Tâm thư kính dâng sư trưởng

346

  Kính bạch giác linh Sư nội!

Con là kẻ hậu bối chưa một lần được diễm phúc diện kiến tôn dung Sư nội. Thế nhưng hình ảnh Sư nội được tái hiện rất rõ ràng trong tâm tưởng con. Một vị Sư trưởng phạm hạnh cao vời, tài ba đức độ, làm sáng ngời trang sử Ni lưu.

Khi con giã từ cha mẹ, quê hương, xuất gia theo lý tưởng Phật đà, con không hề chọn chùa để tu, chọn thầy để học. Vậy mà, may mắn thay, nhờ hồng ân Tam Bảo gia hộ, thiện thần dẫn dắt, con được gặp đấng minh sư, được xuất gia trong tông môn của Sư nội.

Khi con bước chân vào chùa, cũng đã là lần thứ 10 tưởng niệm Người quảy dép về Tây, hồng trần vắng bóng. Trong ký ức của một chú tiểu ngây thơ, con không hề biết Sư nội là ai, chỉ nghe Sư phụ con hay kể về những công hạnh cao cả của Người để chúng con lấy đó làm gương sửa mình. Mỗi lần nhắc về Sư nội, con thấy trong đôi mắt Sư phụ con ánh lên những tia sáng lấp lánh và trong giọng nói có cả sự nghẹn ngào, xúc động, tiếc thương. Con chưa đủ lớn khôn để hiểu nhưng con biết Sư phụ đang buồn vì mất đi một người thầy vĩ đại, một chỗ dựa tâm linh vững chắc, một nơi chốn bình an để quay về nương tựa mỗi khi gặp sóng gió cuộc đời.

Trong lời Sư phụ kể, con được biết Sư nội qua những câu chuyện tưởng chừng như rất bình dị, đời thường nhưng lại chứa đựng nhiều bài học vô cùng sâu sắc. Con nhớ mãi câu chuyện về nửa trái ớt. Khi Sư phụ làm thị giả cho Sư nội, có một lần trong bữa cơm, Sư nội ăn nửa trái ớt còn nửa trái cất để dành nhưng Sư phụ không biết lại vứt đi. Hôm sau, Sư nội hỏi: “Nửa trái ớt của Thầy đâu?” Sư phụ nghe hỏi, sợ quá, lật đật đi lấy trái ớt khác bẻ đi một nửa, đem cho Sư nội. Sư nội cầm nửa trái ớt nghiêm nghị nói: “Đây không phải là nửa trái ớt hôm qua. Cô không nên phung phí của Tam bảo dù chỉ là nửa trái ớt.”

Ôi! Chỉ nửa trái ớt và một câu ngắn gọn, đơn giản mà Người đã cho chúng con một bài học sinh động, vô giá về đức tính “thiểu dục tri túc” của một “thích tử xưng bần”. Chúng con – những tu sĩ trẻ sống trong một xã hội hiện đại, đầy đủ nhu cầu vật chất, tiện nghi như hôm nay cảm thấy hổ thẹn trước giác linh Người. Nửa trái ớt năm xưa huyền thoại ấy không biết có cay không mà con nghe khóe mắt mình rưng rưng. Con nghe trong con đang trào dâng một nỗi niềm xúc động và hổ thẹn xiết bao. Xúc động vì đứng trước một nhân cách tuyệt vời, một bậc Ni trưởng đứng đầu Ni bộ Bắc Tông mà sống đời sống giản đơn, tri túc quá! Hổ thẹn vì mình được xuất thân trong tông môn của Người mà chưa làm được gì đóng góp cho Đạo pháp và nhân sinh, đôi lúc lại vô minh bất giác để ngũ dục lục trần sai khiến, kéo lôi.
Kính bạch giác linh Sư nội!

