Tìm hiểu về việc Đức Phật từ chối cho người nữ xuất gia

22

  Trong mỗi thời đại, bình đẳng giới tính luôn là đề tài được nghiên cứu, tranh luận. Vào thời Đức Phật, đây cũng là một trong những vấn đề mang tính xã hội. Trong suốt quá trình hoằng pháp, Đức Phật đã lấy nhân sinh quan làm trung tâm, trong đó tư tưởng bình đẳng được đặt trên nền tảng giải thoát giác ngộ. Mặc dù Đức Phật không chủ trương xóa bỏ sự phân biệt giới quyền, nhưng trong những bài Kinh qua lời dạy của Ngài đều chỉ ra những định kiến giáo điều còn tồn tại trong tư tưởng của xã hội đương thời và hướng tới một xã hội bình quyền. Qua hệ thống Kinh điển Nikayā, một bức tranh chân thật về xã hội Ấn Độ bấy giờ, được hiển hiện rõ cùng với tinh thần nâng cao giá trị của con người trước những khổ đau, nhằm hướng tới giải thoát an lạc. Lý tưởng của con đường đạt giác ngộ, không bị chi phối bởi sắc thân nam nữ. Chính quan điểm này của Đức Phật đã phá vỡ tư tưởng thần quyền vốn tồn tại lâu đời ở đất nước Ấn Độ, đồng thời mở ra một con đường tự do, bình đẳng trong sự giải thoát của nữ giới. Nhận thấy tầm quan trọng và ý nghĩa của việc xả thân cầu xuất gia của Di mẫu Mahaprajapati và 500 người nữ trong giòng tộc, con đã chọn tiêu đề: “Nghiên cứu về việc Đức Phật ba lần từ chối, không cho người nữ xuất gia” để làm đề tài cho tiểu luận này.

Nói đến sự từ chối của Đức Phật về sự xuất gia ở nữ giới là một trong những đề tài mang tính tế nhị. Ý nghĩa và giá trị không nhỏ qua hành động từ chối của Đức Phật, đã được các nhà phân tích sau này lý giải tùy ý niệm. Phạm vi đề tài này xoay quanh vấn đề về sự việc Đức Phật từ chối cho nữ giới xuất gia và ý nghĩa của sự từ chối đó. Bằng nhiều phương pháp khác nhau để sử dụng trong bài nghiên cứu này, như phương pháp nghiên cứu lịch sử để tìm hiểu về bối cảnh xã hội Ấn Độ, phương pháp điều tra xã hội học để tìm hiểu về vị trí người nữ trong xã hội Ấn Độ xưa và nay… cùng nhiều phương pháp khác. Người viết muốn gửi gắm những suy nghĩ của bản thân, từ đó mong có thể phần nào lý giải những nghi vấn của bao người về Ni đoàn như một sự kỳ thị đối với Ni chúng. Bài viết mang tính định hướng về một tương lai củng cố tư tưởng của Ni chúng trong xã hội hiện đại, với sự nhìn nhận chân thật về tự thân.

Mỗi sự kiện ở bất kỳ phương diện nào, đất nước nào cũng đều gắn liền với lịch sử. Phật giáo và sự thành lập Ni đoàn cũng không nằm ngoài khuôn khổ đó. Để có một cái nhìn tổng quát khách quan về đề tài đã chọn, người viết xin trình bày đôi nét sơ lược về bối cảnh lịch sử xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ.

1. Bối cảnh xã hội Ấn Độ

a. Sự phân hóa xã hội Ấn Độ
Vào khoảng 100 B.C, người Aryan di dân vào lưu vực Indus-Ganga, gây xung đột dữ dội, Aryan chiến thắng áp đặt quyền cai trị nhưng cũng bị ảnh hưởng bởi nền văn hóa bản địa. Sau khi chủng người Aryan định cư tại India, một tiến trình đồng hóa và dung hợp đã xảy ra. Một sự pha trộn giữa người bản địa Dravidiens và Aryan đã hình thành giống người mới Ấn-Âu.

Từ đó, tư tưởng đẳng cấp ra đời khi chế độ cai trị của người Aryan được áp đặt lên người bản xứ. Mặc dù trong quá trình dung hợp và đồng hóa của người bản địa, dân tộc Aryan đã hấp thụ và ảnh hưởng rất nhiều từ nền văn hóa mà họ chinh phục. Bên cạnh ấy, dựa vào triết lý Veda, họ tự xem mình là nòi giống ưu việt so với các sắc tộc khác. Đây chính là nền tảng của tư tưởng đẳng cấp phân chia xã hội Ấn Độ thành bốn giai cấp lúc bấy giờ là: Brahma (Bà La Môn), thứ hai là giai cấp Khattiya (S. Kshatriya tức giai cấp chiến sĩ, quý tộc), thứ ba là giai cấp Vesas (S. Vaisyas gồm thương gia và địa chủ). Cuối cùng, giai cấp Shudra (S. Sudras, tức thợ thuyền, tôi tớ) là giai cấp tiện dân, suốt đời làm nô lệ, phục dịch các giai cấp trên.

