Trong đầm gì đẹp bằng sen?

262

    Trong đầm gì đẹp bằng sen? Vốn là một câu hỏi khai phá sự thông minh pha lẫn chút thách đố cho trẻ Tiểu học, nhưng nội hàm văn chương của nó đã chuyển tải không ít ý nghĩa khai tâm và hiển bày sức mạnh tinh thần mà đức Thế Tôn nhiều lần nhắc nhở trong kinh điển. Câu chuyện về “Đầm sen Việt Nam” cũng vì thế cần được biết và nhân rộng thêm một loại “liên hương” Phật giáo mà đặc biệt là những đóa “Liên Hoa Ni giới Khất sĩ”.
Nếu không thể dùng những từ ngữ gần gũi dân gian như “sớm bơ vơ” sau ngày đức Tổ sư vắng bóng (1954) thì những khó khăn của Ni giới Khất sĩ (NGKS) buổi đầu được lột tả trong nhiều câu chuyện dồn dập trên chiếc thuyền nữ giới Liên Hoa. Trong sự ghi nhớ công ơn và lời dạy cao quý của bậc Thầy vĩ đại, bổn hoài của đức Tổ sư đã trở thành mảnh buồm định vị, bảo bọc các con gái của Người trước sóng gió lớn mạnh đến từ văn hóa, tôn giáo, xã hội nước nhà.


Dầu vậy, sau Ni bộ Bắc tông, NGKS cũng góp phần không nhỏ trong dòng chảy lịch sử của Phật giáo miền Nam Việt Nam. Mảnh đất Phú Mỹ – Định Tường (nay thuộc Tân Phước – Tiền Giang) là nơi lưu dấu 4 đóa sen thanh khiết đầu tiên của NGKS: Ni trưởng Huỳnh Liên, Ni trưởng Bạch Liên, Ni trưởng Thanh Liên và Sư bà Bửu Liên1. Trong đó, Đệ nhất Ni trưởng Huỳnh Liên (1923 – 1987) được biết đến như là hiện thân của Đạo pháp và Dân tộc. Nắm giữ nhiều chức vụ từ trong xã hội 2đến Giáo hội3, Ni trưởng vẫn toàn vẹn, viên dung đôi dòng. Đối với Đạo pháp, Người đã có 44 năm lèo lái và làm rạng danh con thuyền “Giáo hội Liên Hoa” với chuỗi hệ thống Tịnh xá đạo tràng từ Trung vào Nam lên gần số trăm; Ni chúng, tín đồ lên đến hàng ngàn, hàng vạn. Ni trưởng ra sức sách tấn, đào tạo nhân tài và cũng đẩy thuyền cho chư Ni hệ phái có nhiều thành viên tốt nghiệp Cử nhân, Thạc sĩ, Tiến sĩ Phật học. Riêng mảng thi phú văn chương và công trình phiên dịch cũng vô cùng đa dạng. Người đã để lại cho đời 2.000 bài thơ và hàng ngàn bản văn xuôi. Trong đó, “‘Đóa sen thiêng’ ra đời năm 2012 được Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam xác lập ‘Tập thơ chuyển Đạo vào Đời được viết theo nhiều thể loại thơ nhất’”4.


Đối với xã hội, Ni trưởng tích cực tham gia nhiều hoạt động đấu tranh chống Mỹ. Hoạt động yêu nước của Người đã tạo nên tiếng vang lớn từ trong nước đến quốc tế qua các phong trào: “Đấu tranh đòi tự do tín ngưỡng và quyền dân sinh, dân chủ của Phật giáo, của sinh viên, học sinh Sài Gòn – Gia Định (1963)”, “Phụ nữ đòi quyền sống”, “Xuống tóc vì hòa bình”, “Đọc báo nói cho đồng bào tôi nghe”, “Ngày ký giả ăn mày”. Cũng từ đây, con đường từ thiện nhân đạo của Ni trưởng càng được đẩy mạnh và mở rộng sau ngày thống nhất đất nước. Trong sự gắn kết giữa đạo và đời, Ni trưởng đã tỏa một bóng mát lớn, xứng đáng là một người con ưu tú của “Giáo hội Liên Hoa” và cũng thật xứng đáng để được nhân dân thừa nhận với con đường mang tên Ni sư Huỳnh Liên5 (Phường 10, Quận Tân Bình, TP.HCM).

