Thứ Ba, 11 Tháng Sáu 2024
Phật họcTìm hiểu Phật giáoSự khác biệt giữa đức Bồ tát Địa Tạng Vương và Bồ...

Sự khác biệt giữa đức Bồ tát Địa Tạng Vương và Bồ Tát Mục Kiền LiênSự khác biệt giữa đức Bồ tát Địa Tạng Vương và Bồ Tát Mục Kiền Liên地藏王菩萨与目犍莲菩萨之区别

Chắc hẳn có nhiều người cũng như tôi khi nhầm tưởng đức Địa Tạng Vương Bồ Tát và Mục Kiền Liên Bồ Tát là một người. Bởi khi chiêm bái các tranh ảnh và tượng của đức Địa Tạng Vương Bồ Tát và Mục Kiền Liên Bồ Tát, chúng ta nhận thấy hai ngài có nhiều điểm tương đồng về trang phục và tay đều cầm tích trượng. Hai ngài cũng có hạnh nguyện độ âm.

Chính vì những điểm giống nhau đó nên nhiều người khi dùng hình ảnh minh họa cho bài viết hay in trên các ấn phẩm truyền thông có sự nhầm lẫn. Trong bài viết dưới đây, với vốn kiến thức còn nông cạn của mình, tôi xin trình bày một số điểm khác biệt về hình tướng cũng như hạnh nguyện của các ngài để mọi người có cái nhìn rõ hơn về chủ đề này.

Trong Kinh Địa Tạng, có nêu ra hình ảnh của hai người con báo hiếu cứu mẹ. Một là, ở phẩm thứ nhất, tiết mục 5, nói về Bà La Môn nữ cứu mẹ. Hai là, ở phẩm thứ 4, tiết mục 4, nói về Quang Mục cứu mẹ. Vì hiện nay hầu hết mọi người vẫn quen với hình ảnh của Quang Mục nên trong bài tôi xin viết về hiếu tử Quang Mục vốn là tiền thân của Bồ Tát Địa Tạng, để tạm so sánh sự dị đồng giữa hai vị là Địa Tạng Vương Bồ Tát và Mục Kiền Liên Bồ Tát.

Nếu xét trên tinh thần và mục đích báo hiếu giữa hai người con, nhằm hướng đến việc cứu mẹ mình khỏi tội để được giải thoát, thì ta thấy cả hai đều giống nhau. Tuy nhiên, nếu luận về chi tiết qua hình tướng, mốc thời gian, không gian và hoàn cảnh, nhân vật, phát nguyện, phương pháp hành sự và người chịu khổ v.v… thì chúng ta sẽ thấy có những điểm khác nhau.

I. Địa Tạng Vương Bồ Tát

Địa Tạng Vương Bồ Tát là một trong sáu vị Bồ Tát quan trọng của Phật giáo Đại thừa. Năm vị còn lại là Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát và Di Lặc Bồ Tát.

Địa Tạng Vương Bồ Tát là một vị Bồ Tát đại từ đại bi thệ nguyện độ thế rất rộng lớn. Ngài là giáo chủ của cõi U Minh. Địa là đất. Tạng là trùm chứa. Bồ Tát có lập đại nguyện tế độ tất cả chúng sinh cũng như đất là nơi nương tựa cho muôn sự muôn vật nên gọi là Địa. Cũng có người lý giải nghĩa của chữ “Địa” nương theo Kinh Địa Tạng có viết: “U Minh Giáo Chủ Bổn Tôn Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát”. Vì cách sử dụng từ ngữ trong kinh điển hết sức sát nghĩa và rõ ràng nên “Bổn” là Bổn tâm, “Tôn” là tôn quý, “Địa” là tâm địa, “Tạng” là Như Lai tạng. Như vậy, chỉ có Bổn tâm mới là tôn quý nhất, đó là kho Như Lai tạng tâm địa. Chỉ có Bổn tâm mới làm chủ được cõi u minh, tức là làm chủ cõi địa ngục tham – sân – si của chính mình.

