Tìm hiểu Thuyết Duyên khởi trong Pháp uẩn Túc luận (Dharmaskandha-pàda)

30

HĐ  Pháp Uẩn Túc luận (法蘊足論, S.Dharmaskandha) một trong sáu bộ luận của Hữu Bộ, do Đại Mục-kiền-liên tạo (Mahā Moggallā), theo truyền thuyết của Huyền Trang. Hình thức của bộ luận được tạo theo dạng khế kinh, tức căn cứ vào một hay nhiều bài kinh cùng chủ đề, để luận giải về thể tài đó. Đây được xem là hình thức A-tỳ-đạt-ma (S. Abhidharma) cổ xưa nhất.

Luận phẩm gồm 12 quyển, phân 21 phẩm. Mỗi phẩm đều y cứ vào một bài Kinh chính trong Kinh A hàm, sau đó các luận sư đưa ra luận giải của mình như trích dẫn thêm bài Kinh khác nhau để làm minh chứng. Chủ đề Duyên khởi (縁起, S.pratītyasamutpāda), hay gọi là thuyết Duyên sinh, được Đức Phật chứng ngộ và giảng giải trong nhiều bản Kinh A-hàm (hoặc Nikāya tương đương). Tác giả luận phẩm Pháp Uẩn Túc Luận y cứ bài Kinh Nhân duyên (số 296 – Kinh Tạp A-hàm) để luận giải về chủ đề này. Đồng thời, phần giải luận dựa vào Kinh Pháp thuyết- Nghĩa thuyết (số 298 – Kinh Tạp A-hàm) làm cơ sở luận chứng.

Thuyết Duyên khởi trong Kinh điển A-hàm

Bản Kinh Nhân duyên (Số 296 – Kinh Tạp A-hàm), Đức Phật thuyết cho các vị đệ tử Tỳ Kheo về lý duyên khởi. Nội dung bản Kinh, Đức Phật thuyết giảng cho các đệ tử về sự duyên sinh của vòng luân hồi sanh tử của con người. Một giáo lý riêng dành cho chúng hữu tình, chứ không bao hàm chung chung cho tất cả các loài, hay chung cho thế giới thiên nhiên: Cỏ cây sông núi… Đó là thuyết “12 nhân duyên”: Từ vô minh duyên hành… cho đến già chết, là sơ đồ chi tiết quá trình sanh-lão-bệnh-tử của nhân sinh1. Nói cách khác, đó là quá trình sanh-tử và tái sinh của con người. Đồng thời, do con người không nhận rõ các tiến trình này, có nhận thức sai lầm về nó nên hình thành các nổi khổ lớn như ưu, bi, khổ, não. Và đạo Phật là con đường đưa đến sự nhận chân về sự thật thế gian, về sự luân hồi trong sáu nẻo của kiếp người. Đức Thế Tôn dạy rằng:

“Nay Ta sẽ nói pháp nhân duyên và pháp duyên sanh.

“Thế nào là pháp nhân duyên? Là cái này có nên cái kia có, như duyên vô minh nên có hành, duyên hành nên có thức, cho đến, tụ tập thuần một khối khổ lớn như vậy.

“Thế nào là pháp duyên sanh? Là vô minh, hành,… dù Phật có xuất hiện hay chưa xuất hiện ở thế gian thì pháp này vẫn thường trụ, pháp trụ, pháp giới. Pháp này Như Lai đã tự giác tri, thành Đẳng chánh giác, vì người diễn nói, chỉ dạy, hiển bày rằng: Duyên vô minh có hành, cho đến, duyên sanh nên có già, bệnh, chết, ưu, bi, khổ, não2

Ngay từ đầu, Đức Phật đã khẳng định chủ đề của bài thuyết pháp hôm nay là giảng nói pháp nhân duyên và pháp duyên sanh. Sau đó, Ngài định nghĩa và giải thích thế nào là pháp nhân duyên là gì? Và thế nào là pháp duyên sanh? Một người bình thường, khi đọc lướt qua đoạn kinh này, cứ tưởng Phật sẽ nói về hai bài pháp riêng biệt, hay hai vấn đề khác nhau, để rồi khởi tưởng phân biệt, tìm kiếm nét tương đồng và khác giữa hai khái niệm này.

