Tìm lại giá trị của Nữ giới Phật giáo trong báo chí thời đại 4.0

24

    Thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, báo chí nói chung, báo chí Phật giáo nói riêng đứng trước những thách thức mới. Người đọc ngày càng quen thuộc với việc đọc tin nhanh qua các trang báo mạng và dần quên đi thói quen xem tờ báo giấy. Tuy nhiên, giống như những món “ăn nhanh” (fast food) là món ăn khoái khẩu với các bạn trẻ, công chức, nhân viên văn phòng… đem lại cảm giác no say và thỏa mãn ngay lập tức, nhưng để lại nhiều hệ lụy nguy hiểm về sau cho sức khỏe. Nếu tình trạng sử dụng thức ăn nhanh kéo dài, việc tiếp nhận quá nhiều tin tức từ “cơn bão thông tin” trên các trang báo mạng không được kiểm soát, sẽ ảnh hưởng không tốt đến “sức khỏe tinh thần” của thế hệ hôm nay và mai sau. Vậy, làm thế nào để phát huy vai trò của báo chí trong thời đại 4.0? Bài viết sau đây nhằm mục đích tìm lại giá trị và vị trí của Nữ giới Phật giáo trong báo chí thời đại 4.0, qua đó góp phần trả lời cho câu hỏi, những người làm báo cần làm gì để thúc đẩy vai trò tích cực của báo chí trong sứ mệnh phụng sự đất nước, phục vụ nhân dân.

Tiền thân của báo Nữ giới Phật giáo

Ra đời với sứ mệnh cao cả của sự nghiệp hoằng pháp, báo chí Nữ giới Phật giáo đã len lỏi tiếng nói của mình trong dòng chảy chấn hưng Phật giáo. Cây bút Nữ giới Phật giáo đầu tiên hưởng ứng phong trào chính là Ni trưởng Diệu Tịnh (1910 – 1942), người được sinh ra trên mảnh đất Gò Công, Tiền Giang, đã mạnh mẽ cất tiếng nói đại diện cho Phật giáo Nam Kỳ. Dưới ngòi bút đanh thép và đầy trực quan của một nữ sĩ tu học chân chính, các bài viết “Lời than phiền của một cô vãi”1, “Cái án ngụy truyền Chánh pháp”2… một thời gây được sự chú ý trong lòng độc giả nhị bộ Tăng Ni, cũng là hồi chuông hiệu triệu, đánh thức ý thức tự lực tự cường của Nữ giới Phật giáo nói riêng và phụ nữ Việt Nam bấy giờ nói chung.

Xem đó, nếu Hòa thượng Khánh Hòa tiên phong thắp đuốc chấn hưng Phật giáo, thì Ni trưởng Diệu Tịnh là người mở lối cho chư Ni có một tiếng nói mạnh mẽ, lan tỏa trên nhiều diễn đàn Ni giới và báo chí hoằng pháp. Nơi một sư Ni trạc tuổi 30 ấy không chỉ khiến cho “Phái tòng lâm có nhiều người thấy vậy mà bắt hổ thầm”3, còn mở đường cho những ngòi bút Ni lưu, tín nữ với nhiều chủ đề gay cấn, vang động như: “Đối với nữ lưu hiện thời chị em ta có nên ghé mắt hay không?”4, “Vấn đề hoằng dương Phật pháp bên nữ giới”5, “Cái tu sơn lâm với cái tu thành thị”6, “Hiện trạng Phật giáo đồ ở nước ta hiện nay”7, “Cái bi cảm đối với Ni lưu kim thời”8… Như vậy, những đóng góp ban đầu của Nữ giới Phật giáo cho Từ Bi Âm không chỉ tạo thêm sự phong phú trang sử báo chí Phật giáo mà còn góp phần không nhỏ trong việc thay đổi nhận thức học Phật trên phương diện bình quyền và bình đẳng.
Làn sóng vẫn tiếp tục đẩy mạnh để nữ giới có mặt và chia sẻ nhiều thông điệp, không những mang tính chất Phật học của thời cuộc còn là những lời tâm huyết nặng gánh mối nợ Phật đồ. Những người con ưu tú đã một thời đến với Tạp chí Tam Bảo và để lại nhiều ấn tượng trong lòng độc giả phải kể đến cây bút Sư ni Diệu Tánh9, Diệu Hương10.

Đặc biệt, báo chí Phật giáo giai đoạn chuyển tiếp (1951 – 1954)11 đã ghi nhận những cây bút kỳ cựu của Nữ giới trong Bồ Đề bán nguyệt san với sự đóng góp tích cực của Ni trưởng Hải Triều Âm.