a) Hình tướng

Địa Tạng Bồ Tát thường được mô tả là một vị Bồ Tát với vầng hào quang trên đầu, đầu đội mão tỳ lư, ngồi trên tòa sen do Đề Thính đỡ hoặc đứng trên tòa sen. Tùy khí của ngài chính là viên ngọc Như Ý mà ngài thường cầm nơi tay trái tượng trưng cho ánh sáng xua tan bóng đêm, còn tay phải cầm tích trượng để mở cửa địa ngục. Một số tranh tượng ở Việt Nam và Trung Quốc có khắc họa hình ảnh Địa Tạng Vương Bồ Tát đội mũ thất Phật và mặc áo cà sa đỏ.

b) Hạnh nguyện

Vô lượng kiếp về thuở quá khứ, thời đức Phật Liên Hoa Mục Như Lai, ngài Địa Tạng là một hiếu nữ tên Quang Mục có nhiều phước đức. Nhưng mẹ của Quang Mục lại là người rất ác, tạo vô số ác nghiệp. Khi mạng chung, bà bị đọa và địa ngục. Quang Mục tạo nhiều công đức hồi hướng cho mẹ và nhờ phước duyên cúng dường một vị A La Hán, vị Thánh này đã cho biết mẹ của cô đã thoát khỏi cảnh địa ngục sinh vào cõi người, nhưng vẫn còn chịu quả báo sinh vào nhà nghèo hèn, hà tiện, lại bị chết yểu.

Vì lòng thương mẹ và chúng sinh, Quang Mục đã đối trước đức Phật Liên Hoa Mục Như Lai phát nguyện: “Từ ngày nay nhẫn đến về sau trăm nghìn muôn ức kiếp, trong những thế giới nào mà các hàng chúng sinh chịu tội khổ nơi địa ngục cùng ba đường ác đạo, con nguyện cứu vớt chúng sinh đó làm cho tất cả đều thoát khỏi chốn địa ngục, ngã quỷ, súc sinh… Những kẻ mắc phải tội báo như vậy thành Phật cả rồi, sau con mới thành bậc Chánh giác”. Và hiếu tử Quang Mục chính là một trong những tiền thân của đức Địa Tạng Vương Bồ Tát.

Trải qua muôn ngàn số kiếp, đã có không biết bao nhiêu chúng sinh chứng quả thành Phật. Riêng chỉ có Bồ Tát Địa Tạng, vì lòng đại từ đại bi tha thiết vô tận cứu độ chúng sinh, vẫn chưa thành Phật. Do lời đại nguyện ấy, đức Thế Tôn đã phong ngài làm U Minh Giáo Chủ, cứu độ các linh hồn tội lỗi đang bị đọa ở U Minh Địa Giới hay nhiều người vẫn thường gọi là cõi Diêm Vương Phù Đề.

c) Xét về thời gian và hoàn cảnh

Như đã viết ở phần trên, chuyện của hiếu tử Quang Mục cứu mẹ là việc xảy ra trong vô lượng kiếp về quá khứ, thời của một vị Phật hiệu là Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai. Đó là chuyện xảy ra từ thời xa xưa và chỉ là một chuyện truyền thuyết, chứ không phải là chuyện xảy ra trong lịch sử thời đức Phật Thích Ca còn tại thế. Đức Phật Thích Ca bằng thần thông của mình mà thấy biết, sau đó thuyết giảng cho đại chúng trong Kinh Địa Tạng Vương Bồ Tát Bổn Nguyện. Nhờ đây, chúng ta mới biết tới vị Bồ Tát có tâm lượng từ bi thâm diệu đến vậy. Hay nói cách khác, Bồ Tát Địa Tạng là một vị Phật cổ trong ngàn kiếp xưa.

d) Xét về phương pháp hành sự

Nàng Quang Mục sau khi biết mẹ đang thọ khổ nơi địa ngục đã vâng theo lời dạy của vị La Hán phát tâm đắp vẽ sơn thếp hình tượng của đức Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai và chí thành xưng niệm danh hiệu Phật Thanh Tịnh Liên Hoa Mục để cầu nguyện, đặng nhờ ơn cứu độ cho mẫu thân. Sau đó, nàng được Phật chỉ cho biết là mẫu thân của nàng sẽ thác sinh vào trong nhà của nàng. Quả nhiên, người tớ gái trong nhà sinh ra một đứa con trai, chưa đầy 3 tuổi đã biết nói. Đứa trẻ đó chính là bà mẹ của Quang Mục.

