Thứ Năm, 26 Tháng Năm 2022
Kinh-Luận Luận tạng Sư trưởng Như Thanh với sự nghiệp hoằng pháp của Ni giới

Sư trưởng Như Thanh với sự nghiệp hoằng pháp của Ni giới

 Sư trưởng Như Thanh- vị danh Ni của Phật giáo Việt Nam thời hiện đại, là người có công rất lớn trong việc quy tụ và đoàn kết chư Ni các tỉnh thành miền Trung, miền Nam Việt Nam thành Ni bộ Nam Việt ( sau đổi tên thành Ni bộ BắcTông)- Một tổ chức quy tụ chư Ni mang tính tổ chức và phát triễn mạnh mẽ ngay từ thập niên 50 của thế kỷ trước. Với vai trò là người sáng lập, ngọn hải đăng dẫn đường cho Ni bộ, rồi tiếp tục gánh vác trọng trách Vụ trưởng Ni bộ Bắc Tông giai đoạn 1972- 1974, đến hôm nay nhìn lại, tôi cho rằng công đức và đạo nghiệp của Sư trưởng thật không thể nghĩ bàn!

Qua tìm hiểu nhiều bài viết của các thế hệ sau, đánh giá về Sư trưởng Như Thanh, tất cả đều có chung nhận định: Sư trưởng là con người đa tài, thể hiện phẩm chất xuất sắc của người lãnh đạo đại chúng, tỏa sáng oai nghi tế hạnh của bậc xuất trần thượng sĩ, uy lực nhiếp chúng khó ai bì kịp, khả năng phiên dịch Kinh điển cùng với sức sáng tác thơ văn phong phú đa dạng. Cho nên, tôi mong được góp thêm phần nhỏ ý kiến của mình vào việc nhận diện di sản của Sư trưởng Như Thanh nhân dịp hai mươi năm (1999- 2019) ngày Sư trưởng quảy gót quy Tây, trở về chốn vô tung bất diệt, với tham luận tựa đề: “Sư trưởng Như Thanh với sự nghiệp hoằng pháp của Ni giới”

Vài nét về sự nghiệp hoằng pháp của Ni giới trước thời Sư trưởng Như Thanh

Theo dòng lịch sử Phật giáo Việt Nam, trước phong trào chấn hưng Phật giáo đầu thế kỷXX, Ni giới tuy đã hiện diện tại các chùa, nhưng cơ bản chỉ lo tu tập, gìn giữ quy củ thiền môn, còn việc hoằng pháp lợi sinh. Tổ chức lễ nghi, phiên dịch kinh điển, đều do chư Tăng đảm trách. Tuy nhiên, do ảnh hưởng từ những giá trị tiến bộ và tích cực của thời kỳ chấn hưng Phật giáo, nhiều lớp học gia giáo và Giới luật cho Ni chúng đã thành lập, nhiều ngôi tự viện của Ni giới ra đời ở ba miền Nam, Trung, Bắc. Đó là thuận duyên lớn, khiến cho Ni giới phát triển mạnh mẽ, nhất là về hình thái tổ chức nghiên cứu Phật học, tạo điều kiện cho việc đào tạo và hành đạo của Ni giới sau này. Theo tôi đánh giá, đây là tiền đề giúp chư Ni trưởng thành, phát triển vượt bậc. Có thể kể đến Ni viện Vân Hồ (Hà Nội), Ni viện Diệu Đức (Huế), Trường Ni Giác Hoa (Bạc Liêu), Ni viện Vĩnh Bửu(Bến Tre),… Thời này, có những Ni trưởng đã khai đàn thuyết pháp, đào tạo đồ chúng, được tầng lớp quý tộc, trí thức thời bấy giờ ngưỡng mộ. Tiêu biểu có Ni trưởng Đàm Soạn, từ miền Bắc được mời vào Huế giảng Kinh mỗi năm ba tháng cho hoàng hậu, phi tần, nữ quan nhà Nguyễn. Tại kinh đô Huế, sư bà Diệu Hương- Tọa chủ Ni viện Diệu Đức thuyết giảng giáo nghĩa nội điển cho đại chúng làm kim chỉ nam tu tập. Trong Nam, Ni trưởng Diệu Tịnh, không chỉ viết bài kêu gọi đoàn kết, chấn hưng Ni giới mà còn trở thành bậc Giáo thọ tài năng giảng dạy Kinh điển cho nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội và từng được mời ra Huế giảng Kinh, rồi qua Nam Vang thuyết Pháp cho Hội Phật học nước này. Cùng thời ấy, Sư bà Thích Nữ Diệu Không cũng là môt vị Ni thuyết giảng nổi tiếng lúc bấy giờ. Điều này cho thấy khả năng và nội lực của chư Ni nước nhà trên con đường hoằng pháp độ sanh là rất lớn.