Khi lớn hơn một chút, trưởng thành hơn một chút, được Sư phụ gửi vào các trường Phật học, ở đây, con mới biết rõ hơn về hành trạng của Người. Uy danh của Người không chỉ giới hạn trong Tổ đình tông môn mà còn vang vọng khắp đất nước Việt Nam. Khi có ai đó hỏi con tu ở chùa nào, là đệ tử của ai, con trả lời xong thì hầu như ai cũng xuýt xoa chúc mừng vì con là đệ tử của Sư phụ con, là sư cháu của Người. Họ hết lòng ca ngợi về Người bằng một sự hiểu biết sâu sắc. Con thấy hổ thẹn vì con là đệ tử trong tông môn mà không biết gì về Sư nội ngoài những câu chuyện được Sư phụ kể. Thế là con bắt đầu tìm hiểu về tiểu sử và hành trạng của Người. Con đã rất xúc động khi đọc những dòng tán dương viết về Người: “Trong lịch sử phát triển của Ni chúng Việt Nam, không thể không nhắc đến Ni bộ Nam việt. Đó là một tổ chức đầu tiên của Ni giới Nam bộ. Công lao đóng góp vào sự ra đời của tổ chức này là của nhiều lớp Ni chúng, tuy nhiên người tu sĩ có vai trò quyết định sự hình thành và ra đời của Ni bộ Nam Việt chính là Sư trưởng Như Thanh… Trong thời điểm những giá trị về năng lực của người nữ xuất gia còn bị xem nhẹ, phụ nữ chưa được bình đẳng với nam giới, chưa thể có điều kiện cho người nữ xuất gia thực hiện ước nguyện lớn của mình: rời xa gia đình, bôn ba khắp chốn, vì hạnh phúc và sự trường tồn của Đạo pháp, hành động của Sư trưởng Như Thanh trong thời điểm đó là hành động thể hiện lòng từ bi, sự dũng cảm và một trí huệ tuyệt vời!”1

“Ni trưởng Như Thanh như một đóa sen hồng vượt ra khỏi mặt nước với vẻ đẹp cao quý của một bậc giác ngộ. Tư tưởng nhập thế cứu khổ của Người đã để lại cho đời một tấm gương sáng. Ni trưởng đã vân du khắp mọi miền đất nước, để thuyết giảng không hề mệt mỏi.”2
“Một đời quên mình vì đạo, 60 năm hoằng pháp độ sinh. Không phải là sự ngẫu nhiên để một người bình thường có thể làm nên đạo nghiệp lớn lao với biết bao thành quả phi thường từ hữu vi đến vô vi.”3

Trải qua bao phong sương tuế nguyệt của thời cuộc, Sư nội vẫn luôn được mọi người tưởng nhớ, ca tụng. Hình ảnh của Người vẫn luôn sống mãi trong trang sử Ni lưu. Con cảm thấy rất vui mừng và tự hào. Vui mừng không phải vì con được thừa hưởng được một chút hư danh nơi cõi trần giả huyễn. Tự hào không phải vì nghĩ mình là “con nhà tông không giống lông cũng giống cánh”. Mà vì giữa thời mạt pháp, trong chốn phàm trần đầy nhân ngã bỉ thử, chúng con có được một tấm gương đạo hạnh sáng ngời để soi mình, để học hỏi, để noi theo.

Người chính là niềm tự hào của Ni giới khiến chúng con không còn tự ti, mặc cảm mình là phận nữ nhi yếu hèn, nghiệp chướng đa mang.

Người chính là hiện thân của Bồ tát làm khơi dậy trong lòng chúng con hào khí Gotami với ý chí vượt lên trên phận nữ nhi thường tình, có thể chuyển mê khai ngộ, có thể làm nên nghiệp lớn, có thể gánh vác trách nhiệm “hoằng pháp lợi sanh”, “tiếp dẫn hậu lai báo Phật ân đức”. “Bỉ ký trượng phu ngã diệc nhĩ” (người kia là trượng phu thì ta đây cũng vậy), quan trọng không phải là hình thức bên ngoài mà điều cốt yếu là ở ý chí “trượng phu” của mỗi con người.