Thực chất đây là hai mặt của cùng một vấn đề. Nói rõ hơn, đó là sự tánh và sự tướng của con người trên hành tinh này. Nhân loại trên trái đất tuy có khác nhau về hình tướng bên ngoài (cao lớn – thấp bé), về màu da (trắng, đen, vàng… ), về chủng tộc… nhưng đều đồng nhau về bản chất duyên sanh, duyên khởi hay còn gọi là pháp nhân duyên. Mọi người, mọi loài đều được hình thành từ “cái này có nên cái kia có”. Giáo lý nhà Phật cũng gọi đây là quy luật nhân quả, chi phối toàn bộ cả tam thiên đại thiên thế giới, trong đó có hành tinh trái đất và cả loài người. Không những chỉ đúng với sự tướng vật chất, mà còn bao gồm cả thế giới tinh thần, trong đó nỗi khổ của nhân loại, chính là thuần một khối khổ lớn.

Nguyên lý Duyên khởi được gọi là chân lý, bởi lẽ nó luôn đúng theo chiều thời gian và cả không gian. Dù cho Đức Phật có ra đời hay không ra đời thì nguyên lý ấy vẫn luôn hằng hữu, luôn chi phối tất cả sự tướng thế gian từ vật chất đến tinh thần. Thế nên, Đức Phật gọi đó “Các pháp này, pháp trụ, pháp không, pháp như, pháp nhĩ, pháp chẳng lìa như, pháp chẳng khác như, chân đế, chân thật, không điên đảo3.”. Và bản văn Pali gọi chung là “tánh” của các pháp: “An trú là giới tánh ấy, pháp trú tánh ấy, pháp quyết định tánh ấy, y duyên tánh ấy4”.

Nương vào pháp tánh duyên khởi mà có sự hiện khởi các pháp thế gian, gọi là pháp duyên sanh. Cá thể con người là một pháp duyên sanh, pháp duyên có hình tướng luôn biến đổi từng sát na, từ khi còn là em bé mới chào đời, ta lớn lên thay đổi qua bao hình dạng khác nhau, rồi ta đang dần đi đến hình tướng già và chết. Tất cả các hình tướng đều là pháp duyên sanh, và không có hình tướng nào cố định hay đứng yên dù trong giây phút. Đức Phật dạy các Thánh đệ tử nên hiểu như thế để không truy tìm kiếm ta trong quá khứ, ta trong hiện tại hay ta trong tương lai. Ta có mặt chính là do duyên sanh.

“Đa văn Thánh đệ tử đối với pháp nhân duyên và pháp duyên sanh bằng chánh tri thấy rõ như thật, không truy tìm về đời trước nói rằng: ‘Tôi trong đời quá khứ hoặc có, hay không có? Tôi trong quá khứ là loài gì, tôi trong quá khứ như thế nào?’ Không truy tìm tương lai nói rằng: ‘Tôi ở đời vị lai hoặc có, hay không có? Tôi là loài gì, tôi sẽ như thế nào?’ Bên trong chẳng do dự: ‘Đây là những thứ gì? Tại sao có cái này? Trước đây chúng là cái gì? Sau này chúng sẽ là cái gì? Chúng sanh này từ đâu đến? Ở đây mất rồi sẽ đi về đâu5?”
Thế nên, biết rõ con người thật của chính mình, nên các đệ tử Phật không còn tâm niệm truy tìm về quá khứ, cũng như không ước vọng đến tương lai, sống an vui hiện tại cho bản thân mình và cho mọi người, mọi loài xung quanh.

