Tìm hiểu tượng Phật ở chùa Bửu Hưng

127

. Đôi nét về Chùa Bửu Hưng và vị trí địa lý

Chùa Bửu Hưng tên chữ Hán là Bửu Hưng tự (寶興寺) hay còn gọi là Bửu Hưng Cổ Tự (寶興古寺), vì nằm gần rạch Cả Cát1 nên đồng bào đạo hữu và những người dân quanh vùng thường gọi là chùa Cả Cát. Di tích Lịch sử – Văn hóa Chùa Bửu Hưng dưới thời phong kiến thuộc thôn Hòa Long, huyện Vĩnh An, trấn Vĩnh Thanh. Trước năm 1975, chùa thuộc xã Hòa Long, quận Đức Thành, tỉnh Sa Đéc. Sau 30/4/1975 chùa thuộc xã Hòa Thắng, huyện Thạnh Hưng, tỉnh Đồng Tháp. Từ tháng 8 năm 1989 đến nay, Chùa Bửu Hưng tọa lạc tại ấp Hòa Ninh, xã Long Thắng, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.2

Nép mình dưới những hàng cây sao cao vút và những khóm trúc xanh tươi làm tôn thêm vẻ đẹp uy nghi cổ kính của một ngôi chùa cổ thuộc vùng sông nước miền Tây Nam Bộ. Đường về Chùa Bửu Hưng có nhiều ngã, có thể đi từ hướng Cao Lãnh về qua QL30 và QL80 hoặc từ cầu Mỹ Thuận rẽ theo QL 80 hướng phà Vàm Cống, đi qua khỏi Sa Đéc khoảng 10 km đến cầu Dương Hòa (cống Ba Bọng), theo đường thủy đi ghe vào chùa khoảng 3,5 km, cũng có thể đến bến xe Lai Vung ngay đầu thị trấn, quẹo trái đi dọc theo con rạch khoảng 3 km là đến chùa. Chùa Bửu Hưng có vị trí:

– Phía Đông: giáp Rạch Cả Chanh.
– Phía Tây: giáp ranh đất của ông Nguyễn Văn Pho.
– Phía Nam: giáp ranh đất ông Nguyễn Văn Nhiều.
– Phía Bắc: giáp ranh đất của bà Lê Thị Đức.

Với tổng diện tích khuôn viên khoảng 13.760m23. Trong đó, diện tích Tiền đường và Chính điện là 314 m2, diện tích tiền sảnh và nhà Tổ là 288 m2, nhà giảng: 198 m2, sân phơi lúa: 130 m2, ao nước sinh hoạt 238 m2, diện tích còn lại là nhà trù, Ni xá, sân kiểng, vườn cây ăn trái và các công trình phụ.

2. Tượng thờ ở Chùa Bửu Hưng

Trong Chùa Bửu Hưng có tất cả 58 tượng thờ, trong đó có 26 tượng bằng gỗ, một tượng bằng đồng, 20 tượng bằng xi măng và 10 tượng được tạo từ nguyên liệu gốm. Các tượng bằng gỗ đều có niên đại ở thế kỷ XIX và XX. Ngoài tượng Phật A Di Đà được Vua Minh Mạng gởi vào cúng dường, Chùa Bửu Hưng còn có các tượng khác được tạc bằng gỗ như: bộ tượng Hộ Pháp Khuyến Thiện – Trừng Ác, Địa Tạng thượng kỳ thú, Tiêu Diện đại sĩ, Giám Trai sứ giả, Già Lam, Quan Công, Ngọc Hoàng đại đế, Nam Tào – Bắc Đẩu và bộ Thập điện Diêm vương,… Các tượng này đều có giá trị cao về niên đại cũng như nghệ thuật điêu khắc.