Sư trưởng Như Thanh với sự nghiệp hoằng pháp của Ni giới

Trong thời kỳ hoạt động của Ni bộ Nam Việt (sau này là Ni bộ Bắc Tông). Việc thuyết pháp độ sanh ngày càng được phát huy mạnh mẽ thông qua tấm gương lớn cũng như vai trò hoạt động tích cực của Sư trưởng Như Thanh.

Nhắc đến tiểu sử Sư trưởng Như Thanh (1911-1999), là nhắc đến công hạnh, đạo nghiệp của người, Sư trưởng tên thật là Nguyễn Thi Thao, xuất thân trong gia đình quan lại, sinh trưởng tại Thủ Đức (Gia Định). Thân phụ là tri Nguyễn Minh Giác, thân mẫu là cụ bà Đỗ Gần. Cả hai vị đều là người hiền đức, tôn kính Phật pháp. Thụ hưởng được nền tảng giáo dục gia đình, Sư trưởng Như Thanh am hiểu đồng thời cả hai nền  học vấn Hán học lẫn Tây học. Ngay từ nhỏ, hạt giống Bồ đề giải thoát đã âm thầm phát triển và đến năm 22 tuổi, Sư trưởng xuất gia đầu Phật với Tổ Pháp Ấn (Chùa Phước Tường) được ban Pháp danh là Hồng Ẩn, nối dòng Lâm Tế Gia Phổ. Thuở sơ cơ xuất gia học Phật, với sự tinh tấn dũng mãnh, nhất là mong muốn thông hiểu giáo nghĩa uyên thâm của Đại thừa, Sư trưởng đã quyết tâm đi tham học, cầu đạo từ các danh Tăng, danh Ni trên ba miền đất nước. Đây là một điều khó thực hiện vào thời đó, nhưng Sư trưởng không quản khó khăn, đã nỗ lực để vượt qua nhiều thử thách trong những năm tháng vừa bước vào chốn thiền môn. Trong tác phẩm: Sư trưởng Như Thanh: cuộc đời và sự nghiệp cho biết: Năm 1933 (23 tuổi), Sư trưởng tham gia lớp học Gia giáo tại chùa Viên Giác (Bến Tre), chùa Thiên Bửu(Bình Dương). Sau đó, Người quyết tâm ra Huế tham học Phật pháp với Hòa thượng Mật Hiển qua các bộ Kinh Lăng Nghiêm Trực Chỉ, Bát Nhã… Tiếp đó. Sư trưởng vân du ra Bắc, học Luật với chư Tôn đức tại chùa Trấn Quốc, chùa Bằng Sở. Năm 1941, trên đường về Nam, Sư trưởng đến chùa Thập Tháp Di Đà (Bình Định) cầu học với Quốc sư Phước Huệ- bậc danh Tăng, nhà giáo dục Phật giáo xuất sắc đương thời qua bộ Kinh Lăng Già Tâm Ấn. Theo tôi, việc Sư trưởng Như Thanh lãnh hội giáo nghĩa uyên thâm của Kinh- Luật- Luận từ các bậc trưởng thượng là nhờ vào sự thông tuệ mẫn tiệp sẵn có cũng như tinh thần dõng mãnh cầu đạo. Nhờ vào nền tảng này mà về sau Sư trưởng Như Thanh viết sách, dịch Kinh, nhất là thuyết pháp độ sanh một cách thuyết phục, dễ hiểu và dễ đi vào lòng người, mặc dù người thính pháp thuộc nhiều thành phần khác nhau trong xã hội. Vì vậy, ngay từ lúc trở về Nam, Sư trưởng đã mở lớp dạy Luật cho quý Ni chùa Hội Sơn (1942). Ni trưởng Diệu Tấn- Trụ trì chùa Kim Sơn (Phú Nhuận) khai hạ An cư, mời Sư trưởng làm Thiền chủ và giảng dạy giáo lý cho chư Ni. Năm 1944, chùa Bình Quang, Phan Thiết khai Đại Giới Đàn bên Ni, Sư trưởng được thỉnh làm Giới sư và đăng đàn thuyết pháp trong Giới đàn này. Cũng năm này, Sư trưởng mở trường Hạ tại chùa Hội Sơn, chư Ni miền Trung, miền Nam tụ về rất đông. Sư trưởng đã dạy Bộ Luật Tứ Phần Tỳ kheo ni lược ký trong ba tháng1. Như thế, nhờ vào sở học uyên thâm, sư trưởng đã tạo nền tảng quan trọng cho sự nghiệp phát triển hoằng Pháp cho Ni giới thuộc Ni Bộ Bắc tông sau này. Bởi lẽ, nếu không thông suốt và thấu hiểu Kinh điển, Sư trưởng không thể truyền thụ, ủng hộ và tạo thuận duyên cho nhiều vị Ni trẻ dấn thân trên bước đường hoằng pháp độ sanh.