Song song với chế độ đẳng cấp tư tưởng, Brahma cũng chủ trương mẫu thức lý tưởng về cuộc sống theo tư tưởng Veda. Theo triết lý này, mỗi cá nhân người nam đều trải qua bốn giai đoạn, hay gọi là thuyết Tứ Hành kỳ: (1)Phạm hành kỳ, (2) Gia trú kỳ, (3) Lâm thế kỳ, (4) Độn thế kỳ.

Theo quan niệm của Bà La Môn thì ai tuân thủ nghiêm túc bốn giai đoạn này, sẽ được xã hội cung kính, vì họ tin rằng vị ấy chắc chắn được giải thoát, cứu cánh trong tương lai1. Trên có đề cập đến giai đoạn tu tập theo truyền thống cổ xưa của Bà La Môn, thì người viết nghĩ rằng, đó là bốn bước phải thực hiện như một mặc định. Đây là trách nhiệm của người nam theo dòng Bà La Môn, chứ không phải của người nữ. Bởi lẽ người nữ còn không được dự lễ hay tham gia vào các buổi khấn cầu, tế tự, huống chi lại được thực hiện những nghi lễ tu tập, là một điều chưa bao giờ xảy ra trong chế độ xã hội Ấn Độ cổ đại.

b. Vị trí người nữ trong xã hội Ấn Độ

Theo truyền thống triết lý Bà La Môn, sự hiện hữu của phụ nữ là xoay quanh quyền lực của nam giới, để trang điểm và phục vụ nam giới, để sinh con mà không có tiếng nói. Từ lúc sinh ra cho đến khi trưởng thành, lấy chồng, phụ nữ luôn bị ràng buộc bởi những nguyên tắc của văn hóa xã hội Ấn Độ cổ đại.

Một phụ nữ lý tưởng là một người nô lệ trung thành, biết tuân thủ và phục tùng mọi ý muốn của chồng, thậm chí còn bị tước quyền sống khi người chồng qua đời.
Ngày nay, tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn luôn là vấn đề nhức nhối của xã hội Ấn Độ, vì theo như báo cáo của Ngành Y tế Ấn Độ, thì các bậc cha mẹ Ấn Độ sẽ đến bệnh viện yêu cầu phá thai khi biết đứa con mà họ sắp sinh là con gái.

Ngay từ lúc sinh ra, những đứa con gái luôn phải làm việc nhà và không được đi học, đợi đến khi tới tuổi gả chồng thì gia đình nhà gái còn phải chịu lễ hồi môn không nhỏ cho nhà trai. Trong giai đoạn xã hội hiện đại như ngày nay, thì vai trò người phụ nữ vẫn bị phụ thuộc bởi tiếng nói mang tính bắt buộc của cha đặt đâu con ngồi đó. Trong con mắt định kiến của xã hội Ấn Độ, phụ nữ chỉ là một cây tầm gửi, cả cuộc đời chỉ để phục tùng mệnh lệnh, là bộ máy sinh đẻ hay để thỏa mãn dục vọng của người đàn ông. Họ không bao giờ được ngang hàng với nam giới trong lãnh vực xã hội, không được phép tế lễ, thực hành nghi thức tôn giáo, không được phép học Thánh điển Veda.

2. Bức thông điệp của Đức Phật về vị trí người phụ nữ trong gia đình, xã hội lúc bấy giờ

Nhìn nhận một cách tổng quát về quan điểm xã hội của đạo Phật thì Đức Phật luôn đề cao và chọn con người làm trung tâm. Đức Thế Tôn không tán thành chế độ đẳng cấp tồn tại trong xã hội đang sống. Như các con sông lớn, Yamuna, Aciravati… khi đổ ra biển đều mất đi tên gọi riêng… cũng vậy, bốn đẳng cấp Sát Đế Lợi, Bà La Môn, Phệ Xá, Thủ Đà La khi đến với giáo pháp đều cùng tên gọi là Sa môn Thích tử. Đó cũng là lý do vì sao trong Tăng đoàn đệ tử Phật có đủ hạng người như Bimbisara, Ajatasattu, các Bà La Môn Kassapa, Sariputta, thợ cạo tóc Upali, kỹ nữ Ambapali, tên cướp khét tiếng Angulimala… Bình đẳng giữa bốn giai cấp chỉ khác nhau hành nghiệp của mỗi người. Trong Kinh Tiểu Duyên, Ngài dạy: “Chúng đệ tử của Ta, dòng dõi không đồng, xuất xứ khác nhau, xuất gia tu hành, trong giáo pháp Ta. Nếu có gặp ai hỏi “Ngươi thuộc dòng nào?”, thì nên trả lời họ: “Tôi là Sa Môn, con dòng họ Thích2”. Điều này cho thấy rằng, con người cao quý không phải do sinh đẻ trong dòng tộc sang giàu hay hạ tiện, mà con người cao quý ở ngay chính hành động của bản thân. Có thể nói, tổ chức Tăng già Phật giáo xem trọng tính dân chủ, không có giáo quyền, giáo điều, dựa trên tinh thần lục hòa, đoàn kết tương thân tương ái. Từ đó, chính đức Như Lai đã đồng ý cho Ni giới xuất gia như một khẳng định về tính nhân quyền bình đẳng, hoàn toàn không có sự phân biệt giới tính. Chính vì lẽ đó đã có những bậc A La Hán, thượng thủ trong Ni đoàn như Khema, Gotami… càng như những minh chứng xác thực, thêm một lần khẳng định rằng, nữ giới cũng có thể tu tập và đoạn tận khổ đau trong kiếp sống hiện tại.

