Tiếp bước đường xưa

205

  Đường xưa lối cũ đã mòn
Còn đây vạn pháp muôn ngàn diệu quang
Nguyện làm con Phật không tàn
Nguyện đời sáng tỏ vạn điều an nhiên.


Mở đầu bài viết, con xin phép hỏi hết thảy những người đang hiện hữu trên trái đất này, liệu chúng ta có bao giờ tự nhủ với mình rằng: “Chúng ta sống vì điều gì” hay không? Có lẽ câu hỏi này thường được đặt ra rất nhiều lần trong cuộc đời của mỗi con người, thế nhưng câu trả lời lại rất khác biệt. Khi con còn bé xíu, con rất thích tự suy nghĩ vẩn vơ tự đặt câu hỏi rồi tự mình trả lời và tất nhiên là sẽ có vô vàn ổ khóa mà bản thân tự tạo mà con không sao đánh nổi chiếc chìa khóa để mở nó. Trong số những điều rắc rối ấy, câu hỏi: “Con sống trên đời này để làm gì, con rốt cuộc sinh ra, chết đi nhận được gì?”, đến tận khi con mười bảy tuổi, mới có lời giải đáp.

Nhờ hồng quang của Phật chiếu soi dẫn bước đi thì con mới nhận biết được bản thân mình cần gì trong suốt những năm qua. Trên bước đường gập ghềnh tối tăm, Ngài đã cho con thấy được con đường giác ngộ giải thoát.

Để hoàn thành lối đi này Đức Như Lai đã hy sinh hết thảy những điều mà chưa ai dám bỏ, làm những việc chưa ai dám làm và đạt được điều mà chưa ai dám nghĩ! Vì thương xót chúng sanh nên Ngài quyết tâm tìm được Chánh pháp để giải bài những rối dây buộc ràng, sự gian truân khổ nhọc trên công trường bao năm để từng ngày phá vỡ u minh mở lối đạo vàng đạt thành chánh giác cứu vớt chúng sanh!

Mở sách vàng ngược dòng lịch sử, vào năm 623 TCN, tại vườn Lumbinī (Lâm-tỳ-ni) gần thành Kapilavastu (Ca-tỳ-la-vệ), hiện nay là vùng biên giới giữa Nepal và Ấn Độ. Đức Phật Thích Ca đã đản sinh có tên là Siddhārtha Gautama (Tất-đạt-đa Cồ-đàm), là một vị Thái tử con vua Suddhodana (Tịnh Phạn) và Hoàng hậu Māyādevī (Ma-da) đang trị vì một vương quốc nhỏ của bộ tộc Sākya (Thích Ca). Ngay lúc sinh ra, Thái tử đã có đầy đủ hảo tướng. Các nhà tiên tri cho rằng Thái tử sẽ trở thành hoặc một đại đế hay một bậc Giác ngộ.
Năm lên mười, nhân ngày lễ Tịch điền, Thái tử theo vua cha Tịnh Phạn ra đồng xem dân chúng cày cấy. Cảnh xuân, mới nhìn qua, thật là đẹp mắt, nhưng tâm hồn Thái tử không phải là một tâm hồn hời hợt, xét đoán nông nổi. Trái lại, Ngài nhìn sâu vào trong cảnh vật và đau đớn nhận thấy rằng cõi đời không đẹp đẽ an vui như khi mới nhìn qua. Ngài chứng kiến người và vật chỉ vì miếng ăn để sinh tồn mà giết hại lẫn nhau không ngừng, cảnh tương tàn tương sát này cứ mãi tuần hoàn. Khi đó, Ngài nhận thức rõ ràng sự sống là khổ.
Năm lên 18 tuổi, Tất-đạt-đa kết hôn với công chúa Yaśodharā (Da-du-đà-la) của thị tộc Koli. Hôm nọ, Ngài xin phép vua cha đi dạo ngoài bốn cửa thành để được tiếp xúc với thần dân. Ba cảnh khổ già, bệnh, chết ở ba cửa Đông Nam Tây cộng thêm cảnh tượng tương tàn trong cuộc sống mà Thái tử đã chứng kiến hôm lễ Tịch điền, khiến Ngài đau buồn, thương xót chúng sinh vô cùng.

