6 C
London
Monday, December 6, 2021

Tìm hiểu Tánh Không trong Phật giáo

  Phật giáo Ấn Độ được chia làm ba giai đoạn: Phật giáo Nguyên thủy, Phật giáo Bộ phái và Phật giáo Đại thừa. Tư tưởng tánh Không trong Phật giáo Đại thừa manh nha từ giai đoạn Phật giáo Nguyên thủy, trải qua giai đoạn thai nghén thuộc Phật giáo Bộ phái và trổ hoa ở giai đoạn Phật giáo Đại thừa. Đến thời kỳ Phật giáo Đại thừa, tánh Không được xem là không có thực thể cố định. Thông qua tư tưởng Duyên khởi tánh Không Ngài Long Thọ không chỉ phê bình tư tưởng các bộ phái, như quan điểm Hữu bộ: “Tam thế thật hữu, pháp thể hằng tồn (quá khứ, hiện tại và vị lai thật có và bản chất các pháp tồn tại vĩnh viễn); hay chủ trương “ngã không pháp hữu” mà Ngài còn chỉ ra rằng các pháp là vô tự tánh, là giả danh lập thành Trung Quán Luận. Sự phê phán này dựa trên lý Duyên khởi đưa đến nhận thức mới, vượt ra ngoài những tương đãi cục bộ khái niệm, đưa đến liễu tri thực tại tuyệt đối bằng trí tuệ Bát-nhã. Đồng thời, đả phá sự quan sát sai lầm của Đệ nhị nghĩa đế theo phương pháp biện chứng luận, chỉ trích các học phái Tiểu thừa đã lập ra nhiều thuyết mâu thuẫn.

Tánh Không trong Trung Quán luận

“Không” (sunyata), không phải là hư không hay không có gì, mà “Không” là sự mô tả bản chất thật của vạn pháp do duyên sanh nên không có tự ngã. Nhưng các bộ phái Phật giáo hiểu sai vấn đề cho rằng: “Không” là không vô sở hữu hay vô thể, nên Ngoại đạo lầm tưởng Ngài Long Thọ sử dụng pháp biện chứng tánh Không để phủ nhận thế giới hiện tượng, bác bỏ sự hiện có của các đối tượng tri thức. Vì vậy, đối phương đưa ra những lập luận sai lầm: Nếu cho tất cả là không thời suy luận giáo pháp tu tập và đạo quả trở nên vô nghĩa. Nếu cho rằng: Tất cả là không, không có tính sở hữu, tức không sinh không diệt, thì bác bỏ khái niệm sanh diệt trong Tứ Thánh đế: Khổ do Tập sinh và do Đạo mà Diệt có mặt (không có Pháp bảo) và cũng không có bốn đạo-quả Sa-môn (không có Tăng bảo). Nên họ cho rằng: Ngài Long Thọ là kẻ phá hoại Tam bảo1, là kẻ ngoại đạo.