Khi Ni đoàn được thành lập, địa vị nữ giới được tôn trọng và bình đẳng. Đức Phật đã trả vai trò của người nữ trong gia đình, người phụ nữ đã có thể làm vợ theo đúng bổn phận và quyền lợi của người vợ, làm mẹ theo đúng nghĩa người mẹ, được phép trông nom, kiểm soát gia đình bao gồm của cải, con cái… Ý nghĩa này được tìm thấy “… chồng đối xử với vợ như phương Tây: Kính trọng vợ, không xem thường vợ, chung thủy với vợ, giao quyền hành cho vợ, sắm đồ nữ trang cho vợ… 3”. Không chỉ dừng lại trong gia đình, phạm vi của người nữ thêm một lần được Đức Phật khẳng định, nâng cao trong lãnh vực cuộc sống. Trong các hoạt động xã hội, nếu các cư sĩ nam dâng phẩm vật cúng dường, bố thí như Cấp Cô Độc, Thái Tử Kỳ Đà…, phụ nữ lúc này cũng được quyền sở hữu và sử dụng tài sản của mình vào mục đích họ muốn, như thí chủ Visakha Migaramata, Ambapali…

Trong Tăng đoàn, địa vị phụ nữ cũng nổi bật như vai trò của nam giới. Nếu bên Tăng đoàn có các vị Đại đệ tử như Trí Tuệ Xá Lợi Phất, Thần Thông Mục Kiền Liên… thì chúng Tỳ Kheo Ni cũng có không ít những bậc Tôn Ni thông tuệ như Dhammadinni, Kisa gotama… Trong thời điểm đó, có thể nói Tăng đoàn Phật giáo là tổ chức đầu tiên đặt nền móng cho triết lý bình đẳng giới tính trong lĩnh vực tâm linh ở xã hội Ấn Độ cổ đại.

Sự đau khổ và bất công đang tràn ngập khắp các nẻo đường, mà các nhà triết lý, những nhà làm đạo của hơn sáu mươi hai giáo phái luôn bận rộn bàn luận về những vấn đề siêu hình, về bản thể vũ trụ, về sự hữu biên hay vô biên của thế giới, của linh hồn… Chính lúc này đây, Đạo Phật ra đời đáp ứng những nhu cầu cần yếu, phủ nhận mọi bất công trong xã hội, sáng lập nên một nền hòa bình, đãi ngộ mọi giai cấp không phân biệt, kỳ thị. Từ đó, Đức Phật không những đã mở ra cho nữ giới con đường giải phóng khỏi thân phận thấp hèn từ ngàn đời trong xã hội cũ, sự lệ thuộc vào nam giới, mà còn ra khỏi ngục tù của bản ngã nhỏ hẹp để cùng hướng tới ánh sáng giải thoát và thọ hưởng sự an lạc trong giáo pháp của Đức Như Lai.

3. Ý nghĩa Đức Phật từ chối cho người nữ xuất gia

a. Ni đoàn thành lập và ý nghĩa

Sau khi lo tang lễ cho chồng là vua Tịnh Phạn, di mẫu Maha Pajapati đến Nrodha, nơi Đức Phật đang tạm trú cầu xin Ngài cho phái nữ xuất gia tu hành, gia nhập Tăng đoàn sống đời phạm hạnh.

Sau hai lần từ chối lời thỉnh nguyện của Di Mẫu, Đức Phật trở về Vesali. Bà Di Mẫu của Phật cùng những người nữ của dòng tộc Thích Ca, tự cạo bỏ tóc, khoác Ca Sa vàng, đầu trần-chân đất bộ hành tới Vesali cầu Phật xin xuất gia. Khi tới nơi, người dính đầy bụi bặm, lòng bàn chân sưng vù, Tôn giả Ananda thấy họ than khóc ngoài giảng đường và xúc động trước sự kiên định tha thiết của những người phụ nữ này, bèn đồng ý chuyển lời cầu Phật giúp họ. Ba lần Tôn giả cầu Đức Phật cho phép người nữ xuất gia và đều bị từ chối.

