Sóc học kinh

290

  Anh em nhà sóc chúng tôi vô cùng hạnh phúc được sanh ra tại Bồ Đề Đạo Tràng, Ấn Độ (Mahaboddhi Main Temple India), nơi lịch sử nhân loại ghi dấu một bậc vĩ nhân đã giác ngộ dưới cội cây Bồ đề, thành tựu quả vị Chánh đẳng Chánh giác. Khi lớn lên, có chút hiểu biết, hằng ngày tôi thấy được sự trang nghiêm hùng tráng không thể nào diễn tả hết được của ngôi tháp Đại Giác sừng sững uy nghiêm giữa đất trời dù nắng nóng hay sương mù, giá lạnh.

Mỗi năm đến “Mùa tu”, từ tháng 9 cho đến tháng 3 năm sau, những đoàn hành hương từ các quốc gia, vùng miền, lãnh thổ trở về Đất Phật đảnh lễ Đức Thế Tôn, chiêm nghiệm Giáo pháp Đức Như Lai, tu tập dưới cội cây Bồ đề với các Pháp môn mà mình đã học được từ các bậc Thầy tâm linh.

Năm nay cũng vậy, đến “Mùa tu”, huynh đệ chúng tôi mừng lắm, lại một lần nữa được hưởng từ trường tu tập từ chư Tăng quốc tế, hùng tráng nhất là lễ hội tụng Kinh tạng Pàli được diễn ra từ ngày 02 đến ngày 12 tháng 12 hằng năm (International Tipitaka Chanting Ceremony), với sự tham gia của chư Tăng các nước Phật giáo như: Thái Lan, Myanma, Campuchia, Lào, Tích Lan, Nepal, Ấn độ, Indonesia,… đặc biệt nhất là Tăng, Ni, Phật tử Việt Nam, mặc dù theo truyền thống Mahayana nhưng lại tụng Kinh Tạng Pàli một cách mạnh mẽ, được chư Tăng quốc tế ca ngợi về sự đoàn kết tu tập mà chưa có quốc gia nào được như thế.

Kết thúc lễ hội tụng Kinh tạng Pàli là các pháp hội truyền thống Kim Cang thừa. Đàn tràng trang nghiêm, hoành tráng với những bánh bột bơ, những đóa hoa, chén gạo, chén nước… được bày biện, dâng cúng. Chư Tăng tụng Kinh, sử dụng các Pháp khí như kèn, chập chõa, trống, linh… âm thanh phát ra thật hùng hồn như sư tử gầm, như sóng hải triều bất tận, khiến lòng người thức tỉnh trở về, nhớ ân đức Tam bảo hùng thiêng. Bên trong tiểu giới, chư Tăng hành hương, từng đoàn người dâng phẩm vật riêng của mình, những chiếc y được may khéo léo, những bông hoa tươi tốt vừa xuống máy bay, được đem dâng cúng với lòng thành kính sau khi nhiễu quanh tháp ba vòng. Tùy theo truyền thống của quốc gia mà tụng niệm, hoặc tụng Kinh Pàli, hoặc niệm danh hiệu Đức Bổn Sư. Bài Kinh nào cũng hay, tiếng niệm Phật nước nào nghe cũng mầu nhiệm, tôi rất thích nghe và ước mong mình cũng thuộc Kinh như thế. Nhưng nghiệp báo của tôi nặng quá, mang thân súc sanh làm sao có thể phát ra tiếng người, cho dù cố gắng hết sức mình cũng chỉ kêu được hai tiếng: “Chét, chét.” Tôi buồn và tủi thân lắm! Tuy không nói được tiếng người để ca dương ân đức Phật, nhưng tâm tôi hằng mong ước: “Thuộc Kinh Phật”. Thế là tôi suy nghĩ: “Mình phải chọn Kinh nào học cho có kết quả tốt nhất đây?” Đã nhiều đêm trôi qua, trong giấc mơ chập chờn, tiếng đọc Kinh của chư Tăng vang trong tiềm thức. Bừng tỉnh dậy, tôi thấy mình trong lớp lông lá, tôi càng buồn lại càng cố gắng bắt chước chư Tăng tu tập:

Ai hộ trì Giới luật
Trí tuệ, tâm tu trì
Chú tâm, vui Thiền định
Tâm tư chú chánh niệm,
Tất cả mọi sầu khổ,
Được trừ diệt đoạn tận,
Các lậu hoặc tận trừ,
Sống với thân tối hậu,
Vị ấy gọi trì giới,
Vị ấy gọi trí tuệ,
Vị ấy vượt sầu khổ,
Vị ấy chư Thiên lạy.
(Kinh Tương Ưng Bộ)