Đáp lại những nhận định sai lầm của Hữu bộ đối với Đại thừa. Trong Trung Quán Luận, Long Thọ nói: “Hiện tại quả thật các ngươi không có khả năng tri nhận được tánh Không, nhân duyên và ý nghĩa của tánh Không, nên đã tự mình sinh khởi những não hại2!” Thuyết tánh Không trong Trung quán rất tinh tế, vì vậy thường dễ bị hiểu lầm là một phủ định luận. Ngài Long Thọ chỉ trích ngoại đạo rằng: “不能正觀空, 鈍根則自害, 如不善咒術, 不善捉毒蛇”, nghĩa: “Không thể chánh quán “Không”, độn căn tất tự hại, như chẳng biết rành chú thuật, không khéo bắt rắn độc3”. Vậy thế nào là chánh? Chánh là như lý tác ý: Bản thân sự vật như thế nào thì hãy thấy như thế ấy. Hiểu đúng thật như vậy mới gọi là chánh quán “Không”. “Không” là sự mô tả thực trạng mọi vấn đề là đang di động, đang chuyển động không có cái nào đứng im, thế thì chúng ta phải hiểu nó là như vậy thì mới hiểu đúng cái khái niệm “Không”, gọi là chánh quán “Không”. Ngược lại, nếu chúng ta cho rằng: “Không” là không có thì cái đó là bất chánh quán “Không”. Tất cả những cái mà chúng ta hiểu với nhau là chúng ta mượn một cái gì cố định để chúng ta hiểu về nó. Nhưng bản chất pháp hữu vi: “Vô thường, vô ngã, khổ”, vì sanh diệt nên gọi là vô thường. Vạn pháp do duyên sanh nên nó không có tự ngã nên vô ngã, đó là tánh Không, bản chất rỗng không. Đây chính là ý nghĩa cao tột của tánh Không. Thế nên, nếu không hiểu, không thấy biết một cách đúng đắn về nghĩa “Không” mà Đại thừa đề cập thì tự mình hại mình ví như người không biết cách bắt rắn mà lại đi bắt rắn thì ắt bị rắn cắn. Điều này minh chứng cho người chưa đủ trí tuệ để hiểu giáo lý thâm sâu này mà đi lý giải nó thì chẳng khác nào mình đoạn tuyệt cơ hội thân cận Chánh pháp. Vậy chúng ta muốn hiểu được ý nghĩa một cách chân chánh thì phải nắm ngay ý chính của nó, đừng bao giờ lấy một ý nghĩa khác để hiểu qua một ý nghĩa khác. Tức là chúng ta phải nhìn nhận tánh Không một cách xác thực nhất.

Trong kinh Trung bộ Đức Phật dạy: “Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được pháp; ai thấy được Pháp, người ấy thấy được Ta4”. Như vậy, Đức Phật khẳng định duyên khởi là chân lý, là pháp thường trụ thế gian, liên hệ đến đời sống thường nhật con người. Nếu ai thông hiểu được pháp nhân duyên này, thì đồng nghĩa với việc thông đạt được Khổ-Tập-Diệt-Đạo, thì người ấy sẽ được giác ngộ giải thoát, tức là thấy được Phật.

Tóm lại, “Không” chính là một thực tại bất khả đắc, vì vượt ngoài tri thức cục bộ mà chỉ khả đắc bằng trí Bát-nhã, trí tuệ siêu việt: Tự tánh các pháp là không. Do tính chất “Không” mà các pháp có thể sinh hóa, hình thành chuyển biến: “Dĩ hữu không nghĩa cố, nhất thiết pháp đắc thành5”. Bản tính các pháp là chuyển biến, mà bản thể chính là hiện tượng và cái bất biến chính là cái chuyển biến. Trên phương diện luận lý, “Không” là một biện chứng phủ định khai thông con đường đi vào thực tại. Chỉ có “Không” với biện chứng phủ định mới có thể kéo nhận thức ra khỏi vũng lầy khái niệm và ngôn từ. Vì vậy, khi nói về tánh Không, không có nghĩa là phủ định hết thảy pháp mà hàm ý thành lập hết thảy pháp.

Tánh không của duyên khởi

Tánh “Không”(Sunyata) không phải là một khái niệm đối lập với “có”, mà “Không” ở đây là thuộc tính các pháp. Tánh “Không” cũng không phải là chủ nghĩa hư vô, nó vốn thoát ly về sự phân biệt giữa hữu, vô, sanh, diệt, thường, đoạn, khứ, lai. Nó siêu việt lên trên tất cả mọi phạm trù đối đãi giữa thế giới nhị nguyên. Thấy được tánh “Không” này đòi hỏi sự thể nhập trực tiếp về thế giới hiện tại sau khi ý niệm tự ngã được buông bỏ. Nếu khi con người đầy ấp những tập khí, cảm nhiễm, những khát vọng mong cầu được thiết lập trên cơ sở cả ý niệm về tự ngã, thì sự bàn luận về tánh “Không” chẳng khác nào dã tràng se cát.