Một lần khác nữa, Ngài ra cửa Bắc, gặp một vị tu sĩ tướng mạo nghiêm trang, điềm tĩnh thản nhiên như người vô sự đi ngang qua đường. Thái tử trong lòng nảy sinh một niềm cảm mến đối với vị tu sĩ. Ngài vội vã đến chào và hỏi về ích lợi của sự tu hành. Vị Sa-môn đáp: “Tôi tu hành là quyết dứt bỏ mọi sự ràng buộc của cuộc đời, cầu thoát khổ, viên thành chính giác để phổ độ chúng sinh đều được giải thoát.” Lời đáp đúng với hoài bão mà Thái tử đang ấp ủ bấy lâu, nên Ngài khôn siết vui mừng, liền trở về cung xin vua cha cho mình xuất gia. Vua Tịnh Phạn không đồng ý. Thái tử bèn yêu cầu vua cha 4 điều, nếu vua giải quyết được thì Ngài hoãn việc đi tu, để trở lại lo chăn dân, trị nước. Bốn điều đó là:

1. Làm sao cho con trẻ mãi không già;
2. Làm sao cho con khỏe mãi không bệnh;
3. Làm sao cho con sống mãi không chết;
4. Làm sao cho mọi người hết khổ.

Vua cha vô cùng bối rối, không giải quyết được điều nào cả và khi biết được ý định xuất gia của Thái tử, vua Tịnh Phạn lại càng lo sợ, lại tìm hết cách để ngăn cản, ràng buộc Ngài trong “cung vui”. Nhưng một khi Thái tử đã quyết thì không có sức mạnh gì ngăn trở được Ngài. Thái tử nuôi dưỡng quyết tâm từ bỏ gia đình, xuất gia cầu đạo tìm con đường cứu khổ cho muôn loài!

Năm Tất-đạt-đa 19 tuổi, công chúa Da-du-đà-la hạ sinh một bé trai. Tất-đạt-đa thấy rằng việc có con khiến cho mong muốn rời nhà đi tu trở nên khó khăn hơn, nên đặt tên đứa trẻ là Rāhula (La-hầu-la, nghĩa là Chướng ngại).

Thời gian càng trôi sự tìm cầu con đường giải thoát trong Ngài càng mạnh mẽ hơn, năm đó Tất-đạt-đa hạ quyết tâm từ bỏ cuộc sống xa hoa, chặt đứt sự luyến ái tình cảm gia đình vợ chồng cha con mà lìa cung điện, bất chấp nỗ lực ngăn cản của vua cha.

Trong đêm tối, Ngài gọi người nô bộc trung thành là Channa (Sa-nặc) lấy con ngựa Kanthaka (Kiền Trắc) rồi ra đi. Khi tới bờ sông Anomà, Thái tử dừng lại, bỏ ngựa, cạo râu, cắt tóc, trao y phục và đồ trang sức cho Sa-nặc, lệnh cho Sa-nặc trở về thông báo việc này cho phụ hoàng. Sử sách Phật giáo xác định rằng đó là rạng ngày mùng 08/02/595 TCN, và gọi đó là cuộc “Đại xả li”, hoặc “Đại xuất hành (cuộc ra đi vĩ đại)”.

Lành thay bậc đại trượng phu vì tìm cầu đạo pháp mà từ bỏ hết thảy, liệu thế gian này có ai làm được như Ngài? Thưa không, con người chúng ta luôn tham đắm trong những ngũ trần hoan lạc mà quên đi những thứ đó chính là nguồn gốc của sự khổ đau. Đức Thế Tôn từ lúc còn rất nhỏ Ngài đã nhận định được thứ hư giả não phiền của thế gian, Ngài sống không đắm nhiễm mà luôn hướng tìm đến sự an vui hoàn toàn chân chánh cho mình và cả cho chúng sanh. Ôi! Một tấm lòng cao cả biết bao, không lời nào có thể ca ngợi được hết thảy tình thương của Ngài đối với chúng sanh còn mê muội trong nghịch cảnh luân hồi. Bởi lẽ thế, ngày mà Thái tử Tất-đạt-đa vượt thành xuất gia chính là ngày quan trọng nhất, đánh dấu một bước tiến trong cuộc đời của Ngài cũng như là bước ngoặt thay đổi số phận của nhân loại trên thế giới này!