Mỗi lần con được về phép hay trước ngày rời chùa đi học, Sư phụ đều dạy con đắp y đảnh lễ Sư nội. Quỳ trước tôn ảnh Người, con cảm thấy một điều gì đó thiêng liêng không thể diễn đạt thành lời. Người ngồi đó mỉm một nụ cười hiền từ và an nhiên nhìn con. Trong nụ cười ấy con thấy được một sức mạnh của ý chí chứa đựng cả càn khôn vũ trụ. Và cũng trong nụ cười hàm tiếu ấy, con thấy ẩn hiện đâu đây hội Linh Sơn với pháp thoại không lời. Nụ cười của Người đã tiếp thêm cho con sức mạnh, như nhắn nhủ với con rằng: “Hãy tự tin lên! Con gái của Đức Như Lai!” Trong tâm khảm của con, nụ cười ấy đã trở thành ánh sáng bất diệt của ngọn hải đăng đang chiếu soi giữa biển khơi muôn trùng sóng vỗ, giúp thuyền con mỗi khi lạc lối sẽ kịp định hướng quay về nơi bến đỗ an vui.

Kính bạch giác linh Sư nội!
Nhân húy kỵ lần thứ 20 của Người, con xin kính cẩn dâng lên Người nén tâm hương tưởng nhớ, xin cúi đầu bái tạ thâm ân bằng tất cả lòng thành kính thiết tha.

Đuốc nối đuốc đêm đen rực sáng
Vô tận đăng soi chiếu cõi này
Chuyện tử sinh mất còn xem như một công án
Lấy Phật làm lòng xin mãi nhớ chuyện xưa nay.4

Dù biết mình tài hèn đức mỏng nhưng con xin nguyện sẽ cố gắng tấn tu đạo nghiệp, sống khép mình trong Giới luật, luôn noi theo tinh thần“an bần thủ đạo”, “xả kỷ vị tha” và tiếp nối con đường mà Người đã đi để trang sử Ni lưu mãi sáng ngời trên nhân thế.

Chuông chùa nghe vẳng tiếng ngân nga,
Giấc mộng phù sinh chợt tỉnh ra:
Phú quý khác chi cơn ảo mộng,
Sắc tài thôi cũng kiếp phồn hoa.
Tâm trần dứt hết không còn vướng,
Cảnh Phật lo gì chẳng được qua.
Quyết chí tu trì tinh tiến mãi,
Về đây Cực Lạc ở lòng ta.5

Một lần nữa con xin đê đầu bái tạ thâm ân Người.

Như Tuyết


1 PGS.TS. Trần Hồng Liên, Ni trưởng Như Thanh với sự hình thành và phát triển Ni bộ Nam Việt, http://vncphathoc.com/bai-nghien-cuu/ni-truong-nhu-thanh-voi-su-hinh-thanh-va-phat-trien-ni-bo-nam-viet/, ngày truy cập 29/12/2018.
2 Thích Nữ Chân Liễu, Ni trưởng Như Thanh – Sen hồng một đóa, http://www.hoalinhthoai.com/news/detail/news-1628/Ni-truong-Nhu-Thanh-sen-hong-mot-doa.html, ngày truy cập 29/12/2018.
3 Thích Nữ Như Nguyệt, Tỳ kheo ni Như Thanh – Ngôi sao Bắc Đẩu của Ni giới Việt Nam, tham luận tại Hội nghị Nữ giới Phật giáo Quốc tế Sakyadhita lần thứ 11, TP. Hồ Chí Minh.
4 Trích trong Thích Giác Tâm, Thùy dương sóng lặng tiễn đưa Thầy, https://phatgiao.org.vn/thuy-duong-song-lang-tien-dua-thay-d28651.html, truy cập ngày 29/12/2018.
5 Sư trưởng Như Thanh (1997), Chuông chùa, trích trong tập thơ Hoa Đạo, lưu hành nội bộ.