4.8 C
London
Sunday, December 5, 2021

Tham luận truyền cảm hứng từ học giả Hà Nội

  Hội nghị quốc tế Sakyadhita lần thứ 15 tại Hong Kong là diễn đàn kết nối các nền văn hóa và truyền thống, khám phá giáo lý, giá trị và kỹ năng trong Phật giáo để có thể sống một cuộc sống có ý nghĩa. Hội nghị lần này cũng là cơ hội để các đại biểu đến từ nhiều nước khác nhau trình bày những nghiên cứu chuyên sâu về Nữ giới Phật giáo trên thế giới, bên cạnh đó là các hoạt động bên lề hội thảo cũng diễn ra sôi nổi như Thiền, Yoga, giảng Dharma, biểu diễn nghệ thuật, thăm các cơ sở thờ tự Phật giáo tại Hong Kong,… Đoàn đại biểu Việt Nam có 3 tham luận được trình bày tại Hội nghị. Sau phần trình bày tham luận đầy cảm xúc của NS.TS Thích Nữ Như Nguyệt vào ngày 23/6, đến chiều ngày 25/6, một đại diện khác của Việt Nam là TS. Tống Thị Quỳnh Hương, Giảng viên Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã trình bày tham luận với đề tài: “Quan điểm của Phật giáo về sự bình đẳng giới từ việc sinh con trai – con gái trong xã hội Việt Nam”. Tham luận của TS. Tống Thị Quỳnh Hương tìm hiểu về vấn đề bình đẳng giới nhìn từ quan điểm của Đức Phật và đối chiếu với quan điểm sinh con trai – gái trong xã hội Việt Nam.

Bài tham luận gồm bốn nội dung chính là: Quan điểm của Phật giáo về việc sinh con; ảnh hưởng của văn hóa Nho giáo; ưu tiên cho việc sinh con trai và những chênh lệch đang dần chuyển biến.

Hội thảo nhóm của đoàn Ni giới Việt Nam

Khi trình bày quan điểm của Phật giáo về việc sinh con, tham luận nhấn mạnh: Trong tư tưởng của Phật giáo nói chung, phụ nữ luôn được tôn vinh. Ngay từ khi xuất hiện thì Phật giáo đã luôn khuyến khích sự bình đẳng giữa nam và nữ trong cuộc sống và không ngừng đấu tranh cho sự bình đẳng đó trong suốt chiều dài lịch sử. Phật giáo Nguyên thủy không xem người phụ nữ bình thường như một công cụ sinh đẻ và mục tiêu duy nhất của người phụ nữ không phải chỉ là hôn nhân. Người phụ nữ có quyền được lựa chọn giữa việc lập và không lập gia đình mà người khác không được phép chê bai hay miệt thị. So sánh với các tôn giáo khác, vị trí của người phụ nữ trong tư tưởng Phật giáo được coi trọng hơn nhiều. Theo tư tưởng Phật giáo, người phụ nữ không phải là một phần của người chồng, cũng hoàn toàn không phải là tài sản hay thuộc sở hữu của người chồng. Phật giáo giải phóng phụ nữ thoát khỏi tình trạng là vật sở hữu để tồn tại một cách độc lập trong xã hội. Chức năng làm mẹ là bản chất đặc trưng và là thiên chức của người phụ nữ. Thậm chí, ngay cả người không thể có con thì họ vẫn có thiên chức làm mẹ đó. Do vậy, những phụ nữ độc thân vẫn được xã hội kính trọng như bao phụ nữ khác.

Nhấn mạnh tới ảnh hưởng của văn hóa Nho giáo trong xã hội Việt Nam, tham luận cho rằng sự hòa trộn giữa văn hóa bản địa với Phật giáo và Nho giáo đã tạo ra một hệ tư tưởng với nhiều nét riêng biệt chỉ có ở Việt Nam. Vì thế, việc sinh con của người phụ nữ Việt Nam cũng thể hiện rất rõ sự hòa quyện tư tưởng này.

