-0.6 C
London
Thứ Hai, Tháng Mười Một 29, 2021

Toát yếu nội dung các Kinh Trường A Hàm (Kinh Phạm võng)

- Advertisement -
- Advertisement -

 Kinh Phạm võng
[Pāli: Brahmajālasutta, D 1]



Có hai thầy trò Phạm chí, nhóm tu ngoại đạo (paribbājaka: Phổ hành giả, du sỹ ngoại đạo) là Thiện Niệm (Suppiya) và Phạm-ma-đạt (Brahmadatta) đi theo sau Phật và các Tỳ-kheo trên con đường đến Trúc thôn. Một người chê bai Phật bằng đủ mọi cách; một người ngợi khen Phật cũng bằng đủ mọi cách.

Các Tỳ-kheo tập họp tại giảng đường, bàn luận về sự kiện này. Phật dạy các Tỳ kheo, không hoan hỷ khi được tán thán, cũng không ưu sầu khi bị chê bai. Sự khen chê của hai thầy trò kia chỉ do ảnh hưởng bởi khác biệt kiến giải, tư duy, thân cận. Những điều mà phàm phu tán thán Như Lai chỉ dựa trên những tiểu tiết về giới luật. Chỉ có kẻ trí mới biết tán thán Phật vì những pháp thâm diệu hơn.

Tiếp theo, Kinh gồm hai phần chính.

Phần I: Tán thán về giới. Các điều về giới ở đây cũng giống như trong kinh A-ma-trú (Ambaṭṭhasutta, D 3), nhưng văn dịch không thống nhất. Phần này bao gồm ba đoạn nhỏ: (a) những điều khoản liên hệ đạo đức căn bản của người xuất gia; (b) sinh hoạt ác hành, tức những trò tiêu khiển không tốt gây chướng ngại đạo; (c) sinh hoạt tà mạng, là bằng các phương tiện và tà thuật mà mưu sinh.

Phần II: Đây là phần trọng tâm của kinh. Đức Phật nêu ra tất cả luận thuyết về vũ trụ và nhân sinh đương thời, bao gồm trong 62 loại, gọi là “Lục thập nhị kiến”. Tất cả luận thuyết này y cứ trên hai phần thời gian: y cứ tối sơ, gọi là bản kiếp bản kiến, liên hệ đến khởi nguyên của thế giới. Phần thứ hai là y cứ tương lai mạt kiếp, gọi là mạt kiếp mạt kiến. Từ hai y cứ này xuất hiện 62 luận thuyết như sau:

i) Bản kiếp bản kiến (pubbantakappikā), tổng quát có 18 luận thuyết:

– 4 thường trú luận (sassatavāda), chủ trương ngã và thế giới là thường hằng, bất biến. Ba trường hợp đầu, y vào mặc khải; trường hợp thứ tư, y vào suy lý.

– 4 bán thường trú luận (ekaccasassatavāda), bản ngã và thế giới một phần thường trú và một phần không thường trú, chịu biến dịch. Tức duy chỉ Brahman (Thượng đế) là thường hằng bất biến, ngoài ra đều chịu biến dịch.

– 4 hữu biên vô biên luận (antānantavāda), tự ngã và thế giới là hữu biên (hữu hạn), vô biên (vô hạn) và vừa hữu vừa vô biên (phương trên có giới hạn, bốn phương thì vô biên). Ba trường hợp này y vào mặc khải; trường hợp thứ tư y vào suy lý.

– 4 ngụy biện luận (anarāvikkhepavāda).

– 2 vô nhân luận hay ngẫu nhiên luận (adhicca-samuppannavāda), thế giới này do ngẫu nhiên, không bởi nguyên nhân nào cả, xuất hiện từ hư vô.

ii) Mạt kiếp mạt kiến (aparantakappikā), bao gồm 44 luận thuyết:

– 16 hữu tưởng luận (saññīvāda): Đời sau có tưởng đồng thời có sắc (hữu hình), hoặc không sắc (vô hình), có biên (hữu hạn), hay không có biên (vô hạn), thuần lạc, hay thuần khổ, tưởng cục bộ hay tưởng vô lượng, v.v…

– 8 vô tưởng luận (asaññīvāda), đời sau có sắc, không có tưởng, v.v…

– 8 phi tưởng phi phi tưởng luận (nevasaññīnāsaññīvāda), đời sau không phải có tưởng cũng không phải không có tưởng, v.v…

– 7 đoạn diệt luận (ucchedavāda),

– 5 hiện tại Niết-bàn luận (diṭṭhadhammanibbānavāda), năm dục là Niết-bàn trong hiện tại, hoặc Sơ thiền, cho đến Tứ thiền, là Niết-bàn trong hiện tại.

Đoạn cuối Phật chỉ nguyên nhân phát sinh các kiến chấp ấy: các quan điêm này tùy thuộc trình độ các cảm thọ. Do căn, cảnh, thức, ba sự hòa hiệp sinh thọ. Thọ là duyên cho ái; ái là duyên cho thủ, thủ duyên hữu… cho đến, tập khởi thuần đại khổ tụ. “Nếu Tỳ-kheo biết rõ như thực sự tập khởi của sáu xúc, sự diệt tận, vị ngọt, tai họa và sự xuất ly của xúc, Tỳ-kheo ấy là người tối thắng, vượt ngoài các kiến ấy.”

Do thâu tóm tất cả mọi kiến chấp, như người chài tóm tất cả cá trong một tấm lưới, Kinh được gọi là Phạm võng, “lưới Phạm thiên”. Bản Hán dịch này gọi là Phạm động, nghi là do âm tương tợ trong truyền bản: Brahmajāla (Phạm võng) đọc thành Brahmacāla (Phạm động). Bản dịch Luật Tứ phần cũng gọi Kinh này là Phạm độngTrường A-hàm và Luật Tứ phần được phiên dịch đồng thời, cách nhau vài năm, trong niên hiệu Hoẳng thủy đời Hậu Tần. Vậy nếu không do nhầm lẫn sao chép, hay đọc sai âm gốc, có thể Kinh này trong phái Đàm-vô-đức (Dharmagupta) đọc như vậy. Trong các bản Hán dịch khác, như T 21, hay một bộ luật của Đại thừa, đều gọi là Phạm võng.

Kinh cũng còn được đặt tên là Nghĩa động, Pháp động, Kiến động, Ma động. Tất nhiên, những chữ động này đều có thể hiểu là võng (lưới).

Tuệ Sỹ

- Advertisement -
Latest news
- Advertisement -
Related news
- Advertisement -