Cũng giảng nói về sự tánh, sự tướng của mười hai chi trong pháp duyên sinh, nhưng trong Kinh Pháp thuyết – Nghĩa thuyết (Số 298 – Kinh Tạp A-hàm), Đức Phật nói chi tiết hơn về các tướng trạng, các chi phần, gọi là phần thuyết nghĩa. Một cách chi tiết, Đức Phật đã miêu tả như thế nào gọi là Vô minh ? Kinh Pháp thuyết – Nghĩa thuyết dạy rằng: “Thế nào là vô minh? Nếu chẳng biết tiền tế, chẳng biết hậu tế, chẳng biết cả tiền hậu tế; chẳng biết trong, chẳng biết ngoài, chẳng biết cả trong lẫn ngoài; chẳng biết nghiệp, chẳng biết báo, chẳng biết nghiệp báo; chẳng biết Phật, chẳng biết Pháp, chẳng biết Tăng; chẳng biết Khổ, chẳng biết Tập, chẳng biết Diệt, chẳng biết Đạo; chẳng biết nhân, chẳng biết pháp sanh khởi bởi nhân; chẳng biết thiện, bất thiện, có tội, không tội, tập, không tập; hoặc kém, hoặc hơn; nhiễm ô, hoặc thanh tịnh; phân biệt duyên khởi, tất cả đều chẳng biết; đối với sáu xúc nhập xứ không giác tri như thật, đối với các pháp này không thấy không biết, không hiện quán, bị si ám, không có minh, tối mù mịt, đó gọi là vô minh6”.

Tương tự với các chi phần khác, Đức Phật mô tả, phân loại các dạng hình tướng của mười hai chi theo sự nhìn thấy, cảm nhận, nhận thức của người đệ tử thời bấy giờ. Đối với căn cơ, trình độ của người học thời đó, Đức Phật đã thống kê, gom nhóm các hiện tượng theo sự hiểu của người thế tục. Ví như: Hiện tượng của người già là tóc bạc đầu hói, da nhăn, tay chân yếu ớt, lưng còng… , hiện tượng chết là tuổi thọ chấm dứt, thân hoại, hơi ấm lìa thân, mệnh sống kết thúc… Có thể nói các hiện tướng của quá trình’ sanh-già-bệnh-chết’ trong mỗi giai đoạn lịch sử sẽ có sự mô tả khác nhau, tên giọi khác nhau. Kể cả, mỗi quốc gia, mỗi sắc tộc cũng có sự nhận thức khác nhau. Thế nên, thế giới hiện tượng là muôn màu muôn vẻ, nhưng đều đồng bản chất duyên sanh. Hiểu lời Phật dạy, chúng ta không cố chấp phân biệt sự vật hiện tượng dựa trên hình tướng, nhằm tránh gây ra những tranh cãi vô ích.

Xét về phần nội dung, bản Kinh Pháp thuyết Nghĩa thuyết có thể xem như phần tiếp nối, phần luận giải của Đức Thế Tôn cho bản Kinh Nhân duyên. Hình thức luận giải xuất hiện nhiều trong Kinh điển nguyên thuỷ, gồm hai phần tổng thuyết và biệt thuyết7. Hai phân đoạn có thể do Đức Phật nói, hoặc Đức Phật nói phần tổng thuyết, còn các thánh đệ tử luận giải phần biệt thuyết. Đơn cử vài bản Kinh trong Trung A hàm như: Phân Biệt Lục Xứ Kinh, Phân biệt Đại Nghiệp Kinh. Về sau, các luận sư Phật giáo cũng dựa vào Kinh điển để luận giải lời dạy của Đức Phật. Ví như hai bản Kinh Tạp A-hàm (dẫn trên) được các luận sư Hữu Bộ luận giải như sau trong tác phẩm Pháp Uẩn Túc Luận.