Sau đó, phong trào được tiếp nối bởi Ni trưởng Diệu Không tại Huế đã cho xuất bản Liên Hoa văn tập vào tháng 02/1955. Năm 1956, tập văn được đổi thành Tạp chí Liên Hoa dưới sự chủ nhiệm của HT. Thích Đôn Hậu, TT. Tâm Đức làm chủ bút và Ni trưởng làm quản lý. Mãi đến sau pháp nạn 1963 – đầu 1964, Tạp chí lại tiếp tục xuất hiện với tên gọi khác là Liên Hoa Nguyệt san, hoạt động được hai năm (1966) đình bản. Dẫu vậy, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của các cây bút Ni lưu, tín nữ trí thức đại diện cho Phật giáo Trung Kỳ như Ni trưởng Diệu Không, Ni trưởng Thể Quán, Thích Nữ Đàm Minh, Thích Nữ Dạ Quang, Sư cô Tâm Huệ, Huyền Không, Như Tâm, Tịnh Như, Giáo sư Nguyễn Thị Thanh (Trường Đồng Khánh), Tín nữ Hàn Thơ, Thủy Ba thôn nữ… Ngoài ra, còn rất nhiều ngòi bút nữ tài năng khác đã cống hiến cho báo chí Phật giáo. Song, vì việc cập nhật bút danh quá vắn tắt nên cũng khó xác định danh tánh.

Riêng báo chí “giai đoạn ổn định” có phần rõ nét hơn về thành phần nhân sự cộng tác và các nét chủ lưu của báo. Đặc biệt, báo chí Nữ giới Phật giáo lại tiếp tục đón nhận sự đóng góp lớn lao của Cố Sư trưởng thượng Như hạ Thanh – một ngôi sao Bắc đẩu của Ni bộ Bắc tông Việt Nam. Với 20 tác phẩm và 8 dịch phẩm tiêu biểu được viết và xuất bản trong suốt 60 năm, “Sư trưởng còn là Tổng Biên tập và Chủ biên của hai tạp chí Phật học mang tên “Đặc san Hoa Đàm” (Tòng Lâm Ni bộ, xuất bản 1973) và Tập san“Nhân cách” (Ni chúng Huê Lâm ấn tống, năm 1966), để khích lệ Ni chúng sáng tác và truyền bá Chánh pháp, dưới dạng thức văn học và phương diện hành đạo thực tiễn.”12 Kết nụ với Hoa Đàm một thời là những gương mặt quen thuộc như: Sư trưởng Như Thanh, Ni trưởng Thể Quán, Phật tử Diệu Ngọc, Diệu Hạnh, Thanh Tâm, Diệu Nhân, Chơn Tịnh, Như Hoa… Dẫu không phân mảng rõ nét nhưng Hoa Đàm thời đó đã phác họa được một lối nhìn khá toàn diện, mang đậm dấu ấn Phật học thường thức đến Phật học ứng dụng cho nhiều tầng lớp cũng như thanh thiếu niên nhi đồng.

“Đặc san Hoa Đàm” trước ngưỡng cửa “cách mạng công nghệ 4.0”.

Nối lại nhịp thở của Hoa Đàm sau gần 40 năm ẩn mình cùng lịch sử, hiện tại, cơ quan ngôn luận này đã được “tục bản” với gần 90 số, kể từ tháng 8/2013 đến nay. Mỗi số trung bình đầu ra dao động từ 4.500 đến 8.000 cuốn. Trong đó, bằng mọi phương tiện gần nhất, Hoa Đàm đều nỗ lực đáp ứng nhu cầu cho bạn đọc gồm cả báo in lẫn báo điện tử với nhiều chuyên mục phong phú: Tin tức và Sự kiện, Cảm tác, Nữ giới, Nghiên cứu, Phật học, Di sản văn hóa, Lối sống, Truyện ngắn, Thơ, Sức khỏe… Thậm chí còn hướng đến chuyên mục Nữ giới Quốc tế.

Có thể nói, sự phục hồi của Hoa Đàm đã ghi nhận việc chung tay, đóng góp lớn lao của nhiều thế hệ, nhiều tiếng nói đến từ chư Tôn đức Ni, các học giả và các tín nữ tri thức. Dưới sự dẫn dắt, cố vấn của Quý Sư Trưởng trong Phân ban Ni giới như Ni trưởng Tịnh Nguyện, Ni trưởng Như Như, Ni trưởng Như Đức (TV. Viên Chiếu), huynh đệ đồng phạm hạnh chúng tôi (Như Nguyệt, Như Ngọc, Hương Nhũ, Như Minh, Diệu Hiếu) đã mạnh dạn kết nối để góp phần tái hiện Đàm Hoa xưa với một diện mạo mới mẻ, vừa mang tính kế thừa và vừa mang tính sáng tạo. Thiết nghĩ, đó là sự bắt nhịp kịp thời để Ni giới có thể song hành cùng với công cuộc hoằng pháp trong thời đại kỷ nguyên số.

Mặt khác, nằm ở vị trí gần như duy nhất, “Tiếng nói chung Nữ giới Phật giáo” không ngừng sửa đổi, cải thiện để góp phần trở nên quy mô hơn trong tầm nhìn các Tôn giáo cũng như xã hội đương thời. Dốc hết sự nỗ lực đó, Hoa Đàm không chỉ đi sâu vào thế mạnh truyền bá Phật pháp ứng dụng, văn hóa Phật giáo hay các Phật sự của Giáo hội, của Ni giới mà còn đồng hành cùng Quốc gia và Chính phủ trong công cuộc duy trì, ổn định xã hội, phát triển đất nước. Đặc biệt, tích cực hưởng ứng hành trình tuyên truyền các chỉ tiêu, cấm chế chung của “đại dịch Covid-19”13. Với sự ý thức về trách nhiệm cộng đồng nhân sinh, “Đặc san Nữ giới” đã nhanh chóng lan rộng mô hình học tập, Đại lễ trực tuyến cho Tăng Ni, Phật tử bằng ứng dụng phần mềm Zoom14. Đồng thời, nơi đây cũng chất chứa nhiều nỗi niềm tha thiết với tiếng lòng nới rộng, nhân đôi vòng tay nhân ái, mang yêu thương gửi về đồng bào các tỉnh thành trong “đại nạn bão lụt miền Trung”15 và “hạn nước mặn miền Tây”16.