Bà mẹ cho biết, năm 13 tuổi sẽ chết và đọa vào địa ngục ác đạo. Biết rõ đó là mẹ mình nên Quang Mục vì cứu mẹ mà phát đại nguyện sẽ cứu các tội khổ của chúng sinh trong cõi địa ngục.

e) Xét về nhân vật thọ khổ, nguyên nhân tạo nghiệp ác và sự tái sinh

Lúc còn sống, mẹ của Quang Mục không chỉ thích ăn loài cá trạch, mà còn ưa ăn trứng của nó, hoặc chiên xào, hoặc nấu nướng, không biết ngàn vạn nào kể xiết. Vì cái nghiệp sát sinh sâu dày đó nên bà bị đọa vào địa ngục chịu vô lượng khổ. Sau khi mãn kiếp địa ngục, bà thác sinh vào trong nhà làm con của một người tớ gái.

Sau khi Quang Mục phát nguyện cứu mẹ và tất cả chúng sinh trong ba đường ác, giữa hư không nàng nghe thấy đủ mọi điều tiên chúc của Phật tỏ bày: “Này Quang Mục! Ngươi có lòng từ bi mẫn rất lớn, biết vì mẹ mà phát lời đại nguyện như thế, nay Ta là Thanh Tịnh Liên Hoa Mục cho mẹ người mãn đến khi 13 tuổi, được thác sinh làm người Phạm Chí, hưởng thọ đến trăm tuổi. Rồi sau lại được sinh về cõi Vô Ưu, hết sự lo phiền, đủ điều khoái lạc, lại sống lâu đến đời đời kiếp kiếp. Sau được thành Phật quả mà cứu độ tất cả chúng sinh ở cõi nhân gian và Thiên thượng, nhiều như số cát sông Hằng”.

II/ Mục Kiền Liên Bồ Tát

Mục Kiền Liên Bồ Tát sinh khoảng năm 568, mất khoảng năm 484 trước Công nguyên ở nước Magadha, nay thuộc miền Bắc Ấn Độ, là một vị tỳ kheo trong thời kỳ đức Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế.

Tôn giả Mục Kiền Liên và Tôn giả Xá Lợi Phật là hai vị đệ tử đứng đầu trong hàng chúng đệ tử của Phật Thích Ca. Ngài đã đắc chứng A La Hán, quả vị cuối cùng trong Tứ Thánh Quả cùng với sự giải thoát và giác ngộ viên mãn. Phẩm hiệu của ngài là “Thần thông đệ nhất” trong hàng Thanh Văn đệ tử của đức Phật. Trong Kinh Pháp Hoa phẩm thứ 6, đức Phật đã thọ ký cho ngài danh hiệu “Đa Ma La Bạt Chiên Đàn Hương Phật”.

a) Hình tướng

Tôn giả Mục Kiền Liên thường xuất hiện trong hình ảnh mặc y vấn, tay phải cầm tích trượng, tay trái không cầm gì. Nếu có cầm thì ngài thường cầm bình bát ngụ ý để mang cơm dâng cho mẹ đang thọ khổ ở dưới địa ngục. Ngài không ngồi mà luôn ở thế đứng, như để sẵn sàng đi xuống cõi âm dâng “bát cơm đầy vạn ước mong” tỏ lòng hiếu kính mẹ.

b) Hạnh nguyện

Mẹ của Tôn giả Mục Kiền Liên là bà Thanh Đề, lúc còn sống bà chẳng những không tin Tam bảo lại còn hủy báng, phá hoại Tam bảo, nói Tam bảo không tốt, không đáng để tin. Cho nên sau khi chết bà liền bị đọa xuống địa ngục.

Tôn giả Mục Kiền Liên chứng quả vị La Hán, đắc được lục thông, liền quan sát khắp các cõi giới để tìm mẹ. Vì tôn giả đã khai mở được Phật nhãn, pháp nhãn, huệ nhãn, đắc được ngũ căn lục thông nên nhìn thấy được mẹ mình đang đọa lạc nơi địa ngục thống khổ, cơm cũng không có để ăn. Tôn giả liền mang một bát cơm đến cho mẹ.