Tôn giả Ananda bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, nữ giới xuất gia sống không gia đình, trong Pháp và Luật của Thế Tôn, có khả năng chứng đắc tứ quả vị Giác Ngộ được chăng? Đức Phật trả lời: “Này Ananda, có thể được4.” Cuối cùng Đức Phật đồng ý cho người nữ gia nhập Tăng đoàn với điều kiện phải tuân thủ Bát Kỉnh Pháp. Di mẫu và nữ giới dòng Thích Ca hoan hỷ chấp hành tám pháp trên, từ đó Ni đoàn được thành lập.

Người viết nghĩ rằng, Đức Phật đồng ý cho nữ giới gia nhập Tăng đoàn vì sự giải thoát không sai khác. Điều này cho thấy được sự từ bi của Ngài chưa từng bỏ sót một ai dù ở giai cấp nào hay vị trí nào. Đức Phật không tự tôn vinh mình và giáo pháp, mà chính hành động của Ngài trong xã hội khi đó và cho đến ngày nay đang dần được ghi nhận.

Dưới lăng kính khoa học, đạo Phật chính là khoa học; dưới góc độ xã hội, đạo Phật là đạo đức luân lý; với chính trị, đạo Phật như tiếng nói của hòa bình và hạnh phúc; và với vị trí của người hành giả tu tập giải thoát, đạo Phật là cơn mưa tưới tẩm đồng đều cho hết thảy cây lá, chỉ là tùy căn cơ trí hèn của từng cây nên có sai khác. “Đức Như Lai nói pháp một tướng, một vị, nghĩa là tướng giải thoát, tướng xa lìa, tướng diệt, rốt ráo đến bậc Nhất Thiết Chủng Trí như mây lớn kia rưới khắp tất cả cỏ cây lùm rừng và các cỏ thuốc theo giống của mỗi thứ đều được đượm nhuần đầy đủ, đều được sanh trưởng5.”

b. Nguyên nhân Đức Phật từ chối Ni giới xuất gia

Trong Kinh Xà Dụ, Kinh Trung Bộ 1, Đức Như Lai dạy rằng: “Chư Tỳ Kheo, xưa cũng như nay Ta chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ6”. Đức Phật trong Kinh điển Đại Thừa cũng chỉ ra rằng Đức Thế Tôn đã trải qua vô số kiếp như cát sông Hằng thực hành viên mãn các Ba-la-mật để trong kiếp sống này thành Phật. Có lẽ, chính vì sự trải nghiệm tự thân mà Đức Phật thấy được nỗi khổ trong các kiếp sống sanh tử luân hồi và hạnh phúc tối thượng của quả vị giải thoát. Xuất ly mở ra cánh cửa này: “Ta xuất gia như vậy, kẻ đi tìm cái gì chí thiện, đi tìm con đường vô thượng tối thắng, hướng đến tịch tịnh7”.

Có lẽ rằng, chỉ duy nhất một con đường viễn ly chư ác pháp, thân gần bậc chân nhân chính là “Hủy hình thủ khí tiết, cắt ái từ sở thân”. Đó là lộ trình Đức Phật đã đi qua, chư Thánh đệ tử cần cầu và hẳn nhiên cũng không phải riêng của ai mà trừ ra nữ giới.

Nhưng trước khi được sự chấp thuận của Đức Phật, là những lần từ chối không thương tiếc, dẫu có là Di mẫu từng nuôi dưỡng, chăm sóc Ngài. Sự từ chối của Đức Phật lần đầu khi Tôn giả Ananda xin hộ, vì mong Ngài niệm tình mẫu tử thì Đức Thế Tôn nói đã cho bà quả vị Tu Đà Hoàn như một sự báo đền ơn nhũ bộ. “Chính nhờ Đức Thế Tôn, bà Mahapajapati Gotami có đầy đủ năng lực tịnh tín đối với Đức Phật,… với Pháp,… với chúng Tăng, đầy đủ các Giới Luật làm bậc Thánh hoan hỷ8”.

Sự nhận xét ngày nay thật sai lầm khi đánh giá hành động từ chối đó của Ngài là lạnh lùng, là bất hiếu nhưng vốn dĩ mấy ai thấu rõ được trí tuệ và từ bi của Đức Phật. Sự lạm bàn trên mặt hiện tượng thường gây những tranh cãi không ít và xa rời giáo pháp, hay vô tình tạo điều kiện cơ hội cho thành phần xấu ác phỉ báng Chánh pháp.