Điểm qua giai đoạn này có thể nói, “Hoa Đàm trước ngưỡng cửa cách mạng công nghệ 4.0” đã thể hiện vai trò của một kênh truyền tải thông tin của Nhà nước, Chính phủ đến nhân dân Việt Nam trên khắp mọi miền đất nước, từ thành thị đến nông thôn, từ đồng bằng lên miền núi. Dẫu rằng, trong bối cảnh chung cũng như “những góc khuất” mà “Đặc san” nỗ lực đồng hành chưa trọn vẹn trong mục tiêu ổn định cộng đồng, song với tôi, đó là sự hài hòa, cân bằng để đưa đạo vào đời mà không bị thiên lệch, ngả nghiêng về một mối. Hoa Đàm vì thế, rất chú trọng đến việc giúp bạn đọc hoàn thiện tri thức Phật học từ trong suy ngẫm, tư duy, còn góp phần xây dựng nhân cách cho tầng lớp tín đồ một cách thiết thực từ trong hành động.

Sau hơn 8 năm “tái phục hoạt”, Hoa Đàm đã đón nhận không ít sự động viên, khích lệ, tán thưởng. Đơn cử như lời nhận xét của Nhà báo Lê Minh Đức – nguyên Phó Tổng Biên tập báo Nông Thôn Ngày Nay, kiêm Chủ biên Làng Cười bộc bạch: “thầm khen ngợi sự trình bày tươi sáng, trẻ trung và chuyên nghiệp, thu hút người xem từ cách trình bày cho đến nội dung, cứ ngỡ rằng đặc san của Nữ giới Phật giáo sẽ khô khan với những bài viết nặng về tư tưởng truyền bá Phật học, nhưng quá sai lầm cho sự đánh giá thiển cận”17. Hay với lời nhận xét của TS. Lê Thị Hằng Nga – Phó Tổng Biên tập Tạp chí Nghiên cứu Ấn Độ và châu Á, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, khi Tiến sĩ cho rằng: “Hoa Đàm đã làm được những số đặc biệt, những số chuyên đề (chẳng hạn như số 75- Chào mừng 35 năm thành lập Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM) mà nhiều tạp chí không làm được”18. Tất cả những phản hồi như tiếp thêm động lực và năng lượng cho chúng tôi. Song, chúng tôi cũng vô cùng trân trọng những góp ý chân thành cho sự thiếu sót và hạn chế của “Đặc san” như: “Không nên bỏ quên phản ánh hoạt động Phật sự của Ni giới Hệ phái Khất sĩ, của các tu nữ Hệ phái Phật giáo Nam tông Kinh và nhất là tiếng nói của tu nữ, của nữ Phật tử người Khmer ở Việt Nam”19.Chính những phản hồi đầy “chất xúc tác” này đã xây dựng cho Hoa Đàm có một cái nhìn toàn diện và bình đẳng đối với nữ lưu các tông môn, hệ phái nhiều vùng miền. Qua đó, tạo được một vị trí và thế mạnh chung trong tinh thần kêu gọi đoàn kết Ni giới, đúng với vai trò và sứ mệnh của một cơ quan ngôn luận với tên gọi đầy đủ: “Tiếng nói Nữ giới Phật giáo Việt Nam”.

Lướt qua một vài ưu điểm, đánh giá mang tính tích cực, hiện tại Hoa Đàm vẫn phải đối diện với nhiều khó khăn, thách thức, bao gồm cả thành phần nhân sự, đầu tư nội dung, tư tưởng, thiết kế bản in và nguồn cung ứng đầu ra của báo. Với vai trò Chủ biên của tờ báo, tôi đã dành rất nhiều thời gian để dàn xếp nhiệm vụ cho Hoa Đàm, xem đó như việc chuẩn bị một tuồng chèo. Tuy nhiên, trước sức mạnh vũ bão của trang truyền thông Phật sự Online – kênh tin tức lớn nhất của Giáo hội, “Hoa Đàm” vẫn hanh thông mà không chịu bởi một sức ép cạnh tranh hay thương hiệu nào. Trong sự nặng lòng dành cho các chuyên mục được chuyển tải đầy mới mẻ và thích ứng, “Đặc san” rất chú trọng sàng lọc nội dung, đầu tư cho những cây bút tiếng tăm để tránh tình trạng tung tin tự do, làm nhạt sắc màu và âm hưởng báo chí. Nhờ đó, cơ quan ngôn luận của Nữ giới Phật giáo đã tìm thấy nhiều cơ hội vươn mình từ trong khó khăn của bối cảnh xã hội nói chung và xã hội Phật giáo nói riêng. Điều đáng nói nhất là làm sao để “Đặc san” chào đón độc giả? Bởi thực tế, không phải tự nhiên tờ báo đến được tay độc giả mà đòi hỏi cả một quá trình quảng bá, giới thiệu tầm quan trọng và cần thiết cho sự tu học. Bằng sự nỗ lực đó, đến nay, Hoa Đàm đã kết nối và phát hành được đến 45 tỉnh thành trong nước, thậm chí còn lan tỏa, truyền bá sang cửa ngõ quốc tế như Hồng Kông, Hoa Kỳ, thỉnh thoảng Úc châu. Ngoài ra, “Đặc san”cũng đón nhận rất nhiều bài viết được gửi về từ chư Ni trẻ Hoa Kỳ và sự cộng tác của một nguồn nhân lực đang cần đào tạo tại Học viện Phật giáo Việt Nam TP. HCM. Đó là lý do vì sao cơ quan ngôn luận này vẫn trụ vững và có tiến độ tăng trưởng trong khi nhiều cơ quan, tổ chức, ngành nghề đang tụt dốc hoặc phải ngưng hoạt động vì những ảnh hưởng của các trận đại dịch, đại nạn thiên tai.