Sư trưởng Như Thanh là dịch giả của nhiều bộ Kinh, Người nghiên tầm và viết nhiều sách Phật học có giá trị cao cho đến hôm nay. Về dịch thuật, có thể kể đến: Thiền Tông Và Tịnh Độ Tông, Làm Cách Nào để hoằng dương Phật Pháp. Thiền tông cương yếu… Về sáng tác, có những tác phẩm: Oai nghi người xuất gia, Hành Bồ tát đạo, Bát nhã cương yếu, Duy thức học, Phật pháp giáo lý… những tác phẩm này, đã giúp cho rất nhiều học Ni nghiên cứu, khai mở tâm trí, lãnh hội giáo nghĩa Phật đà. Phải chăng nhờ vào đây mà Ni giới, Ni bộ Bắc Tông đã xuất hiện nhiều vị có năng lực thuyết pháp, được nhiều người hâm mộ như: Ni trưởng Liễu Tánh, Ni trưởng Huyền Học, Ni trưởng Huyền Huệ,… Về sau, lại có thêm những vị Ni trẻ mà ngày nay trở thành những giảng sư Ni nổi tiếng như: NT. Thích Nữ Như Như (Ni viện Thiện Hòa). NT Thích Nữ Tịnh Nghiêm (Ni viện Tịnh Nghiêm). Cố NT Thích Nữ Như Thủy (HoaKỳ)… Những vị này từng là những học Ni, thọ ân giáo dưỡng từ Sư trưởng Như Thanh. Chính người là một trong những vị Giáo thọ sư hết lòng đem sở học của mình ra giảng dạy, trao truyền cho nhiều thế hệ Ni chúng tại các Phật học, Ni viện Từ Nghiêm, Dược Sư… Đây là những ngôi chùa mà cả cuộc đời Sư trưởng hoặc kế thừa, hoặc kiến lập, với mục đích thâu nhận và đào tạo Ni chúng, thành những vị chân Ni đầy đủ năng lực hoằng dương Phật pháp. Nhân đây, tôi xin nhắc lại nhận định của cố Hòa thượng Thích Chơn Thiện về Sư trưởng:

Suốt 66 năm học đạo và hành đạo, Sư trưởng đã sống vì mục tiêu giải thoát cho mình và người. Đây đúng nghĩa là thực hiện mục tiêu giáo dục của Phật giáo. Suốt 66 năm ấy, Sư đã nghiêm trì giới bổn, tận tình hướng dẫn hàng hậu lai tu học. Đây quả là sự thể hiện đầy đủ tư cách và trách nhiệm của một nhà giáo dục chư Ni, trung thành với sự nghiệp giáo dục thân giáo và khẩu giáo của Đức Thế Tôn. Sư trưởng quả là một tấm gương sáng và là một niềm tin, khích lệ lớn cho những ai đang tiếp tục con đường đào tạo Ni tài vì sự nghiệp hoằng dương Chánh pháp, vì lợi ích an lạc của số đông2.”