Tham luận đã dẫn ra một số thống kê đáng báo động về sự chênh lệch tỉ lệ sinh con trai và con gái trong những năm gần đây và dự báo hệ quả của sự chênh lệch đó. Có thể nhận thấy, điều mâu thuẫn nhất trong tư tưởng của người Việt dù là quốc gia thấm nhuần Phật giáo, mọi người đều hiểu phụ nữ có vai trò quan trọng, mỗi gia đình đều không thể thiếu phụ nữ, nhưng phần lớn họ vẫn không thể từ bỏ được suy nghĩ rằng có con trai vẫn tốt hơn và nếu tốt nhất là có cả con trai và con gái thay vì có hai con gái.

Cuối cùng, tham luận đề cập tới những chênh lệch đang biến chuyển trong xã hội Việt Nam. Trong sự phát triển của thế giới ngày nay, vị trí của người phụ nữ ngày càng được cải thiện hơn. Vậy mà, ở một quốc gia đang phát triển nhanh chóng như Việt Nam, sự bất bình đẳng giới lại bắt đầu từ những đứa trẻ sơ sinh chưa hình thành ý thức. Điều này đã đi ngược lại với tư tưởng bình đẳng của Phật giáo – tôn giáo có số lượng tín đồ đông đảo nhất ở Việt Nam hiện nay. Việt Nam là quốc gia chịu ảnh hưởng sâu sắc của Phật giáo, nhưng cũng là một trong những nước nghèo nhất trên thế giới và vẫn bị tác động mạnh mẽ bởi quan điểm thiên vị về giới của Nho giáo. Mặc dù tỉ lệ sinh không bình đẳng, nhưng bằng việc đi theo những lời dạy của Đức Phật, phụ nữ Việt Nam càng ngày càng khẳng định mình trong nhiều khía cạnh của cuộc sống. Hiện nay, tỉ lệ biết chữ và trình độ học vấn của phụ nữ Việt Nam tương đối cao hơn so với các nước láng giềng. Do những thành tựu đáng ghi nhận, Việt Nam là một trong những nước đi đầu ở khu vực trong lĩnh vực giáo dục Nữ giới. Bài tham luận dẫn ra một vài số liệu minh chứng cho sự tăng lên mạnh mẽ của trình độ học vấn của Nữ giới Việt Nam trong nhiều năm gần đây.

Để kết lại bài tham luận của mình, TS. Quỳnh Hương khẳng định, ngày nay, người phụ nữ có nghĩa vụ đóng góp hữu ích cho xã hội bằng việc giáo dưỡng con cái trong tinh thần bình đẳng, giáo dục cho con cái giới đức và trí tuệ để trở thành người con ngoan hiền, hiếu thảo. Lời dạy của Thế Tôn đã làm rung động xã hội Ấn Độ cổ đại, vang vọng khắp thế giới, ngày nay vẫn còn nguyên giá trị và tác dụng, nhất là ở những quốc gia còn mang nặng tư tưởng trọng nam khinh nữ. Là một quốc gia ảnh hưởng sâu sắc của Phật giáo, người Việt cần nhận thức lại về lời Phật dạy và sẽ là tốt nhất nếu tất cả mọi người đều nhận thức được đầy đủ về vấn đề bình đẳng giới.

Sau khi trình bày, bài thuyết trình của TS. Quỳnh Hương đã thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả có mặt tại Hội nghị và được đánh giá là một trong những bài tham luận truyền cảm hứng và nhiệt huyết cho Nữ giới một cách rộng rãi trong sự nghiệp đấu tranh vì bình đẳng giới. TS. Quỳnh Hương cũng đã trả lời tất cả các câu hỏi được gửi đến với sự am hiểu sâu sắc của mình. Các đại biểu Việt Nam và quốc tế đều cảm thấy rất thú vị và hài lòng với bài tham luận đến từ Việt Nam trong chiều ngày thứ 4 của Hội nghị Sakyadhita lần thứ 15.

Hoa Đàm

TIN KHÁC
TIN LIÊN QUAN