Vào đến địa ngục, tôn giả dâng bát cơm cho mẹ. Bà Thanh Đề lúc còn sống vì tâm tham quá nặng nề, nên dù bị đọa làm ngã quỷ vẫn không dứt bỏ được tâm tham. Bà một tay đỡ lấy bát, dùng vạt áo của tay kia che lại, rồi vội vàng chạy đến chỗ không có các ngã quỷ, đem bát cơm lén ăn một mình. Nhưng vì nghiệp chướng quá sâu dày nên cơm vừa đưa lên miệng thì hóa thành hòn than đỏ rực.

Tôn giả Mục Kiền Liên tuy là thần thông đệ nhất nhưng không thể giúp được mẹ, nên đã đến thưa với đức Phật Thích Ca. Đức Phật nói: “Vì mẹ của ông hủy báng Tam bảo, tội nghiệp quá nặng. Bây giờ sức của mình ông không thể nào giải cứu được đâu. Muốn cứu được mẹ ông thì vào ngày rằm tháng bảy, là ngày chư Phật hoan hỷ, cũng là lúc chư tăng Tự tứ, ông hãy thiết lễ Vu Lan Bồn, đây là lễ cúng “giải đảo huyền” (giải cứu cái khổ bị treo ngược).

Trước tiên, ông hãy cúng dường mười phương Tăng; khi mười phương Tăng chưa thọ dụng những thức ăn này thì ông cũng chưa được dùng. Ông trước hết phải cúng Phật, Pháp và Tăng; sau đó mới có thể thọ dụng những phẩm vật dâng cúng. Vào ngày này, ông thiết trai cúng dường Tam bảo thì mẹ của ông sẽ lìa khổ được vui!”

Tôn giả Mục Kiền Liên làm y theo lời Phật dạy, ngày rằm tháng bảy năm đó, thân mẫu của ngài được thoát nạn. Mục Kiền Liên cảm kích ân Phật, khuyến khích người thế gian hàng năm rằm tháng bảy tổ chức lễ Vu Lan, cúng dường tăng chúng mười phương hội về, tụng kinh Vu Lan Bồn báo hiếu cho cha mẹ và cửu huyền thất tổ (Trích từ quyển Thập đại đệ tử).

Sau này, hình ảnh Tôn giả Mục Kiền Liên cứu mẹ nơi địa ngục đã trở thành hình tượng hiếu đạo trong Phật giáo, nhắc tới đạo hiếu là nói đến ngài Mục Kiền Liên. Nương theo câu chuyện của ngài, đức Phật đã dạy chúng sinh ai muốn báo hiếu cho cha mẹ hãy làm theo cách của ngài (Vu Lan Bồn Pháp). Từ đó, ngày lễ Vu Lan ra đời.

Tôn giả Mục Kiền Liên là hiện thân cho hạnh nguyện cứu mẹ thoát khỏi cảnh khổ, là hình ảnh tiêu biểu cho hiếu đạo của con người. Sau khi đắc quả A La Hán, ngài đã dùng lòng từ vô lượng và trí tuệ rạng sáng để hóa độ chúng sinh.

c) Xét về thời gian và hoàn cảnh

Mục Kiền Liên Bồ Tát là một trong mười đại đệ tử của đức Phật Thích Ca. Ngài là người xuất hiện trên cõi đời này bằng xương, bằng thịt lúc đức Phật còn tại thế. Ngài thường song hành với Tôn giả Xá Lợi Phật, là một người thần thông đệ nhất, vô cùng quảng đại. Sau khi xuất gia được 7 ngày, ngài đã đoạn trừ hết các lậu hoặc, chứng quả A La Hán.