Vì vậy, chúng ta có thể xưng tán rằng: Sư trưởng chính là người đóng góp lớn vào sự nghiệp giáo dục hoằng pháp cho Ni giới Việt Nam thời hiện đại. Những vần thơ sau của Sư trưởng đã nêu cao chí nguyện của Người về sứ mệnh cao quý này:

Này con ơi! Đạo tràng Thầy lập
Này con ơi! Kinh tập Thầy truyền
Mai kia Thầy đã tịnh yên
Bao nhiêu chí nguyện Thầytruyền cho con3

Hơn nữa, trong các buổi họp với Đại Tăng, nhờ vào sức học uyên thâm, biện tài vô ngại, Sư trưởng đã đóng góp nhiều ý tưởng để xây dựng Ni giới có năng lực và đạo hạnh. Sư trưởng chính là người trực tiếp bày tỏ nguyện vọng với quý hòa thượng, Thượng tọa cho phép chư Ni được đăng đàn thuyết pháp. Vì vậy, có thể khẳng định: Sư trưởng là người khai sinh cho Ni giới được phép trở thành những vị giảng sư làm nhiệm vụ thiêng liêng, cao cả, trong sứ mạng hoằng dương Chánh pháp của Như Lai trên tinh thần “Hoằng pháp vi gia vụ, lợi sanh vi bổn hoài”.

Sự kiện này được Hòa thượng Đổng Minh kể lại như sau: Trong Đại hội Hoằng pháp năm 1962, được tổ chức tại Phật học viện Nha Trang, trước sự tham dự đầy đủ của chư tôn đức, như Hòa thượng Đôn Hậu, Hòa thượng Trí Thủ, Hòa thượng Thiện Hòa, Hòa thượng Thiện Hoa, Hòa thượng Trí Tịnh, Hòa thượng Trí Quang, Hòa thượng Thiện Minh, Hòa thượng Đức Nhuận , Hòa thượng Mật Nguyện, Hòa thượng Huyền Quang, và các sư bà Diệu Không, Sư trưởng Như Thanh, Sư bà Diệu Ấn, sư bà Tâm Ấn, sư bà Huyền Học,… Cùng với các cư sĩ tri thức như cụ Chơn An- Lê Văn Định, cụ Chánh Trí- Mai Thọ Truyền, nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba, đạo hữu Võ Đình Cường… và gần 200 đại biểu, Sư trưởng Như Thanh đề nghị: “Ngoài đoàn giảng sư của chư Tăng, nên đặt một đoàn hoằng pháp lưu động toàn quốc do Ni chúng phụ trách”. Hòa thượng Trí Thủ có ý kiến: “Ni chúng lo việc từ thiện xã hội như cô nhi, ký nhi…, còn việc hoằng pháp thì để bên Tăng đảm trách”. Sư trưởng Như Thanh xin được phụ trách cả hai. Sư trưởng nói: “Vị Ni nào có khả năng giảng diễn thì diễn giảng, vị Ni nào có khả năng về từ thiện xã hội thì làm từ thiện xã hội”. Sư trưởng Như Thanh phát biểu với khí thế hùng hồn, làm cho cả hội trường đều lắng nghe chăm chú. Sư trưởng lập luận vững chắc với lời lẽ hết sức thuyết phục vô cùng. Tiếp tục câu chuyện này, Ni sư Như Tâm- vị thị giả của Sư trưởng kể rằng: Sau đó, để thuyết phục bên Tăng đồng ý, quý sư bà lãnh đạo Ni bộ Nam Việt tổ chức lựa chọn một vị Ni có năng khiếu thuyết pháp để thi diễn giảng với bên Tăng. Kết quả là vị Ni đó thắng nên thuyết phục được chư Tôn túc Tăng. Từ đó, Ni giới được phép gia nhập vào đội ngũ giảng sư làm nhiệm vụ thiêng liêng của người tu sĩ Phật giáo là hoằng dương Chánh pháp. Có thể nói rằng, đây là mốc lịch sử quan trọng đối với quá trình phát triển về mặt hoằng pháp của Ni giới nước ta. Sư trưởng chính là người làm thăng hoa giá trị này bằng cách nâng tầm trách nhiệm cho Ni giới bước vào sự nghiệp hoằng pháp, tiếp thêm một cánh tay nữa cho Giáo hội. Quả thật, đây là điều mà chư Ni cần phải tri ân và báo ân trong muôn một đối với bậc danh Ni xuất sắc, có tầm nhìn mang tính thời đại của Phật giáo Việt Nam, một ngôi sao Bắc đẩu của Ni giới nước nhà.