2.1. Các tượng thờ có niên đại ở Chùa Bửu Hưng

Tượng Phật A Di Đà: được thờ ở vị trí chủ vị thuộc gian trung tâm của chính điện, có niên đại vào năm Minh Mạng thứ hai (tức là năm 1821). Vua Minh Mạng sau khi lên ngôi đã cho tạc tượng Phật A Di Đà gởi vào cúng dường để bày tỏ lòng biết ơn Hòa thượng Chùa Bửu Hưng khi xưa đã che chở cho Tiên đế (Nguyễn Ánh – Vua Gia Long) trong cuộc lánh nạn Tây Sơn, Trụ trì lúc này là HT. Tiên Thiện Từ Lâm. Tượng được tạc bằng gỗ mít, cao 2,3m tính cả đài sen, được sơn son thếp vàng, tuy nhiên trải qua thời gian dài nên tượng đã phai màu. Dưới đài sen có bệ đỡ tượng Phật được làm bằng gỗ sơn màu đen, chạm khắc hoa văn, các hoa văn được thếp vàng, có chiều cao 0,43m, xung quanh được chạm khắc diềm trang trí và hoa văn, bốn chân bệ được chạm khắc mẫu hoa sen trang trí.

Tượng Phật A Di Đà được tạc trong tư thế ngồi kiết già thiền định trên tòa sen – còn gọi là tư thế Vajrasana (Bảo tòa Kim cang), hai bàn tay kiết ấn đặt trên hai đùi, hai đầu ngón tay cái chạm nhau, mắt nhắm thiền, tai dài, áo phủ hai vai, trên ngực nổi chữ vạn (卍 – Svastika) to, màu đỏ. Khác với những pho tượng Phật trong nền văn hóa tạc tượng của Chăm-pa hay Óc Eo, tượng Phật Chùa Bửu Hưng mang đậm phong thái của người Việt. Với những đường nét nghệ thuật chạm trổ theo kiểu nhát đục đã khắc họa nên những hảo tướng của một vị Phật. Tượng được tạc với nụ cười an nhiên, tư thế ngồi tự tại tạo nên sự thân thiện, gần gũi. Đồng thời qua đó thể hiện niềm mong ước một cuộc sống an vui, lạc quan tự tại của những người con Việt ở đầu thế kỷ XIX.

Theo tìm hiểu, đây là một trong hai bức tượng được triều đình Huế gởi vào Nam cúng dường. Tượng thứ nhất được cúng cho chùa Khải Tường ở Gia Định và tượng thứ hai cúng cho Chùa Bửu Hưng. Khi so sánh hai pho tượng với nhau, người viết nhận thấy: kích thước, chiều cao, tư thế ngồi và phong cách tượng có rất nhiều nét tương đồng. Vì vậy mà có thể nói rằng: tượng Phật Chùa Bửu Hưng và tượng Phật chùa Khải Tường (hiện được lưu giữ tại Viện Bảo tàng TP. Hồ Chí Minh) có cùng một xuất xứ và niên đại. Tính đến nay tượng Phật A Di Đà Chùa Bửu Hưng đã được 199 năm.

Ngoài tượng Phật A Di Đà, Chùa Bửu Hưng còn có các tượng được tạc bằng gỗ khác có giá trị nghệ thuật cao như:

Tượng Hộ Pháp Khuyến Thiện – Trừng Ác: là hai pho tượng được đặt đăng đối hai bên bàn Phật A Di Đà, tượng Hộ Pháp Khuyến Thiện bên trái và tượng Hộ Pháp Trừng Ác bên phải của bàn Phật A Di Đà4 (hướng từ trong nhìn ra). Hai tượng có chiều cao tương đương nhau gần 2,1m, được an vị trên ghế thờ có chiều cao là 1,05m, chiều rộng là 0,68m.
Tượng Hộ Pháp Khuyến Thiện được tạc với gương mặt hiền từ, đầu đội mũ Kim Khôi, mình mặc áo giáp trụ, có hổ phù trấn ở đai lưng, râu dài đến bụng, mắt nhìn thẳng, tay phải cầm kiếm, mũi kiếm chống lên sừng con rồng dưới chân, tay trái cầm ngọc (nhưng viên ngọc này theo thời gian có lẽ đã bị rớt mất), hai chân mang giày mũi hài, đứng trên phù điêu chạm rồng ẩn trong mây. Tượng có phong thái phương phi, mạnh mẽ của một bậc hộ pháp, thanh kiếm trong tay là một biểu tượng về trí tuệ trong Phật giáo, trí tuệ sắc bén ấy sẵn sàng chặt đứt mọi tơ hào vọng tưởng của thế gian, ngọc sáng trên tay là để chiếu soi dìu người đi vào nẻo sáng.

