Tiếp sáng ngọn đèn xưa

850

(Nhân ngày lễ Đại tường 14/6/Đinh Dậu Cố Ni trưởng thượng HUYỀN hạ HUỆ,Viện chủ chùa Hải Ấn, Q. Tân Phú, TP.HCM)

Dòng thời gian âm thầm lặng lẽ trôi đi, cuốn theo tất cả những gì có mặt trên cõi đời này đi vào thế giới hư không vô tận. Cũng như dòng nước thản nhiên êm đềm chảy về cội nguồn biển cả mà chẳng được trở lại bao giờ, để lại bờ sông bất lực rơi lệ tiễn đưa từng làn nước ra đi với bao niềm tuyệt vọng. Từng thấm thía nỗi đau với định luật vô thường trụ nhân sinh, nên ông Héraclite đã thốt lên: “Không ai tắm được hai lần trong một dòng sông!” Thế là mọi người đành phải học dần sự chấp nhận đón lẽ vô thường trong cuộc sống dù con tim thổn thức nhói đau.

Kính bạch Giác linh Sư phụ! Hàng đệ tử chúng con ít nhiều cũng hiểu được giáo lý Phật Đà thông qua lời Sư phụ từng dạy cho chúng con. Ấy thế mà, trong 2 năm kể từ ngày Người từ biệt cõi trần, chúng con đã cố gắng đem lời Phật dạy hóa giải nỗi nhớ niềm đau. Thế nhưng, tận trong sâu thẳm của tâm thức, chúng con vẫn âm ỉ cảm giác nhói đau khi nghĩ về Người.

Hôm nay, chuẩn bị đón ngày hoàn tất mùa An cư kiết Hạ của những người con Phật trên mọi miền đất nước, những nụ sen dưới các ao hồ cũng nao nức cùng nhau tỏa sáng để kịp dâng sắc, tỏa hương lên cúng dường chư Tăng trong ngày Tự Tứ. Thế mà, chúng con lại chuẩn bị làm lễ kỷ niệm ngày Sư phụ mãi mãi rời xa chúng con, một dấu ấn cùng tột nỗi đau vượt ngoài ngôn ngữ. Bao nhiêu hình ảnh về Người đua nhau trỗi dậy trong lòng chúng con rất rõ như mới ngày hôm qua:

Con còn nhớ, một hôm sau giờ tụng kinh Tịnh độ, chúng con được ngồi quây quần trong phòng để nghe Người kể về Sư cụ Diệu Tịnh: “Ngài ấy sinh năm 1910. Khi tuổi vừa tròn 14, bỗng tâm khao khát được xuất gia học Phật. Khổ nỗi, lúc ấy cả tỉnh Gia Định chưa có ngôi chùa Ni nào, nhưng ý xuất trần mãnh liệt nên Ngài đành cải trang thân nam để vào chùa Tăng tu học. Song, khi tuổi 16 thì cơ thể phát triển như những nữ nhi thường tình. Thấy thân hình đệ tử mỗi ngày càng giống người nữ hơn nam, nên Sư phụ của Ngài luôn để tâm dò xét. Lòng canh cánh lo âu bại lộ thân phận nữ nhi của Ngài đã đến; sáng hôm ấy, vừa tụng kinh công phu khuya xuống, thì sư huynh xuống phòng bảo: Chú Tịnh, lên Sư phụ dạy kìa!

Biết chắc chắn Sư phụ kêu lên để xét hỏi về thân phận của mình, Ngài vội vàng xếp nhanh vài bộ áo quần rồi lẩn trốn ngay sau đó. Sau khi rời khỏi chùa, chẳng biết đi đâu, bèn trở về nhà ở tạm để đăng ký đi học các trường giáo lý. Trải qua 4 năm gian nan tầm cầu học hỏi những bậc minh sư và không ngừng nghiên cứu kinh điển, tinh tấn tu học, nghiêm trì giới luật. Cuối cùng quả lành trổ chín, Sư cụ được quý Hòa thượng đăng đàn truyền trao giới pháp Tỳ Kheo Ni tại Trường Kỳ núi Điện Bà lúc tròn 21 tuổi.

Sau khi được chính thức gia nhập vào Tăng già, Sư cụ cùng với một số huynh đệ như: Sư cụ Bảo An, Sư trưởng Huê Lâm, Sư cụ Kim Sơn, Sư cụ Diệu Ấn, Sư cụ Linh Phong, Sư cụ Diệu Không,… chung vai sánh bước trên con đường hoằng pháp độ sanh không màng mỏi mệt, đặc biệt quý Ngài là dấu ấn đầu tiên mở ra cho phái nữ miền Nam một biển trời mênh mông tìm về giải thoát.

Năm 1935, Sư cụ cùng với Sư trưởng Huê Lâm, Sư cụ Kim Sơn, Sư phó Hồng Thanh hợp lực đồng tâm xây dựng lên ngôi chùa Từ Hóa, tiếp độ nữ nhi vào xuất gia học đạo và do chư Ni quản lý, nhằm tách rời cuộc sống chung hợp với chư Tăng. Sau thời gian thấy mảnh đất ở chùa Từ Hóa khí tiết không lành, nên quý Sư cụ chia nhau tìm đất mới, riêng Sư cụ Diệu Tịnh dời chùa sang làng Tân Sơn Nhất và đổi hiệu Từ Hóa sang Hải Ấn Ni tự, lễ khánh thành chùa nhằm ngày 15/7 âm lịch (30/8/1936). Không dừng lại ở đó, Ngài một thân một mình từ miền Nam ra miền Trung, Bắc để hoằng pháp lợi sanh và tiếp nhận Nữ giới xuất gia, mặc dù bối cảnh xã hội lúc ấy chiến tranh phức tạp, đường xa gập ghềnh, phương tiện đi lại khó khăn, nhưng vì hạnh nguyện làm sứ giả Như Lai trên cầu giáo lý Phật, dưới cứu độ chúng sanh nên Sư cụ không ngại khó khăn gian khổ, mà quên mình vì Pháp.