Để hoàn thành công cuộc thoát khỏi sự trầm luân trong vòng luân hồi, Thái tử Tất-đạt-đa đã cùng tu khổ hạnh với nhiều nhóm Tăng sĩ, quyết tâm tìm cách diệt khổ và tìm mọi đạo sư với các giáo phái khác nhau. Sau nhiều năm chưa đạt đến mức độ triệt để cho việc giải thoát khỏi khổ đau, không phải là chân lý tối hậu, nên Ngài quyết tâm tự mình tìm đường giải thoát.

Sau 49 ngày ở Giác Thành, Ngài đi đến và tọa thiền ở dưới cội Bồ đề tại Bodhgaya (Bồ đề Đạo tràng) và nguyện sẽ nhập định không rời chỗ ngồi cho đến lúc tìm ra nguyên nhân và cơ chế của Khổ. Đêm hôm đó, Thái tử bắt đầu thực hành các pháp thiền định, Ngài đạt Diệt – Thọ – Tưởng định (Nirodha-samapatti), tỏa ra uy năng chiếu khắp Tam giới (dục giới, sắc giới, vô sắc giới), khi sao mai vừa lên Ngài chứng được Tam minh, vượt thoát sanh tử và hoằng pháp độ sanh!

Để mở ra lối đi giác ngộ cho chúng sanh, Đức Phật đã trải qua biết bao gian nan khổ khó. Lối đi này rất gập ghềnh và nhiều chông gai nhưng Ngài đã vượt qua tất cả để độ sanh cho chúng ta. Đường đã có sẵn thì hà tất gì mà mình không đi? Đúng như lời Đức Thế Tôn chỉ dạy, biết bao con người đã được qua đến nơi giải thoát khi thực hành theo đúng Chánh pháp. Con đường này đã được đi mòn đến mức không có một cọng cỏ nào, thậm chí nó càng được mở rộng thêm, lớn đến mức mình không thể tưởng nổi!

Biết bao bậc Tổ sư, thiện tri thức đã gồng gánh vượt qua đi trên con đường này và đạt giải thoát hoàn toàn! Chúng ta phải nhìn những tấm gương sáng ngời để không ngừng học hỏi, không ngừng tu tập để từng ngày vượt qua những chướng ngại do nội tại và ngoại duyên hình thành. Phật dạy: “Thắng một vạn quân không bằng chiến thắng chính mình.”

Bản thân con là một người đệ tử của Phật, con đã hiểu sâu sắc với xúc cảm khát cầu Đạo Pháp là như thế nào, bởi lẽ chính con lúc chưa hiểu đạo và khi hiểu đạo là hai thái cực hoàn toàn trái ngược. Đối với con, đạo Phật cứu vớt con khỏi những chướng duyên nghịch cảnh, như một bàn tay nâng đỡ con và dìu con bước tiếp trên đường đời.

Con đã từng gặp phải những khổ đau khi còn rất nhỏ, lẽ vô thường con tận mắt chứng kiến, con người luôn bị quay cuồng trong nhiều sự khổ mà quy ra là do chính mình tạo nên mà mình không hay biết rồi đổ lỗi cho đời, cho người và cho chính số phận của mình.
Phật dạy: “Nguồn gốc của luân hồi sanh tử là luyến ái, tham dục.” Lúc đầu, con không hiểu nhưng sau này mới vỡ lẽ ra chính nó làm mình khổ đau, chính nó che mờ đi bản thể trong sạch của mình nên đến tận khi ta chết đi vẫn bị nó làm cho cuống cuồng. Nên muốn dứt trừ được luyến ái, bước đầu con người ta phải bước ra khỏi sự buộc ràng thế tục đó là xuất gia.
Xuất gia, tiếng Phạn là Pravrajya, chỉ người theo Phật giáo, từ bỏ gia đình, sống đời phạm hạnh, không màng danh lợi hay dục lạc, chỉ mong cầu giải thoát. Xuất gia có ba nghĩa:
Xuất thế tục gia: chỉ cho người đó quyết lòng dứt áo ra đi, từ bỏ những tình cảm, những lòng thương yêu thân bằng quyến thuộc của mình, chấp nhận ra đi và ra đi tìm đạo, chân lý, con đường chân lý, hay để phụng sự.