Bóng mát của NGKS bấy giờ lại tiếp tục ủy thác cho Ni trưởng Bạch Liên (1924 – 1996) – Đệ nhị Trưởng NGHPKS. Từ hạt Bồ-đề được gieo trồng trên mảnh đất Bắc truyền Phật giáo (18 tuổi), nương Hòa thượng Thích Hoằng Thông tế độ xuất gia và trao truyền giới pháp Sa-di-ni với pháp danh Nhuận Cung, tự Diệu Phụng, Ni trưởng không ngần ngại khi quyết tâm “trồng” mình trên ruộng phước điền Khất sĩ vào ngày 01/4/1947 (Đinh Hợi). Qua sự gắn bó cùng chư huynh đệ từ trong những ngày đầu Ni giới còn non trẻ, Ni trưởng lưu tâm, ôm hoài bão dấn thân đến khắp miệt nông thôn, thành thị của khúc ruột miền Trung vào năm 1958. Từng bước chân Ni trưởng đi qua là từng bước các tịnh xá bát giác thi nhau mọc lên như để chào đón và giới thiệu với quần chúng về một NGKS của Phật giáo Việt Nam. Tại các trạm dừng chân của miền Tây Nguyên sơn cước, Người đã dày công hợp lực khẩn đất khai hoang, lập nông trại, giúp đỡ cô nhi, quả phụ, không kể thân sơ, không màng lương giáo. Trong đó, phải kể đến sự có mặt của Tịnh xá Ngọc Thành (1965) tại vùng đất Buôn Ma Thuột – đã phần nào hoàn thành tâm nguyện của Ni trưởng Đệ Nhất. Ngoài ra, Ni trưởng cũng gặt hái nhiều thành quả vẻ vang tại miền Nam khi được xưng tụng tuổi tên trong hành trình khai phá rừng hoang ở Thủ Dầu Một và thành lập Tịnh xá Ngọc Bình vào năm 1954. Hoạt động xã hội của Ni trưởng không ngoài mục đích giúp đỡ người nghèo khó, tuy nhiên Người vẫn đặt nhiều sự quan tâm đến các hoàn cảnh cô nhi và đó cũng là lý do ra đời Cô nhi viện Ngọc Ninh (Tịnh xá Ngọc Ninh – thị trấn Phan Rang) năm 1972 nhằm xoa dịu đau thương cho người bất hạnh.


Đứng trên cương vị của một Trưởng ban Giám luật của NGKS, Ni trưởng đã vực dậy một đời sống phạm hạnh, một tinh thần cầu học và đào tạo nhân tài kế thừa cho Ni chúng. Khoác ngoài bóng dáng của một “đóa Bạch Liên” thanh mảnh, khiêm cung; Người cũng tự tưới vào lộ trình hành đạo của mình những tác phẩm phú, vè, thơ, văn,… góp phần làm tươi mát, mềm mại những vụn vặt khô xơ cho đời, cho đạo. Qua 50 năm kề bóng cửa Phật, hương giới “Bạch Liên” đã lưu giữ nhiều dấu ấn khó phai trong dòng chảy lịch sử Ni lưu và tín đồ nữ Phật tử. Ni giới Khất sĩ! Vẫn còn đó một đóa sen trắng trong, tỏa ngát hương thơm giữa “đầm, hồ Liên Hoa” bất quyện. Ni giới Nam Bộ! Vẫn còn đó một đóa sen tinh khiết rạng ngời, thanh tú, tô điểm cho bầu trời Ni giới miền Nam Việt Nam.