Tượng Hộ Pháp Trừng Ác, được chạm với gương mặt dữ tợn, mắt trợn ngược, râu quai nón hùng hổ, đầu đội mũ Kim Khôi, tướng mạo phương phi, oai nghi bệ vệ, mình mặc áo giáp trụ, tay phải cầm búa, tay trái thủ thế võ, chân mang giày mũi hài, đứng trên mình rồng. Tượng thể hiện phong thái mạnh mẽ, với ý nghĩa sẵn sàng diệt trừ cái ác, răn đe những người có tâm hạnh xấu ác, giúp họ nhìn lại và tu sửa chính mình.

Tượng Thích Ca đản sanh: được thờ ở bàn Cửu Long phún thủy đặt ở Tiền đường, mặt thờ xoay vào trong đối diện với bàn Phật A Di Đà. Toàn bộ bàn thờ được chạm bằng gỗ, bên trên tượng đản sanh là các khung gỗ tách rời được gắn mộng vào nhau, hoa văn trang trí rất đẹp. Khung chủ phía trước tạc hình chín con rồng với chín tư thế khác nhau lấy hình đầu rồng trên đỉnh khung làm chuẩn, chín rồng này cùng phun nước chầu về Đức Phật. Trung tâm bàn, thờ tượng Đức Phật được tạc trong hình hài của một đứa trẻ, với mình trần quấn một chiếc khăn như chiếc váy có nút thắt trước bụng, hai chân đứng trên tòa sen, một tay chỉ trời một tay chỉ đất biểu thị cho câu: “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”. Nghĩa là trên trời, dưới đất duy có ta là bậc tôn quý. “Ngã” ở đây chỉ cho tâm Phật, chỉ có tâm Phật là cao quý, bất sinh bất diệt, là mục đích hướng thiện của muôn loài. Đây là mẫu tượng phổ thông xuất hiện ở các chùa sau thế kỷ XVII, các tượng đương đại về sau này thay phần váy phía dưới thành dải khăn vắt qua vai và cột thắt ở phần hông theo kiểu Phật giáo Nam Tông, hoặc có khi tạc đầy đủ xiêm y.

Trên khung cửu long ở các tầng mây được an trí nhiều tượng Phật, Bồ-tát, chư Thiên,… nhằm mô tả một cảnh giới Phật, Bồ-tát thu nhỏ. Toàn bộ bàn thờ được thể hiện như một bức tranh lịch sử về sự đản sanh của Thái tử Tất Đạt Đa, từng nét chạm trổ hoa văn được điêu khắc tinh xảo, bệ thờ được chạm tứ linh (long, lân, quy, phụng) theo chầu. Các tượng đủ hình thể được an trí trên khung cửu long như hàm ý bày tỏ niềm hân hoan của cả ba cõi khi Đức Phật thị hiện nơi chốn Ta Bà, chư Thiên trỗi nhạc dâng hoa cúng dường, mười phương ba đời chư Phật đồng tán dương khen ngợi và chín rồng phun nước tắm thân Như Lai. Đây là một biểu tượng đẹp, thiêng liêng trong văn hóa Phật giáo, thể hiện sự tôn kính và tán thán công hạnh của Đức Phật.