Trong cuốn Đức Phật lịch sử có đề cập đến vấn đề: “Chánh pháp có thể tồn tại một ngàn năm, nhưng nay vì nữ giới đã được xuất gia, đời phạm hạnh sẽ không tồn tại lâu dài và Chánh pháp sẽ chỉ tồn tại năm trăm năm, giống như những gia đình nào có nhiều phụ nữ và ít nam nhân, dễ trở thành mồi ngon cho bọn đạo tặc cướp tài sản. Cũng vậy, Giáo hội có nữ giới xuất gia giống như một ruộng lúa chín có bệnh dịch trắng như xương và ruộng mía chín bị bệnh rỉ sét đỏ phải tàn tạ9”. Đức Phật đã cảnh báo sự tai hại của nữ giới nếu xuất gia với Tôn giả Ananda như thế, nhằm ý chỉ chớ có nói thêm hay xin thay hộ nữ giới.

Kinh Pháp Hoa, phẩm Đề Bà Đạt Đa nói rằng: “Ngài Xá Lợi Phất nói với Long Nữ rằng: Vì thân gái nhơ uế chẳng phải là pháp khí thế nào lại có thể thành đạo Vô Thượng. Đạo Phật xa rộng phải trải qua vô lượng kiếp cần khổ chứa nhóm công hạnh tu đủ các độ vậy sau mới thành Phật. Lại thân gái còn có năm chướng: Một chẳng được làm Phạm Thiên Vương, hai chẳng được làm Đế Thích, ba chẳng được làm Ma Vương, bốn chẳng được làm Chuyển Luân Thánh Vương, năm chẳng được thành Phật10.”

Đức Phật là bậc đại trí tuệ, nên Ngài rõ biết hết thảy nghiệp duyên của người nữ. Thực tế cho thấy nữ giới phải đối mặt với vô số những trở ngại về thân. Trong triết lý Bà La Môn, nền tảng của bốn bộ Veda, xem phụ nữ là nguồn gốc của mọi rắc rối. Kỳ Na giáo cho rằng, phụ nữ là ngọn đèn soi đường con người dẫn đến cánh cửa địa ngục… Đức Phật nhìn nhận khách quan tâm lý người nữ vốn quá nhiều những lậu hoặc khó trừ. Có thể nói rằng, nam giới cũng có phiền não nhưng xét tổng quan, người nữ là đầu mối của đọa lạc.

Theo Đại Phật Sử ghi rằng: “Lý do từ chối vì Đức Thế Tôn đã quyết định không phải cho phép nữ giới xuất gia một cách dễ dàng mà chỉ sau khi họ đã thể hiện nhiều nỗ lực cố gắng để xin phép xuất gia. Chỉ khi ấy họ mới nhận ra rằng để trở thành một vị Tỷ Kheo Ni trong giáo pháp là điều khó đạt được và họ sẽ gìn giữ phẩm hạnh Tỷ Kheo Ni bằng sự tinh tấn không ngừng nghỉ. Đức Thế Tôn muốn họ quý trọng cơ hội được xuất gia sau khi đã thể hiện nhiều cố gắng11”.

Từ những phần trích dẫn trên, người viết càng dám khẳng định rằng mỗi quyết định dù là ngôn từ, lời nói cho đến hành động của Đức Phật đều có lý do mà chỉ có trí tuệ của Ngài mới rõ biết.

Khi tôn giả Ananda cầu thỉnh Đức Phật cho người nữ xuất gia thì đều bị Ngài từ chối đến ba lần. Có thể nói đây là cách Đức Phật muốn thăm dò phản ứng xã hội và các tôn giáo khác trước một chuyển biến không hề nhỏ này. Bởi đây là một cuộc cách mạng tư tưởng trái ngược với truyền thống lâu đời trong văn hóa Ấn Độ.

Sau đó, khi nhận thấy nguyện vọng tha thiết, thiêng liêng của nữ giới, Đức Phật lại một lần nữa dùng phương tiện, khéo léo đặt ra Bát Kỉnh Pháp như một sợi dây cột người nữ trong giáo điều có phần khác so với Tỷ Kheo. Có thể nói, đây là giải pháp khá tinh tế, nhằm không gây sự chống đối của xã hội đối với Tăng đoàn. Đồng thời có thể nói trong ba lần từ chối của Đức Phật trước ý định xuất gia của người nữ, nhằm thử thách tâm ý từ phía nữ giới trong bối cảnh bấy giờ, bởi sự thực hành tu tập trên con đường giải thoát đòi hỏi sự dũng mãnh của niềm tin và nghị lực vượt khó khăn là không nhỏ.

Những quy định trong Bát Kính Pháp nhằm ngăn ngừa và dẹp tan những nếp nghĩ về giai cấp, cậy quyền hay kiêu mạn của các vị nữ giới trong dòng tộc Thích Ca. Ngoài ra tám điều này cũng giúp các vị Tỷ Kheo giai cấp thấp không bị mặc cảm tự ti và sức ép từ nguồn gốc xã hội.

