Tinh thần Vô úy trong thi ca Thiền học Lý – Trần

170

  Tinh thần “vô úy” là tâm thái an nhiên, tự tại, ung dung trước mọi nghịch cảnh, mọi thử thách, mọi chướng ngại, không còn sự sợ hãi, lo lắng về bất cứ điều gì, không còn vướng bận hay buộc ràng vào ngoại cảnh, sự vật, sự việc, không gian và thời gian. Cũng có nghĩa là tâm con người rộng lớn, bao dung, độ lượng, ban trải từ bi, hỷ xả đến hết thảy mọi chúng sanh. Tinh thần đó chỉ ẩn chứa trong cái tâm thanh tịnh, trong Phật tâm của người hướng thượng, hướng đến sự giải thoát.Con người khi trải qua quá trình chuyển hóa tâm thức đều có thể tự nhận ra được. Tâm Phật và tâm chúng sinh tuy tưởng là hai bản thể song song cách biệt, nhưng suy cho cùng cả hai giống nhau về bản chất và không có gì xa xôi cả. Tâm Phật nằm ngay trong tâm thức mỗi con người đang hiện hữu đó thôi. Trần Thái Tông từng thụ giáo ý chỉ của Quốc sư Phù Vân (Viên Chứng) “Sơn bản vô Phật, duy tồn hồ tâm” (Trong núi vốn không có Phật, Phật chỉ có trong tâm), còn Vua Trần Nhân Tông thông qua tác phầm Cư trần lạc đạo cũng đã bày tỏ tư tưởng ấy. Và không khó để hiểu tại sao những triết lý của Thiền phái Trúc Lâm lại dễ dàng phổ biến trong tư tưởng dân chúng như vậy nếu không có vì những giá trị thiết thực và hài hòa với văn hóa dân tộc Việt.

Vua luôn đề cao Phật tại tâm để dân chúng biết hướng vào chính mình, soi tỏ chính mình, không phân biệt thành phần, tăng tục hay nam nữ, mỗi Phật tử với mỗi tấm lòng là đã trở thành tín đồ của Thiền phái: “Chỉ cốt yếu biện tâm”.

Thông qua các sáng tác văn thơ của Huyền Quang như Chư phẩm kinh, Công văn tập, Thích khoa giáo, Phổ Tuệ ngữ lục, Ngọc tiên tập, nhưng đáng tiếc chỉ còn 24 bài thơ và một bài phú Nôm được lưu giữ, chúng ta sẽ thấy rõ quan điểm, tư tưởng của tác giả đều tập trung bàn về con đường chứng ngộ về lẽ sinh tử trong cõi đời này. Là Thiền sư, cũng là một văn tài được Trần Nhân Tông khen ngợi văn “không thể thêm bớt chữ nào”, Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú khen “ý tinh tế, cao siêu”, “lời bay bướm, phóng khoáng”, hẳn nhiên nội dung tư tưởng tác phẩm của Ngài được trình bày với một bút pháp nghệ thuật khiến người học đạo dễ dàng tiếp nhận.

Cũng như Trần Nhân Tông, Tuệ Trung, quan điểm thiền của đệ tam Tổ cũng khởi đầu bằng cái nhìn kiên định để đập vỡ các khái niệm phân biệt đối đãi nhị nguyên, an nhiên tự tại trước hiện thực cuộc sống biến động. Thực chất của một đời sống đạo là con người phải an trú trong thế giới bình đẳng của vạn pháp dưới cái nhìn Duyên khởi mà theo Huyền Quang gọi là “Nhãn phóng quan”. Trực ngộ như thế thì thị – phi, ma – Phật, mê – ngộ, sinh – tử… chỉ là những cặp phạm trù đối đãi không thật mà con người cần phải bước ra khỏi vòng hệ lụy đó.

Khi trực ngộ, con người hằng sống với cái tâm chân thật của mình, không còn vướng vào vòng tục lụy của danh lợi, địa vị, ham muốn hưởng lạc cuộc đời. Tất cả chỉ là ảo ảnh phù du chẳng có gì để bận tâm, lưu luyến ngay cả khi đối diện với vấn đề sinh tử.
Hình ảnh con người ấy hiện lên thật thong dong tự tại trong thơ ca của Thiền sư Viên Chiếu đời Lý:

“Hứng lai huề trượng du vân kính,
Khốn tức thùy liêm ngọa trúc sàng.”
                                                      (Tham đồ hiển quyết) [11, tr. 281]

Nghĩa:

Hứng lên xách gậy dạo đường quê,
Mỏi mệt buông rèm khểnh chõng tre. 

Thiền sư Hiện Quang thì tìm thấy niềm vui hồn nhiên trong cảnh sống tự do phóng khoáng nơi thôn dã:

“Vô vi cư khoáng dã,
Tiêu dao tự tại nhân.”
                                                           (Đáp Tăng vấn) [11, tr. 553]

Nghĩa:

Vô vi ở đồng quê phóng khoáng,
Làm con người tự tại tiêu dao.

