Tình thương không biên giới

24

  “Một mối tình, trong trắng trinh nguyên
Không nhiễm ô, nên chẳng ưu phiền
Tình thương ấy, tình thương Bồ tát
Hoặc sáng ngời, tình Mẹ vô biên”.

Thật vậy, ở thế gian không có cuộc sống nào mà không có sự đối đãi. Như tình yêu nam nữ, là bao nhiêu sự dối lừa khổ đau vô tận, hoặc sự cậy nhờ nâng đỡ công danh. Trước mặt tâng bốc ngợi khen, sau lưng gièm chê đủ thứ, bỏ ra rồi chẳng lẽ bỏ không? Chỉ có tình thương Cha Mẹ là đong đầy sâu thẳm, chỉ ban cho không đòi hỏi hơn thua. Suốt cả cuộc đời tay bồng, tay ẵm, phẩn dãi tanh hôi Cha Mẹ chẳng gớm nhờm, chỗ ướt Mẹ nằm chỗ ráo nhường con. Lúc con lớn lên gặp cảnh nhà nghèo thiếu trước hụt sau, Cha Mẹ phải bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, tảo tần hôm sớm một nắng hai sương, để con có cơm ăn áo mặc, được cắp sách đến trường để vui cùng chúng bạn. Thế rồi thời gian đi qua, khi học hành đỗ đạt, có bằng cấp trong tay, cũng không ít đứa con “Vong ân bội nghĩa”, không dám nhìn nhận sự thật, hoặc giấu kín gia cảnh của mình, hay với bạn bè sau lưng, “Họ” là người giúp việc cho mình, đã không dưng cơm hầu nước, lại còn khinh rẻ Mẹ Cha. Khi có tiền tài trong tay, địa vị sẵn có, thì chạy đua với bóng sắc bên ngoài, ngày đêm vui say yến ấm, suốt ngày sống trong đèn mờ, máy lạnh, đến lúc hết tiền, người ta ruồng bỏ đuổi xô, sống dật dờ như cái xác không hồn, tình đời thế thái lắm thay!!!

Có một câu chuyện được kể như vậy: “Gia đình người đàn bà goá bụa, có một cậu con trai, khi chạy chơi té ngã, bị hư một con mắt. Bà Mẹ đưa đi Bác sĩ, hỏi thăm người ta bảo có thể lắp mắt được, nếu người Mẹ hy sinh cho bớt một con mắt của mình. Nghe thế, người Mẹ không đắn đo suy nghĩ đồng ý ngay, thế là con mắt của Bà được thay cho đứa con trai yêu quý. Sống trong cảnh Mẹ goá con côi, nên cậu bé cố gắng học hành, lớn lên cũng được danh phận với đời. Ngày cậu lãnh bằng tốt nghiệp Y Khoa, Mẹ cậu vui mừng khôn xiết, quên đi bao nhiêu năm vất vả, lao nhọc vì con, Bà không nghĩ đến thân mình, không nghĩ đến sự tàn phai nhan sắc. Thế rồi ra trường cậu thuyên chuyển công tác tu nghiệp ở Thái Lan, sau đó kết duyên cô gái Thái và sinh được hai đứa con. Nơi quê nhà Mẹ già mỏi mòn trông đợi hình bóng đứa con thân yêu, nhớ lại những năm trước đây, mùa Đông giá lạnh, hai Mẹ con ngồi quanh bên bếp lửa hồng để sưởi ấm, nhưng giờ này còn đâu nữa mà ngóng, mà trông!!!

Cụ lần dò tin tức, một ngày kia Cụ bà tìm theo địa chỉ đến xứ lạ quê người để tìm con. Khi đến nơi, bọn trẻ thấy Bà già bị chột một con mắt, bèn khóc ré thất kinh, người vợ vội chạy ra hỏi: “Bà Cụ tìm ai?”, Cụ trả lời: “Tôi tìm ông chủ nhà này”, người vợ chạy vào diễn tả hình dáng Cụ già và nói cho chồng nghe là Cụ muốn tìm ông chủ nhà này. Người con biết đúng là Mẹ của mình, nhưng ngặt vì lúc cưới vợ, sợ bên nhà vợ chê mình nên đã nói dối là: “Cha Mẹ anh đã qua đời”. Người chồng vội móc ít tiền đưa cho vợ và dặn vợ nói: “Cụ đi lộn địa chỉ rồi, vì ông chủ nhà này Cha Mẹ đã qua đời”. Thế là Cụ bà từ chối không nhận tiền, xin lỗi vì đã nhầm địa chỉ và vội vã ra đi. Còn ít tiền Cụ trở về Việt Nam, bán ngôi nhà chứa đầy những kỷ niệm vui buồn của thời son trẻ, dọn đi nơi khác sinh sống, nơi mà không ai biết được tông tích của Cụ.


Một năm sau, các Bác sĩ Việt Nam giao lưu với các Bác sĩ vùng Châu Á. Cậu con trai của Cụ cũng theo đoàn Bác sĩ Thái Lan sang Việt Nam tham dự, hội họp xong cậu Bác sĩ trở về xóm cũ tìm Mẹ. Khi vừa đến đầu làng, gặp người bô lão mừng rỡ chuyện trò, lúc hàn huyên Cụ lão đã thổ lộ cho cậu ta biết, mắt trái của cháu chính là con mắt của Mẹ cháu. Cách đây hai mươi năm về trước, sau một lần bị té ngã cháu bị hư một con mắt, và Mẹ cháu là người đã hy sinh, đành nhờ Bác sĩ giải phẫu và cho cháu con mắt ấy, nên cháu mới được toàn vẹn như ngày hôm nay. Khi chia tay Cậu trở về ngôi nhà cũ, thì hỡi ơi bóng dáng Mẹ hiền không còn nữa, đã dọn nhà ra đi và không biết đi về đâu? Trong làng không ai biết tin tức của Mẹ cậu, những giọt nước mắt hối hận muộn màng đã lăn dài trên đôi má. Biết tìm đâu cánh nhạn lưng trời, nhạn bay đi đâu không để lại dấu vết trên nền trời vô vọng!!!” (Câu chuyện này người viết đã quên tên tác giả, chỉ nhớ lại nội dung, nếu có gì sai sót, xin tác giả câu chuyện này vui lòng bỏ qua).