Có thể thấy, Tôn giả Mục Kiền Liên là một nhân vật lịch sử có thật. Ngài có quá trình xuất gia tu học và đắc quả, được sử liệu ghi chép rõ ràng. Và ngài đã được nhân loại thừa nhận là một nhân vật lịch sử có sức ảnh hưởng lớn trong thời đức Phật còn tại thế. Ngài do công phu tu hành mà có được thần thông đệ nhất. Bằng tuệ nhãn và nhờ năng lực của mình, ngài đã thấy rõ sự đọa lạc thọ khổ của mẹ ngài.

d) Xét về phương pháp hành sự

Sau khi biết mẹ đang bị thọ khổ ở địa ngục, Tôn giả Mục Kiền Liên vâng theo lời dạy của đức Phật, thành tâm chí kính thỉnh mười phương chư Phật và chúng tăng, chuẩn bị xếp sắp phẩm vật thiết lễ cúng dường trai tăng để cầu nguyện cho mẹ của ngài. Ngài đã tổ chức một buổi đại lễ trai tăng trang nghiêm vào ngày lễ Tự tứ mãn hạ của chư tăng.

e) Xét về nhân vật thọ khổ, nguyên nhân tạo nghiệp ác và sự tái sinh

Bà Thanh Đề – mẫu thân của Tôn giả Mục Kiền Liên sinh thời là một con người tham sân si, gian ác, điêu ngoa, nói dối, gian tà, lừa gạt nhiều người. Do lòng tham, bỏn xẻn và gây tạo quá nhiều nghiệp ác mà đọa làm thân ngã quỷ, đói khát khổ sở trăm bề. Sau này, nhờ thần lực chú nguyện của chư Phật và Thánh tăng mà chuyển hóa được lương tâm của bà. Nhờ bà ăn năn, cải hối chuyển đổi tâm ý mà được thoát khổ, siêu thoát và sinh lên cõi trời hưởng phước báu an lành.

III. Kết luận

Có thể thấy, mục đích báo hiếu, cứu mẹ thoát khỏi cảnh địa ngục khổ đau của hai vị Bồ Tát trên căn bản là giống nhau. Cả hai đều đạt được mục đích và biểu lộ với tất cả tấm lòng của một người con chí hiếu, dù bản nguyện, cách thức và đối tượng cầu nguyện có phần khác nhau.

Do người viết tuổi đời còn non trẻ nên trong bài sẽ không tránh khỏi việc nhiều chỗ vẫn còn thiếu sót về kiến thức, hiểu biết vẫn còn hạn hẹp, thiếu sự chuyên sâu. Rất mong nhận được sự góp ý của các vị thiện tri thức để bổ sung thêm những phần còn yếu kém. Từ đó, sẽ giúp mọi người phần nào tránh đi sự nhầm lẫn khi lựa chọn hình ảnh để tổ chức trong các khóa lễ cũng như minh họa cho bài viết của mình.

 

Tuệ An (Phatgiao.org.vn)

相信会有许多人跟我一样认为,地藏王菩萨与目犍莲菩萨同为一人 ,因我们所供奉之地藏王菩萨塑像 , 画像,从衣服 ,到手握锡杖 ,甚至度阴的行愿与目犍莲菩萨没有差距 。

因此许多人在传媒方面 ,文章中所使用之插图,时常把目犍莲误当地藏王。在以下此文章 ,以自己肤浅之见识 , 大概指出两位之差别之处。

在地藏经中 ,有提交两位孝子营救母亲 。一是  ,在第一品中 ,第五节,讲述婆罗门女救母 。二是 ,在第四品中 ,第四节 ,讲述光目救母 ,在此我为大家介绍地藏王菩萨之前身 ,光目救母故事 ,以供读者辨别两位之间的相同与差异 。

在两位生为人子的精神及报答孝恩方面 ,他们是相同的 。虽然 ,如果通过形象 ,时间 ,空间与环境 ,人物 ,发愿 , 行事方法以及受苦之人…详细而论 ,我们将察觉到差距之处 。

壹·地藏王菩萨

地藏王菩萨是大乘佛教重要的六位菩萨其中之一位 ,其余的五位分别是:观世音菩萨 ,大势至菩萨 ,文殊师利菩萨 ,普贤菩萨及弥勒菩萨 。

地藏王菩萨是一位大慈大悲有广大渡世誓愿的菩萨 ,是幽冥教主 。安忍不動如大地,靜慮深密如秘藏」,故名地藏。另一说法 ,根据“地藏王本愿经” 本尊地藏菩薩摩訶薩 。在经典中所使用之词语意义非常确实 ,所以“本”是本心 ,“尊”为尊贵 ,“地”是心地 ,“藏”为如来藏 。因此 ,只有本心才是最尊贵 ,那是如来藏心地之仓库 ,只有本心才能任幽冥之主 ,既是任自己贪 ,慎 ,痴的地狱之主 。