Trong bài thơ Địa lô tức sự, Huyền Quang đời Trần ghi lại một mảng thời khắc sống bình dị mà vui tươi, ý nghĩa của Thiền sư giữa cuộc đời:

“Ôi dư cốt đột tuyệt phần hương,
Khẩu đáp sơn đồng vấn đoản chương.
Thử bả suy thương hòa thái thác,
Đồ giao nhân tiếu lão tăng mang.”
                                                   [12, tr. 687]

Nghĩa:

Củi đã tàn, cũng chẳng thắp hương,
Miệng trả lời chú bé con xóm núi hỏi về chương sách ngắn.
Tay cầm ống thổi lửa, tay nhặt mo nang,
Luống để người ta cười ông sư già bận bịu.

Tại đây, dưới triều đại nhà Trần, các Thiền sinh chứng ngộ đã nhận ra rằng người và Phật không khác nhau. Con người bản nguyên với những giá trị đẹp đẽ nhất chính là Phật. Nhưng con người ấy đã bị che khuất bởi những tâm vọng động, tham lam, ích kỷ, xấu xa, và đó, con người đó chúng ta vẫn hằng tưởng là con người thật của mình hóa ra là con người giả. Trên đường đi tìm về với Phật tức là đi tìm lại những giá trị nguyên sơ đẹp đẽ nhất của chúng ta. Gặp Phật sau cùng là gặp lại chính chúng ta ở thể nguyên sơ nhất. Chúng ta đọc lại “Tự thuật” được chấp bút bởi Trần Thánh Tông để hiểu thêm về câu trả lời chúng ta hiện hữu trên cõi đời này ra sao:

“Nhận đắc bản lai chân diện mục,
Đáo đầu hà xứ bất hưu hưu.”
                                                   [12, tr. 407]

Nghĩa:

Nhận được khuôn trăng như nó có,
Đến đâu mà chẳng thấy hồn nhiên.
                                             (Huệ Chi – Phạm Tú Châu dịch) 

Quan điểm nhìn nhận Phật thể mà Thiền phái chủ trương mang đến một tư tưởng, một lẽ sống cao cả, nhằm khơi gợi sự sáng tạo, sự vươn lên không chỉ trong lòng một cá nhân mà cả một thế hệ, và tinh thần ấy tiếp tục thắp lửa từ thế hệ này sang thế hệ khác. Để cuối cùng, mỗi con người chính là mỗi vị Phật. Sau tất cả, đi tìm những giá trị cũng là để tìm về với chân như – con người thật của mình. Trong Cư trần lạc đạo phú, Sơ tổ từng nói:

“Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch,
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.”

Nghĩa:

Trong nhà sẵn của báu đừng tìm đâu khác,
Đối diện với cảnh mà vô tâm, thì không còn hỏi Thiền nữa.
                                                                          [12, tr. 510]

Việc tìm hiểu tâm của chính mình, suy nghĩ của lòng mình cũng đồng nghĩa với việc con người đã biết Phật không ở đâu xa mà ở chính trong tâm mình. Tìm lại mình tức là gặp Phật. Một triết lý như thế về Phật cũng tựa như người và Phật là bình đẳng với nhau vậy. Và mọi người sống trong xã hội cũng vậy, bình đẳng với nhau về mọi điều, không phân biệt giàu nghèo, nam nữ, sang hèn… Con người dù trải qua biết bao biến động của thời cuộc thì cuối cùng khi nhận thức được, biết chuyển hóa thân tâm được tức là đã được sự giác ngộ trong kiếp này: “Muôn nghiệp lặng, an nhàn thể tính.”

Tinh thần “vô úy” đem lại sự giải thoát, an nhiên, tịch tịnh cho con người và giúp con người rủ bỏ mọi sự ràng buộc của nội duyên và ngoại cảnh đạt được Niết-bàn ngay trong hiện tại.

Thích Nữ Trung Thuận


Tài liệu tham khảo
1. Thích Phước Đạt (2013), Giá trị văn học của Thiền phái Trúc Lâm, NXB. Hồng Đức.
2. Nhiều tác giả (2003), Thiền học đời Trần, NXB. Tôn giáo.
3. Nguyễn Lang (2008), Phật giáo Việt Nam sử luận, trọn bộ, NXB. Văn học, Hà nội.
4. Nguyễn Công Lý (2003), Văn học Phật giáo thời Lý – Trần diện mạo và đặc điểm, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.
5. Nguyễn Công Lý, “Thiền học Lý – Trần với bản sắc dân tộc”, Tạp chí Nghiên cứu Phật học, số 6 – 1996 và số 1 – 1997.
6. Lê Mạnh Thát (1999), Trần Nhân Tông con người và tác phẩm, NXB. Thành phố Hồ Chí Minh.
7. Lê Mạnh Thát (2006), Trần Nhân Tông toàn tập, TP. Hồ Chí Minh.
8. Thích Mật Thể (2004), Việt Nam Phật giáo sử lược, NXB. Tôn giáo.
9. Đoàn Thị Thu Vân, “Một vài nhận xét về ngôn ngữ thơ Thiền Lý – Trần”, Tạp chí Văn học, số 2 – 1992.
10. Đoàn Thị Thu Vân (1998), Thơ thiền Lý – Trần, NXB. Văn nghệ, TP. Hồ Chí Minh.
11. Viện Văn học (1977), Thơ văn Lý – Trần, tập 1, quyển thượng, NXB. Khoa học xã hội.
12. Viện văn học (1989), Thơ văn Lý – Trần, tập 2, quyển thượng, NXB. Khoa học xã hội.