Bởi thế ở đời, tình thương Cha Mẹ là một thứ tình vô tận. Không thể nào dùng văn tự diễn tả hết tình yêu thương vô bờ bến của Cha Mẹ. Một thi sĩ đã viết:“Nước biển mênh mông, không đong đầy tình Mẹ. Mây trời lồng lộng, không phủ kín công Cha”.
Trong Kinh Báo Hiếu Đức Phật dạy rằng: “Cha Mẹ là hai vị Phật còn hiện tiền, trong đời không gặp Phật, khéo thờ Cha Mẹ như thờ Phật vậy”.

“Tình yêu, tình cảm, tình đời
Ân tình nào cũng dần vơi chẳng đầy
Tình yêu cao cả Như Lai
Yêu khắp muôn loài, hết thảy hàm linh”.

Chư Phật và Bồ tát thị hiện vào đời, chỉ vì chúng sanh khổ đau mà ra tay tế độ, không vì sự đổi chác trả vay. Ngài Quán Thế Âm Bồ tát là một vị đã giác ngộ Chân lý, chứng được “Nhĩ căn viên thông”, nên nghe được tất cả âm thanh, tiếng kêu cứu của muôn loài trong vũ trụ khi bị lâm nguy. Trong Kinh Pháp Hoa phẩm Phổ Môn, Ngài phát ra mười hai đại nguyện, nguyện nào cũng vì lợi ích cho chúng sanh. Ngài ứng hiện ba mươi hai thân, để cứu độ, giáo hóa chúng sanh tại cõi Ta-bà. Đến khi mãn duyên cõi trần, Ngài Quán Thế Âm và Ngài Đại Thế Chí trợ lực Đức Phật A Di Đà, tiếp rước vong linh sanh về Tây phương Cực Lạc. Có lúc cần hiện thân Phật, thân Bích Chi Phật hoặc thân Bồ tát để làm các Phật sự. Có khi Ngài hiện thân Cư sĩ, thân Tể quan, Bà-la-môn v.v… để cứu vớt chúng sanh, Ngài độ chúng sanh không hề mỏi mệt. Với Từ lực vô biên, Từ tâm rộng lớn của Bồ tát Quán Thế Âm hễ nghe chúng sanh kêu cứu, thì Ngài thị hiện cứu ngay. Như con thơ có cần Mẹ, thì Mẹ mới đến ẵm bồng và cho bú mớm.

Chúng ta cũng vậy, có thành tâm nguyện cầu, thì mới có cảm ứng. Với hạnh nguyện độ sanh Ngài đã phát nguyện, luôn luôn ngự ở biển Nam Hải để cứu vớt chúng sanh sắp bị chìm đắm. Chúng sanh suốt ngày bị Thất tình, Lục dục não hại, làm cho mình điên đảo khổ đau. Khi đó ta chỉ cần nhất tâm niệm danh hiệu của Ngài, tâm ta sẽ được lắng dịu, bình tĩnh trở lại. Lúc tâm mình sân si nổi nóng, khác nào rồng độc, quỷ dữ gào thét phun lửa. Chính lúc ấy là ta đã lạc vào rừng sâu, gặp thú dữ rượt bắt, hay bị giông gió nhận chìm ghe thuyền. Đức Phật dạy: “Một niệm sân đốt cháy cả rừng công đức”. Lúc tâm lắng dịu, tâm hồn ta hiền hòa như sóng biển đại dương, mênh mông vô tận.

“Diệu âm, Quán Thế Âm
Phạm âm, hải triều âm”.

Khi tâm ta thanh tịnh, mới nghe được tiếng vỗ của hải triều, thanh thoát du dương, như lời kinh chuyển tải sự nhiệm mầu vào cuộc sống. Mặt nước lặng yên dụ cho tâm chúng sanh được an định, trăng xuất hiện dụ cho trí tuệ. Có ĐỊNH có TUỆ là nhờ có GIỚI. Mà Giới, Định, Tuệ là Tam vô lậu học, là thuyền bè đưa chúng sanh thoát ly sanh tử luân hồi.

“Thong dong chèo chiếc thuyền Từ
Đưa người về cõi Vô Dư Niết-bàn
Ánh trăng trải khắp trần gian”.
Thuyền về đầy ắp, trăng vàng sông trăng

Tay phải Đức Quán Thế Âm cầm cành dương liễu, mềm dịu nhưng dẻo dai, dụ cho Ngài đi vào đời đã dùng lòng Từ bi và đức tính nhẫn nhục mà giáo hóa chúng sanh nan điều nan phục, bỏ tà kiến quay về với Chánh pháp.

Vậy chúng ta là đệ tử của Phật nên học theo tâm Từ bi và hạnh nhẫn nhục của Mẹ hiền Quán Thế Âm, vào đời tiếp bước quý Ngài để gieo mầm Bồ đề cho chúng sanh, cùng nhau thoát ly sanh tử luân hồi. Như lòng bi mẫn của Ngài A Nan đã thệ nguyện:

“Đời đau khổ con thề vào trước
Dù gian nguy chí cả không sờn
Cứu chúng sanh là báo Phật thâm ân
Lời vàng ngọc con hằng ghi dạ… “

TKN. Phước Giác