Kể chuyện xong, Sư phụ dạy chúng con rằng:
– Ngày hôm nay, các con có cuộc sống sung túc để tu tập, đều dựa trên biết bao công lao và trí lực của những bậc đi trước từng gian nan gầy dựng. Vì vậy hãy cố gắng mà tu hành, một hạt cơm của đàn na nặng hơn núi Tu di, nếu đời này không liễu đạo thì đời sau phải mang lông đội sừng mà trả nợ cho người ta, hổ thẹn với Chư Phật và những bậc tiền bối đi trước.

Sư phụ dạy thêm:
– Muốn Phật pháp trường tồn trên thế gian, hàng đệ tử Phật phải duy trì Giới luật, vì Giới là nền tảng căn bản giúp chúng ta bước vào ngôi nhà thiền định và trí tuệ giải thoát. Cho nên, người xa lìa Giới luật mà muốn giải thoát, chẳng khác nào người muốn xây nhà nhiều tầng lầu mà không chịu đúc móng. Có lẽ do quan điểm của Người như thế, nên mỗi chúng con vừa bước vào chùa, Người đã bắt chúng con học thuộc những bộ Luật căn bản, Tỳ ni, Oai Nghi, Cảnh Sách và chính Người đã hàng đêm ngồi chăm chú nghe huynh đệ chúng con lần lượt vào trả bài. Chúng con rất sợ, những lúc đang mải mê chấp tác như: quét chùa, cắm bông, lược nước nấu cơm,… Sư phụ xuất hiện bất chợt bắt chúng con phải đọc câu chú Tỳ ni của công việc đó. Ôi! Tim chúng con muốn rớt ra ngoài, hồn siêu phách lạc, mặt mày xanh xao, miệng ấp a ấp úng đọc: “Cần tảo già lam địa, thời thời phước huệ sanh…”, “Dĩ thủy quán chưởng, đương nguyện chúng sanh…” Vì thế, dù muốn dù không, khi làm việc chúng con phải chú tâm niệm chú Tỳ ni để đề phòng sự xuất hiện bất chợt của Người. Chúng con còn nhớ rất rõ ánh mắt của Người quan sát để sửa đổi cho chúng con từng bước đi, cách đứng, kiểu cười, nói chuyện, cử chỉ lúc ăn cơm, tư thế lúc ngủ nghỉ,… Lúc ấy, chúng con cứ trách Người sao mà khó khăn đến ngạt thở.

Nhưng khi lớn lên, chúng con ra làm Phật sự mới cảm nhận được những điều khó khăn của Người vô giá đến dường nào. Bây giờ muốn tìm lại những khoảnh khắc được ở bên Người để được rèn luyện như ngày xưa thì Người đã không còn nữa.

Mùa hạ năm nay, chúng con có những ngày giờ ngắn ngủi được Hòa thượng Minh Thông quang lâm đạo tràng giãi bày nền tảng Giới luật và giá trị của người trì Giới, cũng như vận mệnh tồn suy của đạo Pháp đều y cứ vào người trì giới, khiến chúng con nhớ lại hình ảnh hiền từ như người mẹ nhưng không kém phần nghiêm nghị của người cha nơi Người mỗi lúc dạy Luật cho chúng con. Người vẫn ban những “điệp khúc”: “Các cô là người xuất gia, khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm, nên không ai cứu mình bằng tự chính mình, tiền của đàn na cúng dường phải dùng đúng thời đúng việc, không nên hoang phí, người ta cúng để làm gì thì phải sử dụng cho đúng, bản thân phải thiểu dục tri túc, không đua đòi, không mua danh, cầu lợi, hãy sống thực bản chất đạo đức của mình, không phô trương khoe khoang cho người khác biết, hữu xạ tự nhiên hương, có như thế thì cảnh Niết Bàn mới hiện hữu.” Bất giác hai hàng lệ của chúng con tuôn chảy, tâm trạng của chúng con lúc ấy vừa khao khát nhìn thấy lại thân hình uy nghi, đĩnh đạc và đức độ của Người, xen lẫn niềm hạnh phúc chợt nhận ra mình thật may mắn được sanh ra trong ngôi nhà Phật pháp, được gặp bậc minh sư khả kính, một bậc chân tu luôn giữ vững lập trường tư tưởng nghiêm trì giới luật hàng đầu, cho dù khoa học tiến bộ đến đâu, nền văn minh con người vượt bậc cỡ nào thì giới luật vẫn luôn có giá trị tuyệt đối cho những ai muốn có được chân hạnh phúc và giải thoát khổ đau. Đạo đức xã hội xuống cấp nghiêm trọng như hiện nay, thì Giới luật hiển rõ phần giá trị mà các bậc Tôn túc không ngừng xiển dương, động viên con người hướng về nếp sống trì giới.

Kính bạch giác linh Sư phụ! Có những điều không thể dùng ngôn ngữ để hiển bày, nên chúng con xin cảm nhận và ghi nhớ thật sâu sắc sự giáo huấn từ Người đến với chúng con qua thân, khẩu, ý không những hàng ngày, mà từng giờ, từng phút, từng giây lúc Người còn sanh tiền. Chúng con xin nguyện nhất tâm bước theo dấu chân của Người, tinh tấn tu học và hành đạo hết khả năng của mình để không cô phụ công lao của Người từng dạy dỗ.

Thích nữ Huệ Ngạn