưng có lẽ nào vì thế mà chúng tôi đành khoanh tay, để mặc cho đau khổ hoành hành mỗi ngày mỗi thêm quyết liệt?”.

Do vậy, việc cưu mang những mảnh đời bất hạnh không phô bày, trưng dụng một mục đích nào khác ngoài việc mang đến hạnh phúc, làm vơi bớt khổ đau của những con người ít có cơ duyên hơn mình. Ở đó, chư vị Ni trưởng, Ni sư không những đặt tiền đề và phát triển vai trò chuyên ngành công tác xã hội mà còn đẩy mạnh vai trò nhập thế giúp chúng sanh bớt khổ được vui. Đây là một mô thức xây dựng xã hội nhân sinh tích cực của nữ giới Phật giáo. Cách làm này thể hiện đúng lòng từ phổ độ của Ngài Quán Thế Âm. Qua đó, xua tan những túng quẩn, bi quan về kiếp người, lại còn trui luyện cho con người một tinh thần kiên định, vượt khó. Đó cũng là một viên âm, thế gian âm trong vô số âm được diễn bày bởi đức Quán Tự Tại. Như thế mới làm sáng tỏ được bản chất “Đạo Phật vì cuộc đời, vì nhân sinh”. Con gái Phật cũng có thể hùng dũng dấn thân trong lời nguyện: “Đời đau khổ con thề vào trước”. Và hẳn nhiên, vào đời không bằng lễ nghi, cúng vái cầu quốc thới dân an mà đi vào những đau thương trong xã hội.

Trong tiềm năng hội nhập và phát triển Ni giới Việt Nam, Ni sư Như Diệu không ngừng nỗ lực khôi phục lại cơ sở Ni viện Diệu Quang, góp phần xây dựng vào mô hình sinh hoạt cho chư Ni quận nhà. Kể từ 2016 ngôi cổ tự này đã trở thành điểm an cư cho Ni chúng quận Bình Tân được tổ chức 2 năm 1 lần. Hiện tại, Ni sư được tín nhiệm và tham gia công tác tại 7 ban: Trưởng ban Từ thiện Xã hội GHPGVN quận Bình Tân, Ủy viên Ban Từ thiện Xã hội Báo Giác Ngộ, Trưởng Tiểu ban Từ thiện xã hội Phân ban Ni giới Thành phố, Ủy viên Thường trực Hội Chữ thập đỏ quận Bình Tân, Ủy viên Thường trực Ni giới, Ban Tài chánh Trung ương và Học viện Phật giáo… Gánh vác trên vai nhiều trọng trách của Giáo hội, Ni sư còn mang trong mình nhiều hoài bão dành cho chư Ni như: muốn mở văn phòng cho Ni giới thành phố, địa điểm tổ chức Giới đàn, Trung tâm An cư hoặc các cơ sở hoạt động cho chư Ni… Nhưng điều Ni sư tâm huyết hơn cả vẫn là mong mỏi chư Ni trẻ trau giồi Giới – Định – Tuệ, trở thành nơi nương tựa vững chắc về mặt tâm linh.

NS. Thích Như Diệu – SC. Như Hạnh

- Advertisement -
Latest news
- Advertisement -
Related news
- Advertisement -