Còn nhiều và nhiều lắm những khó khăn, thách thức cần phải khắc phục, dẫu vậy, chúng tôi vẫn nỗ lực hết sức để duy trì và ổn định cả hai dòng “báo điện tử và báo in” với hai ý nghĩa “cập nhật, lưu trữ” kịp và cần cho nhiều đối tượng độc giả có hoàn cảnh, thói quen tiếp cận khác nhau. Hơn nữa, số lượng độc giả theo dõi bằng “báo in” lâu nay không phải ít, trong khi trang thông tin trực tuyến của “Đặc san” cũng chưa “chiêu mộ” được số lượng lớn bạn đọc. Sự khập khiễng này cũng cho thấy phần nào ưu và nhược điểm của các dòng báo. Tuy nhiên, “muốn tồn tại phải chịu thách thức, muốn phát triển cần được dưỡng nuôi”. Vậy nên không có lý do gì phải ép mình “chọn một trong hai”. Với sự kế thừa và phát huy không ngừng di sản này, hy vọng Hoa Đàm sẽ ngày một nở rộ, khoe sắc và được chăm sóc tốt hơn từ những thế hệ sau – những nguồn nhân lực đầy tiềm năng của Ni giới đang ẩn mình hay chưa từng lộ diện.

Đâu là tiếng nói thực sự của Nữ giới Phật giáo Việt Nam?

“Hỏi cho người mà cũng hỏi cho tôi”, là một mệnh đề trải dài với nhiều uẩn khúc và rào cản cần có tiếng nói của nhiều thế hệ, nhiều tầng lớp mà hơn hết là Ni giới. Đây cũng là lý do mà tôi không đặt đối tượng là một thành phần khác ngoài nữ giới và Ni giới. Có thể xem đó là sự “tiếp bước tiền nhân” mà tôi học từ chư Tôn đức Ni tiền bối và cũng là cách bày tỏ sự dõng mãnh trong lối suy nghĩ của người phương Tây, như kiểu: “Phụ nữ phải có quyền đứng lên đòi hỏi mà không mang cảm giác tội lỗi, ích kỷ hay bị gọi là ‘mát dây’”20. Trong không gian này tôi cũng xin mạn phép được trình bày suy nghĩ của mình ở 3 vấn đề nhức nhối hiện nay, về cái nhìn đối với báo chí và công nghệ hiện đại.

Làm rõ về báo chí và sức mạnh truyền thông

Đứng ở vị trí thứ tư, sau cơ quan Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp, báo chí vẫn tiếp giữ chìa khóa “quyền lực mềm” trong sứ mạng lan tỏa thông tin có tính thời sự, tính thực tế và chính xác cao ở nước ta. Dẫu vậy, trong sự phát triển không ngừng và đa dạng của truyền thông, báo chí đôi khi lại bị nhầm lẫn, pha loãng bởi việc rà xét nhiều chỉ tiêu giới hạn quá mức báo chí. Trong khi thực tế, báo chí chỉ là một phần trong lĩnh vực truyền thông, có lịch sử phát triển lâu đời nhất với các loại hình: báo in, báo điện tử, báo hình, báo phát thanh… Sở dĩ Tác giả muốn nhấn mạnh điều này nhằm khẳng định lại vị trí thực sự của báo chí cũng như không muốn thế giới báo chí bị lạm dụng, bị nhồi nhét quá nhiều chức năng. Ngoài ra, việc tách rời là phương thức giúp bạn đọc nhận diện rõ sự dị biệt giữa truyền thông và báo chí, tránh biến báo chí trở thành nạn nhân của các hoạt động truyền thông không rõ chuyên ngành, xuất xứ trong lối nhìn “vơ đũa cả nắm”.