Ở thời đại ngày nay thì Bát Kỉnh Pháp còn giúp cho những vị Tỷ Kheo Ni dẹp trừ hay đoạn tận tâm chấp ngã, kiêu mạn trước vị Tỷ Kheo ít phước căn hay có những hạn chế trong việc thuyết pháp độ chúng. Nên trong tám điều quy định Tỳ Kheo Ni an cư, tự tứ, thọ giới, sám hối đều đến trước đại Tăng cầu, như một cách để gột tẩy lòng tự kiêu, tự đại ẩn náu sẵn trong tâm người nữ.

Lại nữa, Đức Phật quy định An cư ở nơi có Tỷ Kheo Tăng không phải để phế truất quyền độc lập của Tỳ Kheo Ni, mà là để đảm bảo an toàn phạm hạnh cho Ni chúng. Trong xã hội dù ở giai đoạn nào cũng vậy, những tệ nạn là điều không thể tránh, và phụ nữ, trẻ em luôn là những mục tiêu của những đối tượng phạm tội.

Thật sự đây là một điều quy định tưởng chừng như là bó buộc đến khó chịu nhưng thực tế lại mang ý nghĩa sâu xa về lòng từ của Đức Phật đối với những người con gái của Như Lai. Đức Phật là thế, như Người Cha Hiền từ dùng những phương tiện thiện xảo, trí tuệ để đưa chúng sanh đến bờ giải thoát.

Qua tám điều Đức Phật quy định cho Ni chúng hành trì, thì cũng chính là nhắc nhở Tăng chúng phải tự nỗ lực nhiều hơn để xứng đáng với lòng quy kính của các bậc Trưởng lão Ni nói riêng hay Ni chúng nói chung. Trong tác phẩm Các bậc long tượng trong Phật giáo có ghi: “Này các Tỳ Kheo, các ông đừng nên xem thường Tỳ Kheo Ni Đại Ái Đạo là người nữ. Tuy là thân nữ nhưng lại có đức tính trượng phu, là người có đức hạnh cao cả12…”. Đức Phật đối trước Đại chúng tán thán đức hạnh của bà vì muốn hàng nữ giới sau này hãy noi theo tấm gương sáng của Bà mà tu học, nhất là tấm gương về sự tuân hành Bát Kỉnh Pháp.
Nội bộ Ni đoàn ngày nay cần lắm việc giữ gìn quy củ Bát Kỉnh Pháp, bằng cách treo nơi bảng tự chùa Ni hay tịnh thất tám lời dạy này, như chính Đức Phật dạy trước khi nhập Niết-bàn đã từng nói phải tôn kính Ba La Đề Mộc Xoa làm Thầy như Ta còn tại thế không khác. Tám điều này chính là Giới Luật, là Thầy dẫn đường của Ni chúng dù ở bất cứ thời đại nào. Sao có thể vì tầm ảnh hưởng và quan trọng của một số vị Ni thành tựu lớn mà cam tâm trái lời Phật dạy, hay lạm bàn về việc bác bỏ Bát Kỉnh Pháp.

Khi Ni chúng thực hành Bát Kỉnh Pháp như một điều tất yếu, như một sự nhậm vận tự nhiên không cần cố gắng hay gò ép, thì chính những sự thành kính đó hướng tới chư Tăng sẽ làm trưởng dưỡng tâm khiêm hạ và thêm lớn công đức. Bởi ai có thể hay rằng, các Ngài chính là Bồ tát thị hiện giữa chốn chợ đời mà giáo hóa chúng sanh. Nội bộ Tăng đoàn lấy lục hòa làm thước đo phẩm hạnh và sự quy kính chư Tăng của Ni chúng sẽ làm thui chột đi những mầm tư tưởng bất thiện của Tăng nhân trước một vị Ni. Có thể nói, điều này vô cùng hữu hiệu cần nên áp dụng triệt để trong môi trường giáo học như những bài học cần thiết dành cho Ni chúng ngày nay.

4. Phật giáo với phong trào bình đẳng trên hai phương diện

Phẩm hạnh của người phụ nữ sau khi Đức Phật ra đời đã được đề cao một cách thiết thực trên hai phương diện chính:

a. Bình đẳng về mặt hiện tượng xã hội:

Trong Kinh Thiện Sinh, Đức Phật gián tiếp khẳng định quyền bình đẳng của người nữ trong xã hội, qua đoạn kinh Đức Phật dạy người chồng phải đối xử với người vợ: “Người chồng nên lấy năm điều mà yêu thương cấp dưỡng người vợ. Năm điều đó là gì? Một là yêu thương vợ, hai là không khinh rẻ, ba là sắm các thứ chuỗi ngọc, bốn là ở trong nhà để cho vợ được tự do, năm là xem vợ như chính mình13”.