Thuyết Duyên khởi trong Pháp Uẩn Túc Luận

Chủ đề Duyên khởi (Pratītyasamutpāda), thuộc phẩm 21 trong Pháp Uẩn Túc luận (Abhidharma dharma-skandha-pada), được chia làm hai phần chính: Một, là trích dẫn bài Kinh Phật; Hai, là phần luận giải của các luận sư. Bài viết này chủ yếu so sánh phẩm Duyên khởi trong bộ luận này với hai văn bản Kinh Tạp A-hàm như trên. Theo đó, phần Kinh của phẩm luận tương với bài Kinh số 296, còn phần luận thì dựa trên bài Kinh số 298 (cùng thuộc Kinh Tạp A-hàm) và một số bài kinh khác trích từ Kinh Trường A-hàm, Trung A-hàm.

1. Phần Kinh

Nội dung bài Kinh được trích dẫn tương đương Kinh Nhân Duyên (số 296- Kinh Tạp A-hàm). Tuy có vài điểm dị biệt như nơi Phật thuyết pháp, cách xưng hô giữa Phật và các đệ tử, cũng như tên gọi các khái niệm. Luận viết: “Một thời, Bạc- già- phạm trụ trong vườn Cấp Cô Độc, rừng Thệ-đa, thành Thất la phiệt”… “Đức Thế Tôn nói với chúng Bí sô”; “Như Lai sẽ tuyên thuyết về duyên khởi và pháp duyên sanh cho các ông8”. So với “Một thời, Phật ở tại vườn Trúc, khu Ca-lan-đà nơi thành Vương xá. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo: Nay Ta sẽ nói pháp nhân duyên và pháp duyên sanh.9

Những sự sai khác này, theo các nhà học giả thường cho rằng các luận sư (thời kỳ Phật giáo bộ phái) luận giải giáo nghĩa có phần dựa trên Kinh truyền tụng, thay vì Kinh biên tập chữ viết, và phần nơi chốn có sự ảnh hưởng vùng miền của bộ phái đó. Tuy nhiên, phần nội dung Kinh, triết lý giáo điển mới thật là phần quan trọng hơn. Nội dung bài Kinh được trích dẫn bao gồm câu chuyện Đức Phật giảng nói cho đệ tử về thuyết duyên khởi và pháp duyên sanh. Đó là pháp mà Đức Phật đã chứng ngộ nơi thế gian, pháp ấy hằng hữu dù cho Đức Phật có ra đời hay không ra đời. Và Ngài khuyên các thánh đệ tử đa văn nên khéo tư duy, khéo thấy biết bằng chánh tuệ để chứng ngộ thuyết duyên khởi này, đoạn trừ các tri kiến chấp ngã, chấp pháp do vô minh gây tạo. Và cuối cùng, các Bí sô đã hoan hỷ tín thọ lời Phật.

2. Phần Luận

Căn cứ trên nội dung bài Kinh trích dẫn trên, các luận sư Hữu Bộ cũng đã phân phần luận nghĩa ra hai phần: Một nói về phương pháp luận tứ cú, về tánh quyết định của duyên khởi, hai là ý nghĩa của các chi phần trong mười hai nhân duyên. Nói cách khác, phần một nói về tánh quyết định của các pháp, phần hai nói về sự tướng của các pháp đó.

Quyết định tánh là gì ?

Dựa vào phương pháp tranh luận Tứ cú10, các luận sư kết luận: Pháp duyên khởi cũng là pháp duyên sanh11 , đó là do ‘có sanh’ nên dẫn đến ‘có già chết’. Cho nên, chi Sanh là duyên khởi tánh, là pháp tánh của duyên dĩ sanh. Và nữa, tuy sanh và diệt là hai pháp riêng biệt, nhưng chi ‘sanh’ là tánh quyết định của chi ‘già chết’. Đó gọi là lý duyên khởi, mang tính hằng hữu, cố định. Các luận sư lý luận rằng:“Nếu sanh quá khứ mà không phải là duyên cho già chết, thế thì lẽ ra sanh vị lai cũng không là duyên cho già chết. Nếu sanh vị lai mà không phải là duyên cho già chết, thế thì lẽ ra sanh quá khứ cũng không là duyên cho già chết. Nếu sanh quá khứ mà không phải là duyên cho già chết, thế thì lẽ ra sanh hiện tại cũng không là duyên cho già chết12”.