Qua đó cho thấy, bộ phận này đóng vai trò của một công cụ gần như tối ưu, tạo sự kết nối, đẩy mạnh công nghệ truyền thông lên tầm cao mới. Tất nhiên, trong sự hội tụ đa sắc màu của ngành truyền thông, báo chí chưa bao giờ bị xem thừa thãi. Dù thực tế, tốc độ lan truyền thông tin chóng mặt đến từ các phương tiện truyền thông xã hội như Yahoo, Facebook, Twitter, Viber, Zalo, WordPress… quá phổ biến đến đỉnh điểm đáng được gọi “bùng cháy”. Kể ra, cuộc cách mạng công nghệ đã đem lại một bước tiến mạnh với nhiều tín hiệu tích cực trong việc xây dựng, phát triển nhân cách con người và xã hội. Đặc biệt, giúp quần chúng dễ dàng tương tác, trao đổi thông tin, bình luận… Thậm chí có thể chấp bút mọi lúc, mọi nơi nếu muốn thực hiện các cuộc điều tra, phỏng vấn, ghi nhận những tấm gương người tốt, việc tốt. Do vậy, với tôi “truyền thông” là ngôi nhà chung có đủ sức mạnh dưới sự kết hợp và lưu dấu nhiều thông điệp được xây dựng, chuyển tải bởi các ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hoạt động đa chiều. Trong tư thế nhìn nhận đó, tôi luôn sẵn sàng xem truyền thông là “mảnh đất màu mỡ, phù sa” để báo chí được tiếp tục vai trò và phát huy sứ mạng thiêng liêng của mình.

Báo in, báo giấy và “văn hóa đọc” liệu có lỗi thời?

Có thể nói, đây là chủ đề gây bão làm dậy sóng dư luận kể từ khi bắt gặp sự bùng nổ mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và báo điện tử, bất kể là báo tôn giáo hay báo xã hội. Chính vì thế, việc tìm lại vai trò và vị trí của báo chí truyền thống là vô cùng cần thiết. Trong không gian nhỏ hẹp, người viết mạo muội trình bày một vài quan điểm, không phải góp phần chen lấn vào làn sóng dư luận, mà mong muốn tìm lại giá trị và vị trí thực tiễn của các ấn phẩm báo in nói chung.

Dĩ nhiên, thể loại báo nào cũng có những mặt ưu điểm và hạn chế nhất định. Chẳng hạn báo giấy đã xuất hiện và tồn tại suốt hàng thập kỷ qua, giữ nét văn hóa giản dị và truyền thống sâu sắc trong lòng dân tộc, nhất là vào thời kỳ đất nước bị đô hộ, xâm lăng. Ấy vậy mà chỉ trong thời gian không lâu trước sự ra đời thần tốc vũ bão của công nghệ điện tử, báo giấy có vẻ chông chênh và dần mất chỗ đứng trong làng nghề và trong mắt của những độc giả yêu thích cái tính năng nhanh gọn từ “của mới, của lạ”. Đó cũng chính là lý do mà đến nay các sạp báo, tiệm báo cũng như thành phần ưa chuộng báo giấy trên các hẻm phố trở nên hiếm hoi và xa lạ. Giới trẻ xưa trở nên tri thức, thanh lịch trong những tờ báo thì giờ phần đông lại ngại, lại hờ hững với báo giấy trong một dáng vẻ tỏ ý “kém sang”. Họa hoằn lắm mới thấy được một vài ông già bà lão xưa, một số người sợ đau mắt hay số ít không đủ điều kiện truy cập internet còn níu giữ thời gian với báo giấy, báo tường. Nói đi, nghĩ lại, trong cái hiếm, họ cũng là hiện tượng lạ của nhịp sống công nghệ số. Nói chung ở bất cứ nơi đâu, chỉ cần một click hay với một chiếc smartphone và đường truyền internet, người ta đều có thể cập nhật thông tin đa chiều mà không tốn một đồng xu cắc bạc nào.
Trong tư duy đó, không ít người cho rằng đọc báo giấy mất thời gian, lại chỉ biết được một chiều “tin nguội”. Họ cũng tự ra lệnh: Cần gì “Đi một ngày đàng học một sàng khôn”, chỉ cần ngồi ngay nhà cũng có vô vàn thứ để họ trau dồi, sàng lọc tinh hoa cho cuộc sống. Nhưng báo điện tử mà tôi gọi là “thức ăn nhanh” ấy có thực sự hoàn hảo? Đối với tôi, trước mắt, báo điện tử ít nhiều gián tiếp góp phần làm cho báo giấy mất dần vị thế. Và “thế hệ thông thái” suốt ngày cặm cụi giải trí trên diễn đàn điện tử cũng góp phần làm mất dần nét đẹp “văn hóa đọc” của người Việt. Bởi lẽ thông thái thật sự sẽ chẳng cảm thấy mất thời gian đối với cái truyền thống văn hóa dân tộc đã mất hàng thập kỷ để xây dựng, trong khi thế giới vẫn đang cố gắng duy trì.