Bằng cách nói lên bổn phận của người chồng đối với vợ và ngược lại, Đức Phật đã âm thầm gián tiếp gieo vào lòng quần chúng tư tưởng thương yêu, tôn trọng và đề cao nữ giới. Mô hình chung, quyền bình đẳng của nữ giới dần được thiết lập trong xã hội.

b. Bình đẳng về mặt Tăng đoàn và chứng đắc

Đức Phật là vị giáo chủ đầu tiên cho phép người nữ gia nhập trong Tăng đoàn Phật giáo. Trong thời kỳ xã hội có sự phân biệt, kỳ thị không nhỏ với người nữ đến mức thấp kém, thì Đức Như Lai lại là người đầu tiên nâng vị trí người nữ đến mức quan trọng nhất trong lịch sử. Nếu nói Tăng đoàn là một nhóm người từ bốn người trở lên, sống đời sống thanh tịnh hòa hợp, cùng nhau hướng đến tu tập giải thoát, thì hình ảnh Ni đoàn trong giáo pháp Đức Thế Tôn cũng đồng ý nghĩa như vậy. Có thể nói, điều Đức Thế Tôn làm là hy hữu và duy nhất trong các hệ thống tôn giáo và trường phái tư tưởng từ trước đó cho đến khi Phật xuất thế. Kinh Tiểu bộ, Đức Phật có dạy: “Phàm có con sông lớn nào,… khi chảy đến biển, đều bỏ tên họ cũ trở thành biển lớn. Cũng vậy, có bốn giai cấp sau khi từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia trong Pháp và Luật, được Như Lai tuyên bố, họ từ bỏ tên và họ của mình từ trước, và họ trở thành những Sa môn Thích tử14”.

Bên Tăng đoàn có các bậc Thượng thủ như Sariputta, Moggallana… thì trong các vị đệ tử Tỳ Kheo Ni cũng có Đại Trí Tuệ là Khema, Đại Thần Thông là Uppalavanna, Trì Luật là Patacara… Nếu xét về mặt tâm linh, thì rõ ràng Đức Phật cũng muốn người nữ được dự phần giải thoát, bởi vị biển là mặn và hương vị của Giáo pháp là giải thoát. Như trường hợp của Hoàng hậu Khema đã đắc quả A La Hán trước khi xuất gia. Cũng vì lẽ đó mà khi có du sĩ ngoại đạo Vacchagotta hỏi Phật có vị Tỳ Kheo Ni nào đoạn trừ các lậu hoặc chứng đạt thắng trí ngay trong hiện tại không thì Đức Phật trả lời: “Này Vaccha, không chỉ có một trăm, hai trăm, ba trăm, bốn trăm, năm trăm mà còn nhiều hơn thế nữa là những vị Tỳ Kheo Ni, đệ tử của Ta, đã đoạn trừ các lậu hoặc, với thượng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại, vô lậu tâm giải thoát và tuệ giải thoát15”.

Qua một vài dẫn chứng trên, đã cho chúng ta nhìn nhận, nhấn mạnh về vị trí của người phụ nữ trên lộ trình tu tập giải thoát và khẳng định giáo pháp của Đức Phật không phân biệt, chỉ thuần một hương một vị.

Thật là một phúc duyên lớn cho người viết khi được tìm hiểu về đề tài “Tìm hiểu về sự từ chối của Đức Phật cho người nữ xuất gia”. Bởi chính nhờ duyên lành này mà người viết được tìm về nguồn cội, được tự mình cảm nhận lại nỗi đau thể xác của cuộc hành trình theo chân Đức Phật của chư vị Tổ Ni và quyết tâm của quý Ngài với mong ước gia nhập Tăng đoàn. Chính nhờ sự nỗ lực đó mà hàng học Ni ngày nay mới có thiện căn được tu tập, hòa mình trong biển pháp đối trị nghiệp chướng của bản thân, được đượm nhuần vị sữa Giáo pháp. Sinh ra phải làm thân nữ là chướng duyên không nhỏ, nhưng không có nghĩa rằng người nữ biết tu thiện tích phúc không tồn tại. Đúng là người nữ thường được coi là hiểm họa, nhưng cũng không vì thế, mà đặt vị trí người nữ ở thế ngoài lề, hay không được quan tâm, coi trọng. Chỉ với đề tài Nghiên cứu về vấn đề Đức Phật từ chối nữ giới xuất gia, mà người viết đã được tăng trưởng tâm ý thiện pháp về Đức Từ Phụ-một Bậc Đại Y Vương vĩ đại nhất đã đem ánh sáng chân lý soi rọi cõi lòng u mê, tăm tối cho chúng con có cơ hội được nhận phần giải thoát. Bản thân người viết cho rằng, chính nhờ sự từ chối đó năm xưa của Đức Phật, mà Ni giới ngày nay đã dần thành tựu và có những bước đột phá không kém gì chư Tăng. Song, bên cạnh đó cũng có vài ý kiến đưa ra yêu cầu bỏ Bát Kỉnh Pháp. Sau bài tiểu luận nhỏ này, thì bản thân người viết là một học Ni, và có thể tương lai là một vị Trụ trì dẫn dắt Ni chúng, xin mạn phép đưa ra ý kiến nhỏ có phần hạn hẹp của mình là việc bỏ Bát Kỉnh Pháp là điều không nên. Chẳng phải vô cớ hay tự nhiên mà Đức Phật từ chối rồi lại đồng ý cho nữ giới xuất gia, hẳn đều có nguyên do và hệ quả của tương lai, chính là sự thành tựu của những bậc Ni lưu trong Phật giáo vẫn từng ngày từng giờ được khẳng định bằng sự tu hành giản dị, hay lối sống an nhiên của quý Ngài đó sao.