Kề vai gánh vác cùng Nhị vị huynh trưởng, Đệ tam NGKS – Ni trưởng Thanh Liên (1925 – 1968)6 cũng lần lượt thay phiên hành đạo khắp hai miền Nam, Trung đất nước. Đạo tràng và giáo pháp Khất sĩ cũng nhờ Người mà được gầy dựng nhiều nơi. Điểm dừng chân tại Tịnh xá Ngọc Bửu, Biên Hòa năm 1955, Ni trưởng đã tiếp độ nhiều chúng Ni đệ tử và thiện nam tín nữ mến mộ đạo Phật. Công hạnh cứu người, giúp đời của Ni trưởng có thể nói là cả một dấu ấn quyên thân, không màng bệnh hoạn sắc thân chi phối. Trải lòng theo hạnh nguyện độ sanh, chong đèn tuệ giác suốt 22 năm, trang sử về Người chưa kịp viết nhiều hơn thì Ni trưởng đã vội vã đăng trình, xá chào những pháp lữ Khất sĩ thân yêu, bước vào cõi hương sen bất diệt. Vị trí Đệ tam Trưởng NGKS7 vì vậy cũng có lần phải gõ cửa thỉnh cầu Ni trưởng Tạng Liên8. Không lâu, Ni trưởng viên tịch (2002), lại chuyển giao cho Ni trưởng Đệ tứ.

Bắt tay lèo lái con thuyền NGKS từ những năm đầu thế kỷ XXI (2002), Đệ tứ Trưởng NGKS – Ni trưởng Tràng Liên (1929 – 2020) luôn hoàn thành trách nhiệm của Giáo hội và Hệ phái giao phó. Trên trang sử của Ni giới miền Nam đương đại, giới đức và đạo hạnh của Người được khắc ghi bằng sự tín nhiệm hết mình của Giáo hội, Ni lưu và quần chúng tín đồ Phật tử. Đánh dấu cho cương vị lãnh đạo tối cao của NGKS, Ni trưởng hiện diện liên tiếp 03 nhiệm kỳ (2002 – 2017) tại Hội đồng Trị sự, tham gia Ban Tăng sự Trung ương, Phó Trưởng ban cho đến ngôi vị Chứng minh Phân ban Ni giới Trung ương nhiều năm liền.


Trụ thế 92 năm với 69 hạ lạp là một trang sử dài về đạo nghiệp độ sanh mà Ni trưởng trải qua khắp các tỉnh miền Đông, Tây Nam Bộ cho đến miền Trung xa xôi và núi đồi Tây Nguyên đầy hiểm trở. Chưa kể những khổ cực ở rừng hoang, mồ vắng; cuộc đời của một nữ Khất sĩ khổ hạnh vẫn cứ thế chan chứa tin yêu cho đạo lẫn đời.

Sau chuyến hành trình vân du hoằng pháp, Người lại hội ngộ trở về miền Nam trùng tu Tổ đình Tịnh xá Ngọc Phương (Quận Gò Vấp, TP.HCM), kiến tạo tịnh xá Ngọc Mỹ (Mỹ Tho) và Ngọc Diệp (Quận 3, TP.HCM) làm nơi quy tụ cho Ni chúng và tín đồ tu học. Trên mãnh đất Sài Thành, Ni trưởng đã trở thành bậc thầy giáo dưỡng của không ít huynh đệ nữ tu. Đồng thời, Người luôn là Hòa thượng Đàn đầu trong giới đàn NGKS9 và trong Hội đồng Thập sư Ni của các Đại giới đàn do Thành hội tổ chức.

Ra đi giữa cơn đại dịch chưa đến hồi kết thúc, lại đang lăm le tái bùng phát, Ni trưởng đã để lại muôn vàn kính tiếc cho Giáo hội, cho cộng đồng Tăng Ni, Phật tử Việt Nam lẫn đồng môn hải ngoại. “Đương kim Ni trưởng” – mới được gọi cách đó không lâu (trước 28/12/2020), giờ đã nhanh chóng đổi thành “Cố Ni trưởng tân viên tịch”. Dầu vậy, công hạnh của Ni trưởng vẫn rạng ngời trong nguồn mạch xây dựng Đạo pháp, đạo tâm và làm rạng danh tông môn NGKS, sáng gương Thánh đức Kiều Đàm.