Đành rằng, báo mạng điện tử mang đến nguồn thông tin nhanh chóng, nóng hổi, có sự tương tác giữa tác giả và bạn đọc. Nhưng nhanh nhất chưa chắc đã là tốt nhất. Vì số lượt thông tin tung ra như vũ bão liệu có được kiểm soát chính xác về sự thật? Và biết đâu được thông tin đã bị nhiễu loạn vì nguồn nào cũng đăng “sự thật về vụ này, kết quả sau cùng của vụ nọ… ” Đó là chưa kể đến việc sao chép, chỉnh sửa mang tính “tam sao thất bổn” để câu view, câu like gây không ít thiệt hại, khiến người đọc không biết đâu là thật, đâu là giả.
Có thể nói, độ cẩn mật và trung thực của báo giấy vẫn để lại một giá trị lớn hơn, dù người đọc phải chấp nhận trong háo hức, mong đợi. Nói thế, không có nghĩa là bài xích báo điện tử, báo hình hay báo phát thanh. Báo giấy, báo in nên được trả lại đúng vị trí, giá trị lịch sử. Tại sao lại cho rằng hình thức này lỗi thời, lạc hậu, trong khi nó chiếm giữ một vị thế rất quan trọng cho ngành nghiên cứu học thuật. Nếu không có giấy trắng mực đen làm phương tiện lưu trữ thì lấy gì để đánh dấu những nấc thang lịch sử trọng đại của dân tộc, của thời cuộc? Ở đây, tôi xin đưa ra một ví dụ điển hình như Đặc san Hoa Đàm – một cơ quan ngôn luận của Nữ giới Phật giáo đã có mặt từ giai đoạn 1973 – 1975. Tuy nhiên, không ít người xem đó là tờ báo “đi sau về muộn” bởi nhiều lý do. Phải chăng do sự sao lưu và thống kê không thể kiểm soát?

Vì được đồng hành và phát huy giá trị lịch sử, người viết không chỉ đi theo thế mạnh của công nghệ báo chí điện tử mà còn song hành với việc bảo tồn, duy trì văn hóa báo in, báo giấy. Thiết nghĩ, thế nào trong bữa yến tiệc đầy sơn hào hải vị cũng có lắm người ưa dùng dưa cà, rau muối đạm bạc, thanh tao… Lại có người ưa mặn, thích cay, rồi cũng lắm người chuộng chua, thèm đắng. Chính vì thế, tôi tâm huyết cho báo chí nhưng không “chẻ sợi tóc làm tư, làm năm”. Tôi nghĩ phải đáp ứng thị hiếu đọc của quần chúng theo kiểu “chay mặn đều dùng được”.

Hơn nữa, tôi cho rằng, báo chí không phải là hàng sale, hàng giảm giá mà là sự tôn trọng tri thức, tôn trọng những người luôn “cầm cân nảy mực” cống hiến cho nhân loại từng con chữ. Tôi lên tiếng điều này vì rất nhiều bạn trẻ đã từ chối báo in, báo tường còn thơm mùi mực và vứt chúng trong xó rác khi người xưa lại hết sức cẩn thận nâng niu với những con chữ cũ kỹ. Vô tình, động thái ấy cũng là câu hỏi lớn đặt ra cho những người, những vùng “còn đói, còn nghèo chữ nghĩa”. Do đó, báo in không hề lỗi thời, nó vẫn còn chỗ đứng lâu dài trong lòng dân tộc. Ngày nào thế giới học thuật còn tồn tại thì ngày đó báo in vẫn còn giá trị. Nó cũng góp phần khẳng định rằng: “Lịch sử báo chí là một bộ phận của khoa học lịch sử.”21


Nữ giới Phật giáo và những trăn trở cho ngành Báo chí

Sau hơn 8 năm gắn bó kinh nghiệm với Hoa Đàm, tôi thấy báo chí chiếm giữ một vai trò quan trọng trong sự nghiệp hoằng pháp của người con Phật xưa cũng như nay. Tuy nhiên, bức tranh hoằng pháp chỉ được vẽ cho những thành viên có khiếu hoạt ngôn đứng trên giảng đường với nhiều pháp thoại Đông Tây kim cổ. Chính vì thế, giá trị của “hoằng pháp” cũng bị đóng khung ngay từ thuở cắp sách đến trường. Thực tế, không ít Tăng Ni trẻ đã gửi gắm ước mơ “phụng sự” của mình để ghi danh vào những khoa, những khóa học mà bản thân không đủ thế mạnh.

Điều đáng nói là chắc gì số lượng đầu ra lại đầy đủ kỹ năng và kinh nghiệm của một hoằng pháp viên? Đó là chưa kể đến những thành phần có hoài bão hoằng pháp nhưng lại bị giới hạn về kỹ năng đứng trước quần chúng hay ngôn ngữ vùng miền. Vậy thử hỏi, đâu là “đất cắm dùi” cho những giấc mơ nhỏ nhoi còn ấp ủ này? Do vậy, khách quan mà nói, báo chí với tôi cũng là một giải pháp, là vũ khí sắc bén giúp hàng triệu người xây dựng nhân cách, vun bồi trí tuệ, cải tà quy chánh… Vì trong lịch sử, báo chí đã thể hiện một sứ mệnh rất cao cả, là phương tiện đưa các nước phương Tây đến với Phật giáo trong những năm cuối thế kỷ XIX22. Đồng thời, báo chí còn là bàn đạp đẩy mạnh phong trào chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam vào thế kỷ XX.23

Tuyệt nhiên, người viết rất quan tâm và quý trọng Tăng Ni đến với thế giới học thuật. Song, không phải tác phẩm nghiên cứu nào cũng dễ đến tay bạn đọc và dễ phổ cập trong quần chúng. Chí ít, nó đòi hỏi phải qua nhiều công đoạn từ Nhà xuất bản. Trong khi đến cộng tác với báo chí, thông điệp của tác giả sẽ dễ dàng chuyển tải hơn.