Có thể nói, đây là một vấn đề từng gây nhức nhối, hoang mang tạo nhiều nghi vấn. Với tài hèn sức mỏng của bản thân, người viết cũng xin đóng góp vài thiển ý nhỏ với mong mỏi mượn Kinh tải ý, nhằm tỏ rõ những nghi án vướng mắc trong tâm của không ít những vị Ni trẻ, để từ đó có chút tư lương kiến thức về Bát Kỉnh Pháp, gói ghém bên mình như chính lời Đức Phật dạy từ kim khẩu, mà y giáo phụng hành trong từng khoảnh khắc. Ngõ hầu không cô phụ cuộc cách mạng tư tưởng năm xưa của Đức Từ Tôn và sự nỗ lực cố gắng kiên trì của chư Tổ Ni trong quá khứ. Từ đó, người viết cũng tự vun bồi khí chất bản thân mới mong tự độ mình và giúp người.

Công Đức Lâm


  1. HT.Thích Thanh Kiểm, Lược Sử Phật giáo Ấn Độ, tr. 29-30.
  2. Tuệ Sĩ dịch, kinh Trường A Hàm Tập 1, kinh Tiểu Duyên, tr.184 -185.
  3. HT.Thích Minh Châu dịch, , Kinh Trường Bộ 1, Kinh Giáo Thọ Thi Ca La, tr. 541.
  4. Trần Phương Lan dịch, Đức Phật lịch sử, tr.274.
  5. HT Trí Tịnh dịch, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, phẩm Dược Thảo Dụ, tr.146.
  6. HT.Thích Minh Châu dịch, Trung Bộ 1, Kinh Xà Dụ, tr.140.
  7. HT.Thích Minh Châu dịch, , Trung Bộ 1, Kinh Thánh Cầu, tr 163.
  8. HT Minh Châu dịch, Trung Bộ 3, Kinh Phân Biệt Cúng Dường, tr 571.
  9. Trần Phương Lan dịch, Đức Phật lịch sử, tr 276.
  10. HT Trí Tịnh dịch, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, phẩm Đề Bà Đạt Đa, tr. 261
  11. Tỳ Khưu Minh Tuệ biên dịch, Đại Phật Sử tập 3, tr.6.
  12. Khả Triết, Các bậc long tượng trong Phật giáo, tr 166.
  13. Tuệ Sĩ dịch, kinh Trường A Hàm Tập 1, Kinh Thiện Sinh, tr. 352.
  14. HT.Thích Minh Châu dịch, Kinh Tiểu bộ tập 1, chương V, Phẩm Trưởng lão Sona, tr. 216.
  15. HT Minh Châu dịch, Kinh Trung Bộ 2 Đại Kinh Vacchagotta, tr. 600.


    Tài liệu tham khảo
    1. Hòa thượng Thích Minh Châu (dịch 1999), Kinh Tiểu Bộ tập 1, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam ấn hành.
    2. HT Thích Thanh Kiểm (2006), Lược Sử Phật giáo Ấn Độ, Nxb Tôn giáo.
    3. HT Minh Châu (dịch 2018), Kinh Trung Bộ tập I, II, Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam truyền, Nxb Tôn giáo.
    4. Thích Trí Tịnh (dịch 2007), Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Nxb Tôn giáo.
    5. Hán dịch Thích Đạt Hòa, Việt dịch Thích Hạnh Bình (2017), Khái luận lịch sử Phật giáo Ấn Độ, Nxb Phương Đông.
    6. Tỳ Kheo Minh Tuệ dịch, Đại Phật sử tập II- III, Nxb Tôn giáo.
    7. Trần Phương Lan (dịch 2000), Đức Phật lịch sử, Nxb TP. HCM.
    8. Khả Triết (2011), Các bậc Long tượng trong Phật giáo, Nxb Tôn giáo.