Xuất phiền não gia: là qua quá trình tu tập người này đã điều phục được tất cả phiền não: tham, sân, si, ích kỷ, đố kỵ, thù hận, ghen tuông, thủ đoạn, lừa đảo,… Tất cả những thói hư tật xấu này, mà người tu tập cần phải điều phục.

Xuất tam giới gia: Và khi đã chấm dứt mọi phiền não vượt ra ngoài sự chi phối, ràng buộc của ba cõi: dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Đây là những từ ngữ chuyên môn có phân tích thì cũng mơ hồ lắm, nhưng đại khái để giải thoát ra khỏi cuộc đời này, cái đó gọi chung là xuất tam giới gia.

Người xuất gia luôn tâm niệm rằng xuất gia là để vượt ra khỏi ngôi nhà phiền não sinh tử, ra khỏi ngôi nhà tà tri tà kiến, ra khỏi ngôi nhà tự tư tự lợi, để rồi hoàn thiện nhân cách, liễu ngộ cuộc đời tạm bợ vô thường, lợi lạc quần sinh.

Còn nhớ mợ Bảy đã từng nói với con rằng: “Xuất giá cùng xuất gia phát âm gần giống nhau chỉ khác mỗi dấu câu, thế nhưng tính chất lại hoàn toàn khác biệt.” Quả thật là vậy, hồi tưởng lại một đời người con gái, khi xuất giá rồi ta được cái gì? Chúng ta không sống cho bản thân, không chân chánh là chính mình để rồi cuộc đời này trôi qua uổng phí.

Đã từng có lúc con tưởng tượng mình sẽ giống với mẹ, kết hôn rồi sanh con, sinh hoạt thường nhật, già bệnh rồi chết đi. Đó là chuyện bình thường trên thế gian nhưng lòng con cứ trống rỗng, khoảng trống không thể nào lấp đầy mà càng mở rộng ra. Bùng phát là việc mẹ và cha ra đi đã đem đến cho con một cú sốc nghiêm trọng, mọi thứ dường như là hư không. Hai người quan trọng nhất trong tim con từ giã cõi đời như kéo cả linh hồn con theo. Mọi cảm xúc đều tê liệt, cứ tưởng mọi thứ sẽ trở nên tốt hơn nhưng không, đó chỉ là bề ngoài. Bạn có bao giờ cảm thấy bản thân mình sống mà như không sống không? Chính là lúc bạn không biết mình đang sống mà chỉ lao vào sinh hoạt cuộc đời như thế rồi thời gian mãi dần trôi, ta đạt được cái gì, nắm bắt được điều chi hay chỉ là sự lão hóa và cận tử nghiệp gần kề mà mình không rõ?

Để hiểu được và thoát khỏi cảnh đó con đã xin phép gia đình để cất bước ra đi, tìm cầu một con đường giải thoát cho chính mình, tìm cầu câu trả lời cho những câu hỏi mười năm chưa một lời giải đáp.

Ngày mà con chào gia đình, con đã lạy bà ngoại ba lạy để xin phép bà con đi. Đến giờ, hình ảnh đó vẫn rõ nét trong trí nhớ của con, người thân chứng kiến ai cũng khóc, thế nhưng Bà vẫn một mực kiên cường, nhìn con bằng ánh mắt hiền từ hòa ái nói với con rằng: “Sống vui vẻ, tu tập thật tốt nha con!”

Khóc thật nhiều và mang ơn bà thật nhiều, một người phụ nữ huân sâu Phật pháp hiểu rõ được lợi ích của sự tu tập đã truyền đạt đến đứa cháu, một tay bà nắm chặt tay cháu khi cháu bé đang vùng vẫy trong cuộc sống thế tục mà mang nó đến con đường Chánh pháp đầy ánh vàng rực sáng.

Con biết ơn ngoại sâu sắc, không có bà chắc con còn nhiễm nhiều thế trần, sống không biết khi nào tìm được lối thoát khỏi u minh.