Kế thừa di sản hoằng pháp của Sư trưởng Như Thanh

Kế thừa truyền thống củaNi bộ Bắc tông, từ sau ngày thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam (1981), chủ trương Đào tạo giảng sư của Giáo hội, từ khóa Thiện Hoa, Trí Thủ và nhiều khóa tiếp theo được ban Hoằng pháp Trung ương tổ chức đào tạo tại thiền viện Quảng Đức và chùa Hòa Khánh đã thu hút một bộ phận chư Ni theo học rất đông. Đến nay, chư Ni đã được đào tạo và tốt nghiệp lên đến hàng trăm vị. Sau khi tốt nghiệp, nhiều vị Ni đã trở thành giảng sư, tham gia hoằng pháp từ Trung ương cho đến nhiều tỉnh, thành trong nước và kể cả nước ngoài như: NT. Thích Nữ Như Thảo; NT. Thích Nữ Pháp Như; NS Thích Nữ Như Lan; NS. Thích Nữ Như Lan; NS Thích Nữ Hạnh Nghiêm; NS. Thích Nữ Lệ Trí; SC Thích Nữ Chúc Hiếu… Đây chính là sự tiếp nối thống từ Ni bộ Bắc Tông, từ trong di sản tinh thần vô giá, từ con đường mà Sư trưởng Như Thanh đã nhiệt huyết kiến lập trước đó.

Như vậy, có thể nói, Sư trưởng Như Thanh là người thổi hồn vào sự nghiệp hoằng pháp của Ni giới Việt Nam. Trước thời Sư trưởng, Ni giới ít có cơ hội đăng đàn thuyết pháp, việc thuyết pháp được cho là để dành cho chư Tăng. Nhờ vào uy lực và khả năng hùng biện thuyết phục của Sư trưởng, Ni giới đã có thể tham gia đầy đủ, thường xuyên hơn, sánh vai cùng chư Tăng trong sự nghiệp hoằng pháp trong mấy thập niên qua.

Cuối cùng, nhân hội thảo khoa học này, tôi mong muốn Tông phong Tổ đình Huê Lâm nói riêng và Phan ban Ni giới Trung ương nói chung, nên tập hợp và phát hành lại những bài thuyết giảng của Sư trưởng Như Thanh thông qua các phương tiện truyền thông hiện đại. Làm được điều này, chẳng những quý vị đã thể hiện được tấm lòng tri ân của thế hệ đi sau mà còn góp phần làm sống lại di sản tinh thần của Sư trưởng mãi mãi vè sau. Như thế, Pháp thân của Sư trưởng Như Thanh vẫn rực rỡ, sáng soi cho Ni giới Việt Nam và thế giới trên bước đường học đạo và hành đạo.

HT.TS. Thích Tấn Đạt


  1. Tổ đình Huê Lâm, tiểu sử Ni trưởng Như Thanh (1911- 1999) Nguồn:https://www.giacngo.vn
  2. Tổ đình Huê Lâm (1999),  Sư trưởng Như Thanh: Cuộc đời và sự nghiệp. Sđd. Tr127
  3. Tổ đình Huê Lâm (1999), Sư trưởng Như Thanh: cuộc đời và sự nghiệp, Sđd. Tr 52


Tài liệu tham khảo

  1. Tổ đình Huê Lâm (1999), Sư trưởng Như Thanh cuộc đời và sự nghiệp, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
  2. Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (1972), kỷ yếu Đại hội Ni bộ Bắc Tông, chùa Từ Nghiêm.
  3. Tỳ kheo ni Như Đức (biên soạn)(2009), Lược sử Ni giới Bắc tông ViệtNam, Hà Nội. Nxb Tôn giáo

Tin khác

Cùng chuyên mục

error: Nội dung được bảo mật !!