Có điều, tác giả không giới hạn báo chí ở hình thức nào cả, và luôn quan tâm đến giá trị và ý nghĩa nội dung chuyển tải. Đừng quá lo lắng vì báo mạng sẽ làm biến mất báo in. Nếu người thật sự có nỗ lực và quan tâm thì việc sao kê từ báo trực tuyến ra báo giấy, báo in cũng chẳng có gì là quá khó khăn.

Với tinh thần này tôi vẫn mong mỏi nữ giới đi sâu hơn vào con đường tri thức và tuệ giác. Bởi nó là cánh cửa luôn nâng tầm giá trị người nữ, trau dồi cho phái yếu vơi dần sự “sợ hãi, bất an” trong nhiều phương diện mà hơn hết là nữ tu trước ngưỡng cửa giải thoát. Đừng quá mặc cảm, tự ti, bởi lẽ “Phật tánh không phân nam nữ, không hạn già trẻ”. Mà cái gương của “Long nữ thành Phật” có lẽ là cái gương tiêu biểu nhất để chị em nữ tu không cảm thấy ngờ ngợ, xa xăm đối với những điều không ai biết được sau cái chết.

Như vậy, báo chí Phật giáo nói chung, báo chí Nữ giới Phật giáo nói riêng, luôn đồng hành cùng dân tộc qua những thăng trầm của lịch sử, góp những tiếng nói vừa nhẹ nhàng vừa đanh thép nhằm “gạn đục, khơi trong”, phát huy tinh thần và trí tuệ Việt Nam. Tác giả bài viết cho rằng, trong thời đại 4.0, trong khi tiếp nhận những thông tin từ công nghệ mới, mỗi người cần tiếp tục dành một vị trí nhất định cho báo giấy và nỗ lực duy trì văn hóa đọc, bởi những hạt giống tốt cần có đủ thời gian để nảy mầm. Nữ giới Phật giáo Việt Nam xưa đã thắp lên ngọn lửa tâm linh trí tuệ bền bỉ bất chấp thời cuộc nhiều thử thách, thì hôm nay, các thế hệ Ni giới và Nữ giới Phật giáo cần vượt lên chính mình, có trách nhiệm tiếp tục phát huy tinh thần này của các bậc tiền bối, bất chấp sự hoành hành của những “cơn bão mạng”.

NS. Như Nguyệt



  1. Từ Bi Âm, số 27 – 1933.
  2. Từ Bi Âm, số 73 – 1935.
  3. Cư sĩ Minh Ký, Từ Bi Âm số 117, ngày 1/12/1936, “Một cuộc điều tra về Ni giới”, tr.40.
  4. Sư cô Diệu Ngôn, Từ Bi Âm, số 100 – ngày 15/1/1936, “Đối với nữ lưu hiện thời chị em ta có nên ghé mắt hay không?”, tr.36 – 40.
  5. Sư cô Diệu Minh, Từ Bi Âm, số 116 – 117 và 118, tháng 11 – 12 – 1936, “Vấn đề hoằng dương Phật pháp bên nữ giới”.
  6. Tâm Đăng nữ cư sĩ, Từ Bi Âm, số133/1937, tr.28, “Cái tu sơn lâm với cái tu thành thị”
  7. Diệu Quang, Từ Bi Âm, số 140, tr.40, “Hiện trạng Phật giáo đồ ở nước ta hiện nay”.
  8. Cô Trần Quyên (Louise), “Cái bi cảm đối với Ni lưu kim thời”, Từ Bi Âm, số 82, 1935, tr. 28 – 36.
  9. Tạp chí Tam Bảo số 4 – 1937, Thích Nữ Diệu Tánh, “Đôi lời tâm huyết – ngõ cùng chị em thiện – nữ Đà – Thành”, tr.41.
  10. Tạp chí Tam Bảo số 3 – 1
  11. Theo sự phân chia của Hòa thượng Thích Giác Toàn.
  12. NS.TS. Như Nguyệt (chủ biên, 2019) “Di sản Sư trưởng Như Thanh – kế thừa và phát triển – Ni giới Việt Nam”, NXB. Tổng hợp TP. HCM, tr.205.
  13. Tuyển tập tất cả những bài viết hưởng ứng phong trào phòng chống Covid-19 được đánh dấu tại “Hoa Đàm số 77, 78, 79, 80, 81, 83, 84, 85”, kéo dài từ tháng 2-10/ 2020 với sự tham gia của nhiều cộng tác viên là chư Tôn đức Tăng Ni và các thiện nữ.
  14. Tuyển tập tất cả những bài viết có nội dung trên được đăng tại “Hoa Đàm số 79, 80”
  15. Tuyển tập tất cả những bài viết đầy tâm tình yêu thương và các chương trình thiện nguyện về miền Trung mùa bão lụt được đăng tại “Hoa Đàm số 86”.
  16. Tuyển tập tất cả những bài viết và chương trình thiện nguyện dành cho miền Tây trong đại hạn nước mặn được đăng tại “Hoa Đàm số 79, 82”.
  17.  Tuấn Kiệt, “Món ăn tinh thần của Phật tử”, https://nigioivietnam.vn.
  18. Tuấn Kiệt, “Món ăn tinh thần của Phật tử”, https://nigioivietnem.vn.
  19. T.H.L, “Mừng Hoa Đàm 7 tuổi”, tháng 6/2019.
  20. Betty Friendan: Feminine Mystique, Printed in the USA, 1963. PGS.TS. Nguyễn Thị Nga (chủ biên), “Triết học nữ quyền – Lý thuyết triết học về công bằng xã hội cho phụ nữ”, NXB. Chính trị Quốc gia Sự thật, 2017, tr.20.
  21. Dương Kiều Linh, “Báo chí Sài Gòn 1954 – 1963”, NXB. Văn hóa – Văn nghệ, 2017, tr.15.
  22. Thomas A. Tweed, The American Encounter with Buddhism 1844 – 1912, 2000, University of North Carolina Press, tr. xvi.
  23. Nguyễn Quốc Tuấn và Thích Đồng Bổn, “Hòa thượng Khánh Hòa với phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam”, 2018, NXB. Hồng Đức, tr. 692.


