Thầy mãi trong con

825

 Thấm thoát đã gần 80 mùa xuân trôi qua, nhưng tôi cứ ngỡ như hôm qua là ngày đầu. Khi tâm đã quyết thì không làm khác được, mặc cho khó khăn vây bủa.

Tôi vốn sinh ra và lớn lên ở một vùng quê đầy nắng gió khắc nghiệt thuộc tỉnh Quảng Trị, bởi cảm mến cảnh thiền môn nên đã vào Huế nhập chúng tu học và hành đạo tại chùa Hồng Ân vào năm 1971. Lúc này, đất nước còn trong thời kỳ chiến tranh ác liệt, cơm không đủ no, áo không đủ mặc, cuộc sống tu hành vô cùng vất vả. Thầy tôi là Sư Bà Diệu Không phải dạy,“9 tháng về nhà ở, 3 tháng lên chùa tu”. Chẳng qua chỉ vì kinh tế quá khó khăn nên buộc lòng Thầy tôi đưa ra giải pháp tạm thời, chờ thời cơ khấm khá sẽ để chúng tôi tu hẳn không về.

Đến năm 1973, Sư Bà có Phật sự tại Sài-Gòn đúng dịp có giới đàn Sa-di-Ni ở Huế, Người dạy tôi “sang cầu ôn Trúc Lâm để ôn cho pháp tự mà thọ Sa-di-Ni” Rồi cố Hòa Thượng Trúc Lâm đặt cho tôi pháp tự Minh Tâm. Từ đó  tôi với tổ đình Trúc Lâm có mối quan hệ mật thiết, thâm tình.

Năm 1975, thời kỳ khó khăn lên đến cực điểm, các chùa ở Huế phải đi làm ruộng, có chùa thì trồng khoai sắn trên nương rẫy để độ nhật. Trong tình cảnh đó tôi cũng phải rời chùa Hồng Ân, một thân một mình vượt núi trèo non lên tận thôn Lương Miêu, nơi thượng nguồn sông Hương, dựng chòi tranh tạm sinh sống, hòa cùng dân cư vùng kinh tế mới khai hoang làm rẫy, vừa tu trì vừa lao động độ sinh.

Những năm sau 1975, núi rừng nơi đây hoang vu u trầm lắm không như bây giờ đâu, tôi đã một thân một mình ngày đêm cày xới hơn 2 hecta đất rừng để trồng trọt làm nương rẫy. Chắc ai cũng biết, đến vùng đất lạ, dẫu có mạnh mẽ đến đâu thì cũng có lúc phải run sợ trước những hiện tượng tự nhiên, huống chi “đến đây đất nước lạ lùng, nghe con chim kêu cũng sợ nghe con cá vẫy vùng cũng kinh”. Đã vậy, buổi đầu mọi thứ còn hoang sơ thiếu thốn, chỉ một cái lều tranh tạm bợ, đêm hôm nghe sột soạt bên ngoài cũng thấy lo, lâu dần mới thành quen, và hình như Hộ pháp, Long thiên, sơn thần thổ địa ở đây cũng ủng hộ nên đã che chở không cho tôi thấy điều gì đáng sợ và cũng không có loài phi nhân hay thú dữ nào đến quấy phá.

Chừng năm 1979, một sáng ngày hè oi ả, tôi được tin báo Thầy tôi và Ni chúng Hồng Ân lên thăm. Biết rằng đoàn đi theo đường thủy nên tôi ngồi đợi và hình dung những chặng đường mọi người sẽ qua. Người nào đến thăm tôi thì phải lần lượt đi qua rất nhiều những nơi hoang vu, khoảng gần 3 giờ đồng hồ thì đò mới qua khỏi thôn Tân Ba và Dương Hòa – nơi mà mấy năm trước bom đạn cày xới. Chủ đò phải khó khăn lắm mới điều khiển con đò len lỏi vượt qua những khúc sông cạn nhìn thấy đáy đầy đá cuội lớn, và giữa dòng có nhiều cồn cỏ dại. Hơn 3 giờ đồng hồ ngược dòng sông Hương, chiếc đò mới rẽ lái cập bến, tôi chờ sẵn mọi người trên bờ sông, vừa gặp nhau thầy trò, tỷ muội vui mừng khôn xiết. Rồi mọi người còn phải vượt qua một dải đất phù sa và leo lên một con dốc thoai thoải hai bên đầy những tre nứa và cây rừng.Vừa lên khỏi dốc, một ngôi nhà nhỏ hiện ra xinh xắn, mọi người ngạc nhiên trước cuộc sống của tôi, những điều mà tôi làm được với tấm thân gầy gò này. Đến chiều ngã bóng, Thầy cùng Ni chúng rời Lương Miêu về lại thành phố, trước khi đi Thầy cùng tôi tâm sự, lúc này người sải chân bước nhẹ trên đất đồi và dạy tôi nhiều thứ, có lẽ vì Thầy lo thân tôi một mình nơi đây không ai chỉ bảo. Thầy dạy: “Nhổ cỏ cho sạch, thỉnh mõ cho kêu”, mặc dù chỉ vỏn vẹn 8 từ nhưng đó lại là một hành trình dài cần cố gắng mà thầy khuyến tấn, vừa đi tôi vừa ngẫm nghĩ “phải siêng năng làm sạch cỏ trong vườn và loại trừ các phiền não ở trong tâm, lo chuyên tâm trì tụng kinh pháp mới mong có ngày đạt thấu nguồn tâm”. Đó là bài học mà mãi đến hôm nay tôi luôn tâm niệm mang theo bên mình để tu tập và cũng thường lấy đó làm kinh nghiệm chia sẻ cùng Ni chúng chùa Định Huệ.