Đồng thời, các luận sư cũng lý luận rằng: Nếu không có duyên khởi thì Phật đã không nói về nói. Nhưng điều Phật đã nói là: “sanh duyên già chết”, nguyên lý này có tính quyết định. Nguyên tắc này luôn đúng trong ba thời quá khứ-hiện tại-vị lai. Đó cũng là sự chứng biết của bậc Thánh trước, Thánh sau đều chứng ngộ như vậy, cũng chính là chân lý, hiện thực, không dối gạt, không trống rỗng, không điên đảo, không đổi khác13. Từ sự lý giải tính hằng hữu của ‘quyết định tánh’ (lý duyên sinh) qua ba thời theo chiều thời gian, các luận sư Hữu Bộ đưa đến chủ trương ‘Tam thế thật hữu, pháp thể hằng tồn’. Pháp thể (hay bản thể của các pháp) theo định nghĩa của bộ luận này là ‘quyết định tánh’, là duyên sanh, là ‘cái này có do cái kia có’, là ‘duyên sanh nên có già chết’.

Quyết định tánh được các luận sư Hữu Bộ định nghĩa nương theo lời dạy của Phật trong Kinh A hàm là “cái này có là do cái kia có”. Già chết là do sanh mà có, cũng như con cái từ nơi cha mẹ mà ra, cây trái là từ hoa mà thành… Điều này mang ý nghĩa: Không sự vật nào có mặt trên cõi đời này mà không có nhân duyên của nó. Cái này làm nhân để cho cái kia ra đời, cái kia lại trở thành nhân để cái khác tiếp tục ra đời. Và cứ như thế, thế giới nhân duyên trùng trùng điệp điệp, sanh sanh diệt diệt nối tiếp lẫn nhau. Triết lý này đã phủ nhận hoàn toàn các quan điểm của ngoại đạo, cho rằng các hiện tượng sự vật trên trái đất là do tự nhiên mà có, hoặc do Đấng Thượng đế sáng lập nên… Theo quan điểm Phật giáo, các pháp đều do duyên sanh, không có pháp nào tự nhiên mà có, không do bậc siêu nhiên nào tạo ra, và cũng không có cái Ngã nào tồn tại một cách độc lập, riêng biệt.

Quyết định tánh không những chỉ đúng với chi phần “sanh duyên già chết”, mà còn chi phối đối với tất cả các chi phần khác: Hữu, thủ, ái, thọ, xúc, xứ, danh sắc, thức, hành, vô minh cũng đều tuân thủ theo nguyên tắc này. Do đó, hiện tướng của mười hai chi phần đều nền tảng duyên khởi mà biểu hiện.

Hiện tướng 12 chi phần nhân duyên

Luận bàn về hình tướng của các chi phần, các luận sư Hữu bộ cũng bắt đầu bằng chi vô minh. Do chúng sanh không biết về tiền tế, hậu tế, bên trong bên ngoài, không biết pháp Tứ Đế, không phân biệt thiện – bất thiện… nên có vô minh14. Và chính vô minh này làm duyên đưa đến hành, hành duyên thức… cho đến già chết. Ở mỗi chi phần, các luận sư tạo luận cũng đã trích dẫn các nguồn Kinh điển Phật giáo khác, nhằm phân loại, định nghĩa các loại hình tướng khác nhau của các chi phần, đã được Đức Phật giảng nói trong các Kinh. Ví như, chi phần danh sắc, các luận sư trích dẫn Kinh Giáo hối Na-địa-ca, Kinh giáo hối Phả-lặc-cũ-na (Kinh Tạp A-hàm), Kinh Đại duyên phương tiện (Trường A-hàm); Kinh Đại nhân (Trung A-hàm).