Tượng Địa Tạng thượng kỳ thú: được thờ ở chái bên trái của chính điện, đặt ở giữa và chung bàn với tượng Địa Tạng và Quan Âm Bồ-tát. Hai tượng Quan Âm – Địa Tạng đều được đúc bằng xi măng, đứng trên tòa sen, sơn son thếp vàng, cao 1,5m. Tượng Địa Tạng thượng kỳ thú có lớp áo phủ bên ngoài đều là màu đen, đây là lớp sơn thí được sơn trước nhiều lần, nhằm gắn chặt lớp đất hom và vải vào gỗ trước khi thếp vàng cho tượng5. Trước kia tượng cũng được sơn son thếp vàng, song do thời gian khá lâu nên màu sơn bên ngoài đã tróc hết, chỉ còn sót lại một ít bám vào các cạnh khe của tượng và các đường chỉ áo vẫn còn màu nâu đỏ. Tượng được tạc ở thế ngồi tự tại trên mình con Đề thính, khuôn mặt đầy đặn, đầu đội mão Tỳ lư, tay trái đặt ngang bụng trên tay cầm ngọc Như ý, tay phải đưa ngang ngực trong tư thế cầm tích trượng (cây tích trượng nay đã không còn), thân đắp y phục theo Phật giáo Bắc tông. Tượng ngồi trong tư thế an lạc, tự tại. Con Đề thính phía dưới làm tòa được tạc trong tư thế nằm phủ phục, đầu ngoảnh vào nhìn Ngài Địa Tạng, nét mặt hoan hỷ. Đề Thính được xem là một linh vật có thể nghe được hết mọi thứ trong Tam giới, giúp Địa Tạng Bồ-tát phân biệt được thật giả đúng sai, ngọc Như Ý với ánh sáng trong suốt có thể soi sáng nẻo vô minh, cứu độ chúng sanh siêu thoát chốn địa ngục.

Tượng Tiêu Diện đại sĩ: Trong Chùa Bửu Hưng có hai bộ tượng Tiêu Diện đại sĩ và Hộ Pháp Vi Đà, đặt hai bên của bàn Cửu Long phún thủy. Hai tượng Hộ Pháp Vi Đà và một tượng Tiêu Diện phía trước được đúc bằng xi măng, sơn son thếp vàng. Riêng tượng Tiêu Diện ở phía sau bên phải bàn Cửu Long phún thủy được tạc bằng gỗ, cao 1,15m. Y phục của tượng được sơn màu nâu đen có viền chỉ màu xanh đậm. Trên đầu đội tượng Bồ-tát Quan Âm, tay trái chống hông, tay phải trong tư thế cầm cờ (lá cờ này hiện không còn), mình mặc áo giáp trụ, chân không mang giày. Đây là pho tượng ngoài việc phụng thờ để lễ bái, tượng thường được thỉnh để trần thiết trong những trai đàn chẩn tế tại Chùa Bửu Hưng trong những dịp lễ.

Tượng Già Lam – Giám Trai: Đây là những tượng thờ biểu thị cho bậc Hộ Pháp ở chốn tòng lâm. Cũng giống tượng Địa Tạng thượng kỳ thú, các tượng này cũng bị phai màu áo, hiển hiện rõ màu sơn then thường dùng trong nghệ thuật tạc tượng, làm cho tượng càng có phong thái trầm tĩnh và cổ xưa.

Ngoài ra, trên chính điện Chùa Bửu Hưng còn thờ tượng Phật Thích Ca, tượng Di Lặc, tượng Văn Thù, Phổ Hiền, Chuẩn Đề Bồ-tát, … là những tượng có kiểu dáng đương đại nhưng lại gần gũi vì hầu như các chùa theo Phật giáo Bắc tông đều thờ những tượng này. Các tượng đều được đúc bằng xi măng, sơn son, thếp vàng và mang nhiều ý nghĩa trong việc độ sanh cũng như độ tử của Phật giáo.

2.2. Các tượng thờ có tín ngưỡng của nền văn hóa dân gian

Ngoài thờ Phật và Bồ-tát, trên chính điện Chùa Bửu Hưng còn có sự dung hòa giữa tín ngưỡng dân gian và Phật giáo, đó là việc thờ các tượng như: Quan Công, Ngọc Hoàng đại đế, Thập điện Diêm vương,… thể hiện sự giao thoa văn hóa giữa Phật giáo và các tín ngưỡng dân gian trong những buổi đầu du nhập nơi vùng đất mới. Hơn nữa, đời sống người dân Nam Bộ thời bấy giờ gắn bó mật thiết với ruộng đồng, giáo lý nhân quả nghiệp báo của Phật giáo đối với họ còn sâu xa, khó hiểu, nhưng chỉ cần nghe đến tên của các vị này, họ phần nào hiểu được thế nào là việc làm đúng hay sai, là thiện hay ác để từ đó họ sửa đổi bản thân mình. Sự dung hòa này cũng chính là một hình thức dùng quan điểm nhận thức của người để giúp đỡ người thăng tiến trên con đường tâm linh, nhắc nhở họ tránh xa việc ác, biết tu điều thiện. Ở đây xin giới thiệu về các tượng có niên đại lịch sử:

Bộ Thập điện Diêm vương: gồm 10 tượng được chạm với hình thái giống nhau. Bộ tượng này được thờ đăng đối ở chái trái và chái phải của Chùa Bửu Hưng. Trên mỗi bàn thờ 05 vị Diêm Vương mặc áo long cổn có bổ tử trước ngực, ngồi trên ngai, tay ngai được chạm đầu rồng và hai vị phán quan tay cầm cuốn thư, đứng hầu hai bên. Các tượng được tạc bằng gỗ, cao khoảng 45cm, trên đầu đội mũ thiên bình (tua ở bốn góc mũ nay không còn) hai tay cầm thẻ bài, chắp nghiêm trang trước ngực, ở dưới có khăn phủ tay, lưng có cân đai và chân mang hia rất đạo mạo. Bộ tượng Thập điện Diêm Vương được xuất hiện đầu tiên ở thế kỷ XVIII, ở đây thể hiện sự dung hòa văn hóa của Phật giáo đối với Đạo giáo và Trung Hoa. Các chùa thờ bộ tượng này nhằm mục đích giáo dục, khuyến tấn cho việc hướng thiện của Phật giáo đối với quần chúng và tín đồ Phật tử.

Bộ tượng Ngọc Hoàng đại đế và Nam Tào – Bắc Đẩu: Bộ tượng này được thờ phía bên gian phải của chính điện. Ngọc Hoàng với ý nghĩa là vua trời, người nắm giữ vận mệnh của vạn vật trong vũ trụ. Nam Tào – Bắc Đẩu được xem là hai vị cận thần bên cạnh Ngọc Hoàng đại đế cầm sổ sanh và tử quyết định sự sống chết của thế gian. Bộ tượng này được chạm nhỏ so với các chùa khác, có chiều cao tương đương với bộ Thập điện Diêm Vương, hai vị Nam Tào Bắc Đẩu không ngồi ghế đai như ý nghĩa của tượng mà lại có hình tướng giống vị phán quan bên bàn Thập điện Diêm Vương. Bộ tượng này được thờ trong chùa với ý nghĩa muốn răn dạy mọi người làm lành, lánh dữ. Làm lành thì sẽ được Nam Tào ghi vào sổ phước và sống lâu, còn làm ác sẽ bị Ngài Bắc Đẩu ghi vào sổ tử và sẽ yểu thọ, chết sớm. Đây cũng là một hình thức mượn tín ngưỡng dân gian cho mục đích giáo dục trong Phật giáo.

3. Lời kết

Có thể thấy ở Chùa Bửu Hưng có rất nhiều tượng thờ được làm từ nhiều chất liệu khác nhau nhưng đều khắc họa được những đường nét hảo tướng của các tượng Phật, Bồ-tát,… Đáng chú ý nhất là nghệ thuật tạc tượng gỗ, những bức tượng không quá cầu kỳ về hoa văn trang trí, được tạo tác bằng thủ công theo phương cách nhát đục và sơn thếp nhưng lại có phong thái điềm nhiên, trầm tĩnh, tự tại với gương mặt thiền và nụ cười an nhiên. Hầu hết các tượng Phật ở Chùa Bửu Hưng có màu sắc nhẹ nhàng, không lòe loẹt, y phục không hoa văn tiểu tiết rườm rà nhưng vẫn toát lên sự trang nghiêm vốn có, đồng thời tạo nên không gian vừa trầm vừa ấm cho một ngôi cổ tự. Tượng thờ ở Chùa Bửu Hưng có niên đại sớm nhất là tượng Phật A Di Đà ở thế kỷ XIX, vào thời Vua Minh Mạng, các bộ tượng khác dần xuất hiện sau đó, nhất là đầu thế kỷ XX (khoảng những năm 1909 đến 1911), sau khi HT. Như Lý Thiên Trường trùng tu xong chính điện các tượng thờ gần như đầy đủ. Về sau số lượng tượng có tăng thêm, chủ yếu là các tượng được làm từ xi măng, thạch cao và gốm,… có niên đại ở thế kỷ XX và XXI.