形象

地藏王菩萨常获描写为头发浩光 ,頭戴毗盧冠 ,端坐在由神獸諦聽背上或莲座上,左手持寶珠驱散黑暗 ,右手握錫杖打开地狱之门

行愿

在过去无量劫中,目莲花如来佛时代 ,地藏王是一位具有许多福德名叫光目的孝女 ,但光目之母亲是一位极恶的人 , 造出无数恶劫 ,寿终时 ,被坠入地狱 ,光目将所造之功德回向于母亲及供养一位罗汉的福缘 ,这位圣告知她母亲已脱离地狱生入人道 , 但还要受报应投胎在贫困 ,吝啬家庭 ,最后夭折 。

因爱惜母亲及众生,光目已对着莲花如来佛发愿 :“从今天起至今后千万劫 ,任何某一劫里有众生罪徒在地狱或者恶道中受苦 ,我愿拯救那里之一切所有众生脱离地狱 ,饿鬼 ,畜生道…这些罪徒获得正果后 ,我才成正觉 。”因此,光目孝女正是地藏王之前身。

经过千万劫 ,已有不知多少众生证得正果 , 唯有地藏王菩萨 ,因无尽慈悲为怀要度尽所有众生 ,还未成佛 。因此大愿 ,世尊便封她为幽冥教主 ,救度正在幽冥界或阎王界受苦之一切众生。

时间与环境

如以上所提到 ,光目孝女救母的故事发生在过去无量劫中 ,在一尊号称清静莲花目如来佛时代里 ,那是一则古老的故事而且还是传说 ,而不是发生在释迦佛祖还在世时之历史 。只是释迦以自己神通而观察到 ,然后在“地藏本愿经”中给大众解说 。因此 ,我们才了解到原来地藏菩萨具有如此深妙之慈悲心 。或另一说法,地藏菩萨是古老千劫里之一尊佛

行事方法

光目当知道母亲在地狱受苦后 ,按照一位罗汉的指示 ,绘塑清静莲花目如来尊像 ,祈求借助尊佛力量救度母亲 ,之后 ,得到佛告知她之母亲将托生到她的家中 ,果然 ,家中一位婢女生下一个男孩 ,还未到3岁便懂得说话 ,这个小孩便是光目之母亲 。

这位母亲告知 ,13岁那年将死亡及坠入恶道地狱 ,知道这是自己的母亲所以光目便发愿要救尽地狱中所有罪徒。

受苦人物 ,造业原因以及再生

在世时 ,光目的母亲不但喜欢吃鱼 ,而且还喜欢吃它的卵 ,或煎炒 ,或烹制 ,千言万语都难以说尽 ,正因此杀生罪业当寿终时被坠入地狱受无量苦 ,在地狱劫完之后 ,托生到自己家里做一位婢女之儿子 。

当光目发愿救度母亲以及三恶道所有受苦众生 ,听到在虚空发出预祝及嘱咐之声  “光目 !你具有广大慈悲怜悯之心 ,晓得为母亲发了这样宏大誓愿 ,今我清静莲花目如来允许你母亲寿命满十三岁 ,托生为范志人 ,享寿百岁 ,然后往生无忧界 ,没有忧虑 ,永享快乐 ,然后成佛果救度世间与天上众生 ,如恒河沙数 。

贰.目犍莲菩萨

目犍莲大概在公元前568年出生- 484年逝世,瑪噶達國(今印度北方)人 ,是释迦佛祖还在世时之一位比丘 。

目犍莲尊者与舍利弗尊者是释迦佛祖两位大弟子 ,已证得阿罗汉果 ,四成果中之最后果位以及圆满的解脱觉悟 。在佛祖声闻弟子中 ,他的品号是“第一神通” 。在“法华经”中第六品 , 佛祖已为他受记佛号为多摩羅跋栴檀香如來 。

形象:

為出家相 ,右手持錫杖 ,左手托缽 ,意为送饭孝敬在地狱受苦之母亲 ,常为站立形状 ,随时随地到地狱为母亲送上“充满希望”之一碗米饭 ,以表对母亲之孝心 。

行愿

目连的母亲青提夫人 ,生前不但不信三宝甚至还诽谤,破坏三宝 ,说三宝不好 ,不值得信仰 , 母死后被打入阴曹地府  。

目犍莲尊者证得阿罗汉果位后 ,获得六通 ,观遍各界寻找母亲  因尊者已获开佛眼 ,法眼 ,慧眼 ,得到五根六通,到地狱中见到了受苦的母亲。连饭都没得吃 ,尊者便为母亲送来一碗饭 。

来到地狱 ,尊者为母亲献上一碗饭 ,但以他母亲生前的罪孽 , 终不能走出饿鬼道 , 给她吃的东西没到她口中,便化成火炭 。

目连无计可施 ,十分悲哀,又祈求于佛。佛祖说 :“因你母亲毁谤三宝 ,罪业过重 ,单凭你的个人力量是无法解救的 ,应仗十方众僧之力方能救度。于是教他在七月十五僧自恣日,为父母供养十方大德众僧,以此大功德解脱其母饿鬼之苦。举行盂兰节,这是用以“救倒懸” 指解救正在受苦的餓鬼。

首先 ,要供养十方僧 ,在十方僧还未受用这些食品之前你也不能受用 。首先要礼佛 ,法和僧 然后才能够受用祭拜之物品 ,在这天 ,你设斋供养三宝你母亲才能够脱离苦难!”

目连乃依佛嘱,那年之七月十五日 ,于是有了七月十五设盂兰供养十方僧众以超度亡人的佛教典故。目连母亲得以吃饱转入人世,生变为狗。目连又诵了七天七夜的经,使他母亲脱离狗身,进入天堂。目犍莲感激佛恩 ,鼓励世人每年七月十五举办盂兰节 ,供养十方僧众 ,诵盂兰盆经报答父母以及九玄七组恩情 。

后来 ,目犍莲尊者从地狱救母之形象已成为佛教中孝道之代表形象 ,提到孝道就是提到目犍莲尊者 ,遵照他的故事 ,佛祖教导众生应以目犍莲尊者作为孝道榜样 (盂兰盆法)从此 ,有了后来之盂兰盆节 。

目犍莲尊者是救母亲脱离苦难之形象 ,是人道最具代表性之人物  ,在证得阿罗汉果后 ,已用自己无量慈心及光明智慧普照众生 。

时间与环境

目犍莲菩萨事释迦佛祖十大弟子之一 ,是佛祖在世时的一位血肉之躯 ,常与舍利弗尊者并肩而行 ,是一位第一神通者 ,在出家后第七天 ,已断除一切迷惑 ,证得阿罗汉果 。

可以看到 ,目犍莲尊者在历史上真有其人 ,从出家 ,修学至证得果位 ,都得到史记明确记载 ,获人类公认是佛祖在世时期最具影响力之一位人物 ,由于修习结果获得第一神通 ,以自己能力及慧眼 ,看到母亲在地狱受苦煎熬 。

行事方法

当知道母亲正在地狱受苦 ,目犍莲尊者按照佛祖之教诲 ,诚心恭请十方诸佛与僧众,准备各种物品供养诸僧 ,在诸僧结夏安居僧自恣日举行庄严供养诸僧仪式 。

受苦人物 ,造业原因以及再生:

青提夫人 ,目犍莲尊者之母亲生前做了许多坏事 ,恶毒 ,刁訛 ,说谎  ,奸邪 ,欺骗许多人 。因贪心 ,被堕入地狱为饿鬼 。后来 ,以佛祖与诸僧神力咒语转化母亲良心 ,因已后悔 ,讓他已經成為天人的母親修成果位,解脫輪迴 。

结论

可以看到 ,报答孝道 ,救母脱离地狱苦海 ,两位菩萨是相同的 ,两位都达到目的 ,体现出一位至孝之儿子 。虽然本愿 ,方式以及求助对象有异 。

因笔者才疏学浅,难免会有偏差 ,敬希各位长者指点以免后人再次误解。

慧安(越南佛教网)

Tin khác

Cùng chuyên mục