Sau đó ít lâu cố Hòa Thượng Trúc Lâm và quý thầy cũng lên thăm, lúc này cuộc sống của tôi tại Lương Miêu được ổn định.

Vào năm 1981 tôi được thọ giới Cụ túc, khi thi thọ giới tỳ- kheo- Ni bị thiếu điểm về môn sa-di-Ni luật giải. Thuở đó Sư Bà giám luật thượng Thể hạ Thanh thấy tôi có tâm đức nên cho thọ giới. Mặc dù đã được thọ giới nhưng thấy mình còn yếu kém nên tự nghĩ phải cố gắng học tập, tôi đã đi bộ mỗi ngày từ chùa Kiều Đàm lên chùa Đông Thuyền, nhờ sư Diệu Đạt dò lại Sa-di-Ni luật giải để trả bài cho Sư Bà giám luật. Dù vất vả lắm nhưng tôi thấy vui vì đã cố gắng và được khen có nhiều tiến bộ.

Tiếp tục sinh sống ở Lương Miêu, tôi dành dụm, chắt góp được một số tiền từ bán những trái mít, buồng chuối hay những lứa bạch đàn. Trong thâm tâm tôi luôn nghĩ nhờ ơn Tam bảo và nhất là lời khuyến tấn từ Thầy, đủ duyên tôi mới xây cất được chùa.

Vào năm Bính Tuất (2006), may mắn thuận duyên, tôi xây dựng chùa.Tên chùa được cố Hoà thượng Trúc Lâm đặt là “Định Huệ Tự” (tức chùa Định Huệ). Tuy khiêm tốn, nhỏ nhoi, chỉ khoảng chừng 200m2 nằm lọt thỏm giữa núi rừng đại ngàn, nhưng như thế cũng đã là khang trang lắm rồi. Giữa chốn thâm sơn cùng cốc nơi thượng nguồn sông Hương này mà làm được như thế đối với tôi là một niềm vui lớn.

Gần nhiều năm trở lại, có một bổn đạo ở xa về, họ tìm  một ngôi chùa đơn sơ trong giấc mơ, tìm đến 3 ngày, cuối cùng đến ngày thứ ba họ nhìn thấy ngôi chùa giống như trong mơ, đó là chùa Định Huệ, Phật tử ấy đã cúng dường một số lớn tịnh tài để giúp đỡ chùa đại trùng tu. Và cũng từ đây, chùa đã có nhiều Phật tử nơi xa đến thăm viếng, trợ duyên nhiều mặt.

Hôm nay, khi cơ ngơi đã lên hình lên dạng, chùa chiền Tăng xá đã khá kiên cố, đời sống kinh tế cũng tạm ổn, hiện tại Ni chúng chùa đã có 3 Tì- kheo Ni và 5 Sa-di-Ni. Tôi mong muốn sau này ở những vùng đất xa xôi hơn sẽ có nhiều ngôi chùa mới mọc lên, và những con người trong những ngôi chùa ấy giúp dân khai đất lập gia sinh sống. Ở đây không như phố phường nhộn nhịp, mà chỉ có những chén nước thoang thoảng mùi hương hoa rừng, những múi mít vừa hái xuống còn ngấn những giọt mật đường ngọt lịm và những tô mì ăn liền với rau rừng, những chén cơm nguội và nước tương nguyên chất đạm bạc nhưng sao thấy ngấm nặng đạo tình nơi chốn thâm sơn cùng cốc thanh bình, lặng lẽ

“…Cảnh tịnh hình như tâm cũng tịnh
Nước trong trăng chiếu bóng thường trong…”
                                           (Trích trong Diệu Không thi tập)

Thành tích hôm nay có được là nhờ sự chiếu cố của cố Hòa Thượng Trúc Lâm và Ni trưởng Bổn Sư đã dạy dỗ và giúp sức.

Thành kính đảnh lễ.

Chùa Định Huệ tọa lạc tại trên thượng nguồn sông Hương thuộc thôn Lương Miêu xã Dương Hòa, huỵện Hương Thủy nên còn gọi là chùa Lương Miêu.

                                            Thích Nữ Minh Tâm