Tuy nhiên, hiện tượng tánh “Không” được nhận thức như hệ quả tất yếu trong tiến trình duyên khởi, “Duyên khởi tánh Không”. Tại sao Duyên khởi tánh Không? Duyên là điều kiện sự vật hiện hữu do duyên. Nói cách khác, một hệ thống động thái được cấu thành bởi các điều kiện. Điều kiện đầy đủ sự vật tồn tại, điều kiện tan rã sự vật ly tán. Vậy nên nói: “Duyên tụ thời sinh, duyên tán thời diệt”. Phật pháp nói “Không” là chân thể pháp “Không”, chẳng phải sắc hoại mới không. Nói “Không” mà có tức là “Không” như Bát Nhã Tâm kinh nói: “Sắc tức thị không, không tức thị sắc”. Tánh Không trong duyên khởi hàm nhiều ý nghĩa: Thứ nhất, sự vật đều nương vào điều kiện mà tồn tại, không có tự tánh, tánh nó vốn “Không”; thứ hai, bất cứ một sự vật nào tồn tại, đều có sự vận động biến hóa vô thường cho nên, nói “Không”. Trong Đại Trí Độ luận nói: Tánh động là “Không”; thứ ba, bất cứ sự vật nào đều nương vào duyên mà có, không có chủ thể, vì không có chủ thể nên Không. Chúng ta thử xem trong thế giới hiện tượng không có sự vật nào tồn tại mà không có chủ thể, muốn hoạt động thì hoạt động, muốn dừng thì dừng. Cho nên, nói nghĩa không chủ thể là “Không”; thứ tư tất cả sự vật đều do các duyên tạo thành, đều có thể tan hoại. Vì nó được tạo thành bởi các duyên, ta nói tức là “Không”. Do nghĩa không đó mà các pháp được thành lập. Cũng ví như chúng ta nhìn ly nước, nói ly nước này tiêu tán là không còn, mà không ở đây là “đương thể tức không”, bởi hình dạng của nó tác dụng đồng thời tuỳ chỗ mà nó biến hóa. Tánh nó không cố định nên nói ly nước là “không”. Mặt khác, nó là sản vật của điều kiện, là tồn tại có điều kiện, giả sử chúng ta bỏ đi một điều kiện tồn tại của ly nước, ly nước này không tồn tại nữa. Cũng vậy, vạn pháp do duyên sinh, có tánh vận động, khả biến là có sự tồn tại của điều kiện, tất cả sự vật đều “đương thể tức Không, “duyên khởi tánh Không”.

Tóm lại, tánh Không với hàm ý rằng: Vạn vật không thật có, không có thực thể, không có tự tánh riêng, tất cả các pháp dù là vật chất hay tinh thần chỉ là nhân duyên giả hợp. Tánh Không không phải là quán chiếu sự vật phi thực một cách tùy tiện, mà đó là sự phô bày bản chất nội tại của chúng. Điều này giải phóng con người ra khỏi mạng lưới rối rắm của những tà kiến và nhận thức sai lầm. Lý thuyết đầu tiên để chúng ta hiểu được tánh Không chính là Duyên khởi và sự nổi bật của thuyết tánh Không chính là Trung đạo. Quan điểm Trung luận không thấy nhân duyên thì không thấy chân lý, không thể nhập Niết bàn.

Diệu Hương


  1. HT. Thiện Siêu (2001), Trung Luận, Nxb TP. HCM, tr 268-269.
  2. HT. Thiện Siêu (2001) Trung Luận, Nxb TP. HCM.
  3. HT. Ấn Thuận, Hạnh Bình, Quán Như, (dịch 2014), Lược Giảng Luận Trung Quán, Nxb Phương Đông, tr.10.
  4. Thích Minh Châu, (dịch 2012), Kinh Trung Bộ, Tập 1, Bài kinh số 28, Đại Kinh Dụ Dấu Chân Voi, Nxb Tôn giáo, tr.243.
  5. Ấn Thuận, Hạnh Bình, Quán như, (dịch 2010), Lược Giảng Luận Trung Quán, Nxb Phương Đông, tr.11.
TIN KHÁC
TIN LIÊN QUAN