Giác ngộ là một chuyện, tìm được pháp môn phù hợp với mình còn là một chuyện khác. Mỗi người có mỗi duyên khác nhau, Đức Phật chế định trên cõi đời có rất nhiều pháp môn để tu tập dẫn đến giải thoát nhưng nó không ngoài con đường thù thắng Bát chánh đạo. Chỉ cần chúng ta y chỉ phụng hành đúng theo lời Phật dạy, lấy giới luật làm thầy thì đã bước lên con đường Đạo pháp chân chánh.

Trải qua một khoảng thời gian tìm học đạo pháp cùng với sự chỉ dạy tận tình của Thầy Bổn sư con đã mau chóng vỡ lẽ ra được bản thân đã tự “hành hạ” mình đến thế nào, chính vì những chấp nhất không buông bỏ được và sợ hãi không dám đối diện với nghịch cảnh, sống không biết mình đã đưa đến con đường đau khổ. Phật dạy: “Cùng là một chiếc bình như vậy, tại sao bạn lại chứa độc dược? Cùng một mảnh tâm tại sao bạn phải chứa đầy những não phiền như vậy?” Giờ đây, con hiểu được và nhẹ nhàng đi rất nhiều, khoảng trống trong con được lấp đầy bởi vầng sáng trí tuệ của Đạo pháp khiến bản thân nhận được niềm vui chân chánh, không còn như rắn mất đầu tìm về chỗ ở!

Có tu tập thì mới nhận ra là lẽ sống đáng quý đến thế nào. Sự nhận thức trong con ngày một lớn, con được trưởng thành nhẹ nhàng trong Chánh pháp. Thầy đã từng hỏi con rằng: “Con thấy đi tu có lợi gì? Có giống sống ở nhà không?” Lúc ấy, con đã đáp với thầy là đi tu có rất nhiều lợi ích, cho bản thân và cho cả chúng sanh, không giống như lúc con ở nhà, phần lớn chỉ biết nghĩ cho mình mà thực hiện những việc tạo tội rồi cả một đời tan như mây khói chẳng được tốt gì.

Xuất gia cạo bỏ mái tóc bụi trần ngàn sợi phiền não, khoan khoái xoa đầu tìm lại chính mình! Gần đây là ngày kỷ niệm con xuất gia. Còn nhớ trong buổi lễ, con đã hạnh phúc tột độ như thế nào khi được đầu tròn áo vuông, hướng đến Thầy, hướng đến Phật, một lòng nguyện đời đời tu tập đến ngày thành đạo hoằng dương Phật pháp. Bạn con đến dự lễ đã khóc thật nhiều và tiếc nuối cho con, con cười hướng nó khẳng định rằng đây là con đường an lạc nên không gì phải tiếc, à nếu tiếc thì chỉ tiếc là mình không đi sớm hơn mà thôi. Con tự hào mà nói rằng sau này các bạn rồi sẽ hiểu lựa chọn của mình mang đến niềm vui như thế nào!

Con đã từng giống bạn của mình hướng đến một cuộc sống giàu sang thành đạt, thế nhưng hiện tại con chỉ muốn sống tự tại, an vui. Tô Thức có một câu nói mà con rất thích: “Duy sơn gian đích thanh phong dữ minh nguyệt. Vô nhu thảo hảo. Ký phù sinh vu thiên địa tiện bất cụ chung lão.” (Chỉ cần trên núi gió mát cùng trăng sáng không cần chi cao xa, gửi phù sinh đất trời không lo chi quãng đời còn lại). An lạc trong ta thực giản dị và nhẹ nhàng, chỉ cần ta có mặt tại hiện tại thì ta đã an lạc rồi.

“Không có con đường dẫn đến hạnh phúc, hạnh phúc chính là con đường”, bước trên con đường Đạo pháp, tiếp nối người xưa tu học hoằng hóa chúng sanh để mọi người đạt đến sự an vui chính là sứ mệnh của mỗi người con Phật!

Sanh tử và luân hồi
Phiền não rồi khổ đau
Bao đời còn mê ngủ
Tỉnh lại ngỡ phù du.

Thích Nữ Chân Mỹ