Bên cạnh đó, sự liệt kê các hình tướng của các chi theo nhận thức của người thế gian cũng được đưa vào luận giải, nâng cao tính thực tế, gần gũi với trình độ của người đương thời. Mô tả về tướng Già, luận viết: Tóc bạc, rơi rụng, da chùn, mặt nhăn, thân còng, lưng khòm, thở khó gấp gáp… , về tướng chết là thân thể tan rã, thọ, noãn, thức diệt, mạng căn không hoạt động, mạng căn đứt, lìa đời15. Hình thức mô tả sự tướng này đã được Đức Phật dẫn chứng trong khi giảng nói pháp, được các luận sư góp nhặt vào luận, nhằm giúp người học dễ dàng nhận ra và phân biệt đối với các pháp. Những lời mô tả này có thể thay đổi cách diễn đạt, ngôn ngữ sử dụng tuỳ theo nhóm người nghe thuyết pháp, hoặc theo địa phương, vùng miền, hoặc theo thời gian. Nó chỉ mang tính chất mô tả sự vật, sự việc theo cách nhìn, cách gọi tên của người đương thời, không mang tính cố định, chung nhất cho tất cả.
Tóm lại, các luận sư Hữu Bộ đã khế kinh tạo luận. Căn cứ vào các Kinh điển A hàm để trích dẫn và luận bàn. Pháp Uẩn Túc luận là một luận phẩm tiêu biểu cho hình thức tạo luận này. Bộ luận này đã góp phần hình thành nên hệ thống lý luận cho bộ phái Nhất thiết Hữu Bộ nói riêng, cũng như cho nền học thuật Phật giáo. Bên cạnh việc hệ thống hóa giáo lý Phật Đà, góp phần bảo tồn giáo nghĩa, các bộ luận Phật giáo của phái Hữu bộ còn là công cụ sắc bén dùng để tranh luận tư tưởng với ngoại đạo, cũng như với các bộ phái Phật giáo khác đương thời.

Thích Trúc Thạnh Châu


  1. Tương đương quá trình với Sanh- trụ-dị- diệt của tất cả các pháp
  2. Thích Đức Thắng (dịch, 1997), Kinh Tạp A hàm, Nxb Phương Đông, tr. 157
  3. Thích Đức Thắng (dịch, 1997), Kinh Tạp A hàm, Nxb Phương Đông, tr. 157
  4. HT Thích Minh Châu (dịch, 1991) Kinh Tương Ưng 2 Thiên Nhân Duyên, Chương I Tương Ưng Nhân Duyên II. Phẩm Đồ Ăn, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh, tr. 51.
  5. Thích Đức Thắng (dịch, 1997), Kinh Tạp A hàm, Nxb Phương Đông, tr. 159
  6. Thích Đức Thắng (dịch, 1997), Kinh Tạp A hàm, Kinh Pháp thuyết – Nghĩa thuyết , số 298, Nxb Phương Đông, tr. 162.
  7. Các hình thức luận có trong Kinh A hàm như chín phần giáo hay mười hai phần giáo; Kinh phân biệt, tổng thuyết – biệt thuyết, tăng nhất, vấn đáp…
  8. Sdd, tr. 416
  9. Thích Đức Thắng (dịch, 1997), Kinh Tạp A hàm, Nxb Phương Đông, tr. 157
  10. Tứ cú là phương cách lý luận của các luận sư thời Ấn Độ cổ đại, khi so sánh đối chiếu hai sự việc dựa trên các luận cứ: là A không phải B; là B không phải A; là cả A, B; không phải A và B.
  11. Pháp duyên dĩ sanh: Là pháp tướng của mười hai chi phần.
  12. Tuệ Sỹ – Nguyên An (dịch và chú giải, 2018), A-tỳ-đạt-ma Pháp Uẩn Túc Luận, Nxb Hồng Đức, tr. 419-20.
  13. Sdd, tr. 421.
  14. Tuệ Sỹ – Nguyên An (dịch và chú giải, 2018), A-tỳ-đạt-ma Pháp Uẩn Túc Luận, Nxb Hồng Đức, tr. 421- 422.
  15. Sdd, tr. 469.