Nhìn lại nữ tu trong dòng chảy lịch sử Phật giáo, NGKS sau 73 năm hành đạo (1947 – 2020) đã có những thành tựu quý báu được khơi nguồn từ 5 vị Ni trưởng đi đầu. Nhờ sự lèo lái vững chắc đó, sứ mạng của NGKS đã ngầm chảy hanh thông hơn trang sử Nữ giới hệ phái Nam tông trong chặng đường du nhập, tồn tại và phát triển tại bản địa. Có thể nói, giới đức và đạo tâm của chư Tôn túc trong hàng Giáo phẩm Liên Hoa thuở xưa mãi là nước tốt, ao trong, sẵn sàng nuôi dưỡng những mầm sen còn chìm trong bùn lầy khô hạn, để ngưỡng cửa “Cửu đài” là cảnh giới trở về của những nhân chứng giải mã được đề bài “Trong đầm gì đẹp bằng sen?”

Như Nguyệt



  1. TKN. Tuyết Liên, “Những đóa sen thanh ngát hương trên châu thổ sông Tiền”, Ni trưởng Tịnh Nghiêm, Ni sư Tuyết Liên (đồng chủ biên) (2019), Ni giới Việt Nam – Ni giới Tiền Giang – Tiếp bước tiền nhân, phát huy Chánh pháp, NXB. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 41.
  2. Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa I và khóa II; đại biểu Quốc hội khóa VI; Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam; Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Ủy viên Ban Vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam, Ủy viên Kiểm soát Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
  4. NT. Tố Liên, “Công hạnh và đạo nghiệp Ni trưởng Huỳnh Liên”. Ni trưởng Tịnh Nghiêm, Ni sư Tuyết Liên (đồng chủ biên) (2019), Ni giới Việt Nam – Ni giới Tiền Giang – Tiếp bước tiền nhân, phát huy Chánh pháp, NXB. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 56.
  5. TKN. Tuyết Liên, “Những đóa sen thanh ngát hương trên châu thổ sông Tiền”. Ni trưởng Tịnh Nghiêm, Ni sư Tuyết Liên (đồng chủ biên) (2019), Ni giới Việt Nam – Ni giới Tiền Giang – Tiếp bước tiền nhân, phát huy Chánh pháp, NXB. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 43.
  6. TKN. Tuyết Liên, “Những đóa sen thanh ngát hương trên châu thổ sông Tiền”. Ni trưởng Tịnh Nghiêm, Ni sư Tuyết Liên (đồng chủ biên) (2019), Ni giới Việt Nam – Ni giới Tiền Giang – Tiếp bước tiền nhân, phát huy chánh pháp, NXB. Tổng hợp, TP.HCM, 2019, tr. 44.
  7. Tìm về trang web của NGHPKS, Đệ tam được suy tôn là Ni trưởng Thanh Liên. Dầu vậy, trong dòng chảy lịch sử của các Trưởng NGHPKS, không ít tư liệu cho Đệ tam là Ni trưởng Thanh Liên. Cũng thế, tư liệu khác lại cho là Ni trưởng Tạng Liên. Sự bất đồng này cũng là một khó khăn cho việc nghiên cứu về các bậc Đại Ni thuộc Hệ phái Khất sĩ.
  8. NS.TS. Thích Nữ Hằng Liên, “Sự nghiệp ươm mầm và phát triển Ni giới-Hệ phái Khất sĩ Việt Nam”, Trung tâm Nghiên cứu Nữ giới Phật giáo (2020), Ni giới Thành phố Hồ Chí Minh, Tiềm năng – Hội nhập – Phát triển, NXB. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 272.
  9. Thích Giác Duyên, “Sự hình thành, phát triển và những đóng góp của Ni giới hệ phái Khất sĩ”. Nhiều tác giả (2016), Nữ giới Phật giáo Việt Nam: Truyền thống và Hiện đại, NXB. Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, tr. 583.