Tượng thờ ở Chùa Bửu Hưng có dáng đầy đặn, mặt tròn, tư thế ngồi tự tại đã thể hiện phần nào tâm tư của người dân Việt ở thế kỷ XIX và XX với mơ ước một cuộc sống an nhàn, thảnh thơi và đầy đủ, đồng thời thể hiện nội tâm của người tạc tượng từ bao thế kỷ trước cùng với nghệ thuật khéo léo từ đôi bàn tay tài hoa của họ đã tạo nên những tác phẩm có giá trị cao về văn hóa và tư tưởng. Phật giáo vào Nam theo chân đoàn người Nam tiến đã và luôn đồng hành cùng dân tộc, đặc biệt là trong giai đoạn du nhập, gắn bó với nền nông nghiệp của cha ông qua bao đời nên cách tạc tượng cũng nhẹ nhàng, giản dị và thuần Việt.

Thích Nữ Huệ Liên


  1. Cả Cát ngày xưa là một cái lung lớn được hình thành tự nhiên, được phát hiện từ thời mới khai hoang, lập ấp vào khoảng cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII. Tương truyền lung này hồi đó chứa rất nhiều cát, người dân quanh vùng thường đến lấy cát để phục vụ cho nhu cầu xây dựng. Ban đầu, lung Cả Cát có chiều rộng khoảng 5m dài 2 km, đến năm 2004, Nhà nước cho vét lại lung bằng máy cơ giới tăng chiều rộng lên khoảng 10m nhưng chiều dài của lung bị thu ngắn lại gần một nửa do người dân lấp lung để trồng lúa và hoa màu. Lung này hiện nay không còn nữa do phù sa bồi lấp, vì chùa nằm cạnh lung Cả Cát nên còn có tên là chùa Cả Cát.
  2. Lê Thị Vân Thanh (chủ biên) (2020), Địa Danh Lịch sử – Văn hóa huyện Lai Vung, Ủy ban nhân dân huyện Lai Vung, Đồng Tháp ấn hành, tr. 186.
  3. Đo đạc bởi Đơn vị tư vấn khảo sát: Công ty TNHH Sài Gòn Chaos, TP. Hồ Chí Minh năm 2020.
  4. Ở một số chùa khác, hai pho tượng này thường đặt đăng đối bên cửa vào ở gian Tiền đường, tượng Hộ pháp Khuyến Thiện đặt bên phải chùa, tượng Hộ pháp Trừng Ác bên trái chùa (từ ngoài nhìn vào). Đây là lối thờ theo vòng hành hương của Phật tử. Bước vào cửa gặp ngay Ngài Hộ pháp Trừng Ác với ý răn đe người hành hương buông bỏ tâm niệm ác và các trược niệm trước khi bước vào chốn thiền môn. Và khi ra về họ sẽ gặp Hộ pháp Khuyến Thiện đưa tiễn với ý sách tấn họ làm lành, gột rửa tham – sân – si, tu hành tích phước. Đây là hình thức ẩn ý “vào ác, ra thiện” để giáo hóa trong Phật giáo.
  5. Trang Thanh Hiền (2019), Nghệ thuật tạo tác tượng Phật trong các ngôi chùa Việt, NXB. Hà Nội, tr. 131 – 138.


    Tài liệu tham khảo:

1. Nguyễn Tuệ Chân (biên dịch) (2008), Nghệ thuật Phật giáo, NXB. Tôn giáo, Hà Nội.
2. Trang Thanh Hiền (2019), Nghệ thuật tạo tác tượng Phật trong các ngôi chùa Việt, NXB. Hà Nội.
3. Trần Hồng Liên (2019), Góp phần tìm hiểu Phật giáo Nam Bộ (Văn hóa và Xã hội), NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội.
4. Mạc Chấn Lương (2009), Tạc tượng và kiến trúc chùa, NXB. Mỹ thuật, Hà Nội.
5. Lê Thị Vân Thanh (chủ biên) (2020), Địa danh lịch sử – Văn hóa huyện Lai Vung, Ủy ban nhân dân huyện Lai Vung, Đồng Tháp ấn hành.