    Tài liệu tham khảo

1. Từ Bi Âm, số 27, năm 1933.
2. Từ Bi Âm, số 73, năm 1935.
3. Hoa Đàm (1973), “Tiếng nói đầu tiên – Đặc san Hoa Đàm”, 23/01/1973, tr.2.
4. Tuyển tập tất cả những bài viết hưởng ứng phong trào phòng chống Covid-19, tu học và hoằng pháp online, tâm tình yêu thương và các chương trình thiện nguyện về miền Trung mùa bão lụt, miền Tây hạn nước mặn được đánh dấu tại “Hoa Đàm số 45, 46, 57, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86”, kéo dài từ tháng 2-10/ 2020 với sự tham gia của nhiều cộng tác viên là chư Tôn đức Tăng Ni và các thiện nữ.
5. Tâm Đăng nữ cư sĩ (1937) “Cái tu sơn lâm với cái tu thành thị”, Từ Bi Âm số 133 (1937), tr. 28.
6. Betty Friendan (1963), Feminine Mystique, W. W. Norton & Company, USA.
7. Thích Nữ Trí Hải (2003), Từ nguồn Diệu Pháp, NXB. Tôn giáo, Hà Nội, tr. 124 – 147.
8. Thích Nữ Diệu Hương (1937), “Tặng Tam Bảo”, Tạp chí Tam Bảo số 3, tr. 60.
9. Tuấn Kiệt, “Món ăn tinh thần của Phật tử”, https://dacsanhoadam.com.
10. Cư sĩ Minh Ký (1936) “Một cuộc điều tra về Ni giới”, Từ Bi Âm số 117, ngày 01/12/1936, tr.40.
11. T.H.L (2019) “Mừng Hoa Đàm 7 tuổi”, tháng 6/2019.
12. Dương Kiều Linh (2017), Báo chí Sài Gòn 1954 – 1963, NXB. Văn hóa – Văn nghệ, tr. 264.
13. Sư cô Diệu Minh (1936)“Vấn đề hoằng dương Phật pháp bên nữ giới”, Từ Bi Âm số 116, 117 và 118, tháng 11, 12/1936.
14. PGS.TS. Nguyễn Thị Nga (chủ biên) (2017), Triết học nữ quyền – Lý thuyết triết học về công bằng xã hội cho phụ nữ, NXB. Chính trị Quốc gia Sự thật, tr. 20.
15. Sư cô Diệu Ngôn (1936) “Đối với nữ lưu hiện thời chị em ta có nên ghé mắt hay không?”, Từ Bi Âm số 100, ngày 15/01/1936, tr. 36 – 40.
16. NS.TS. Như Nguyệt (chủ biên) (2019), Di sản Sư trưởng Như Thanh: Kế thừa và phát triển – Ni giới Việt Nam, NXB. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, tr. 205.
17. Diệu Quang (1936) “Hiện trạng Phật giáo đồ ở nước ta hiện nay”, Từ Bi Âm số 140, tr.40.
18. Cô Trần Quyên (Louise) (1935) “Cái bi cảm đối với Ni lưu kim thời”, Từ Bi Âm số 82, năm 1935, tr. 28 – 36.
19. Nguyễn Quốc Tuấn và Thích Đồng Bổn (2018), Hòa thượng Khánh Hòa với phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam, NXB. Hồng Đức, tr. 692.
20. Thích Nữ Diệu Tánh (1937) “Đôi lời tâm huyết – ngỏ cùng chị em thiện nữ Đà Thành”, Tạp chí Tam Bảo số 4, tr.41.
21. Liên Tôn (1934) “Bàn về ý nghĩa Đại thừa Phật giáo đối với nữ tánh”, Từ Bi Âm số 68, năm 1934, tr.
22. Thomas A. Tweed (2000), The American Encounter with Buddhism 1844 – 1912, University of North Carolina Press, tr. 16.