Từ đấy, hằng ngày tôi ăn ít hơn, không ham vui, rong chơi như các bạn đồng trang lứa, cũng không như các loài khác như chó,… suốt ngày cứ gầm gừ cắn nhau tranh mồi, ầm ĩ, làm ảnh hưởng sự tu tập của chư vị Tăng Ni, đã vậy chúng còn theo chư Tăng Ni để xin ăn, nằm ngủ trên đồ dùng của chư Tăng nữa chứ. Chúng nó ở đất Phật mà không biết quý trọng gì hết, suốt ngày chỉ biết tranh giành vặt vãnh. Còn lũ chim thì hết nói, ban ngày thì bay đến mấy chỗ cúng gạo nước ăn luôn, dạn nghê! Nói vậy thôi, chứ chúng bay rất giỏi, một ngày có thể bay khắp Bồ Đề Đạo Tràng. Từ cội Bồ đề, nơi Đức Phật thành đạo rồi đến tháp “Không chớp mắt”, đến chỗ tuần thất thứ 3: “Đường thiền hành”, cho đến tuần thất thứ tư, chỗ nhà châu báu, nơi Đức Phật đã suy nghiệm về những điểm cốt lõi của Vi diệu pháp (Abhidhamma), thân tâm hoàn toàn thanh tịnh và vầng hào quang năm màu tỏa từ nơi thân Ngài. Nghe loài người nói, năm sắc hào quang của Phật cũng chính là năm sắc lá cờ Phật giáo. Chúng bay đến cả nơi tuần thất thứ năm, nơi Đức Phật thiền định bảy ngày trong một tư thế. Trong một ngày, lũ chim có thể bay khắp nơi, thật là hạnh phúc. Thỉnh thoảng, tôi cũng lân la đến hồ Mucalinda, tuần thất thứ sáu, vì nơi ấy có hình tượng Đức Thế Tôn an trú trong thiền định, có rồng chúa Mucalinda che chở trong đêm mưa gió. Tôi ước mong mình có đủ oai lực, thế lực như rồng chúa Mucalinda, như Hộ pháp Vi Đà, như Anathapindhika (Cấp Cô Độc), như Visākhā (Tỳ Xá Khư), Đại đế Asoka (A Dục),… như những vị thí chủ ủng hộ Phật Pháp, hộ trì chư Tăng Ni tu học. Sau những lần suy nghĩ như thế, tôi lại cố gắng tu tập, sám hối tội khiên để mau chóng bỏ xác thân súc sanh được làm người tu tập. Ấn tượng nhất là tuần thất thứ bảy, nơi hai người thương buôn Miến Điện Tapassau và Bhallikha gặp Đức Thế Tôn, cúng đường, quy y và được Thế Tôn tặng xá lợi tóc được lưu truyền cho đến ngày nay, nên tôi thường đến nơi đó nhiều hơn.

Mang thân súc sanh, phước báo kém cỏi, làm sao tôi có thể học được Tam Tạng Kinh điển? Cuối cùng, trong thâm tâm tôi nghĩ không có gì cao quý bằng ân đức Thế Tôn thị hiện nơi cõi đời nói Pháp độ chúng sanh. Chính vì vô minh gây tạo nghiệp ác, không biết giáo lý thậm thâm vi diệu mà chúng sanh nhiều đời nhiều kiếp trôi lăn trong vòng sanh tử, phải chịu lãnh lấy quả báo, đau khổ triền miên không dứt, cho nên ân đức Thế Tôn vô cùng to lớn, vì thế tôi chọn bài Kinh ca ngợi ân đức Phật cũng chính là Như Lai Thập Hiệu: Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật – Thế Tôn.

Đã có quyết định rồi, tôi thường trèo lên cây cao, hướng về Tháp Đại Giác, bắt đầu cuộc hành trình: “Học Kinh Phật”. Học nhiều mỏi mệt mà lại rất khó thuộc nữa chứ! Mỗi lần như thế, tôi đảnh lễ Đức Thế Tôn, với hai chân trước chí thành đứa lên trán, tôi tiếp tục nhẩm học: “Itipi so Bhagavā, Araham, Sammāsambuddho, Vijjācaranasampanno, Sugato, Lokavidū, Anuttaro, Purisadammasāratthi, Satthādevamanussānam, Buddho, Bhagavati…” Giọng của tôi ắt hẳn phải vang vọng mấy từng cao. Ca ngợi ân đức Đức Phật, lòng thành tôi phát nguyện: “Từ nay cho đến mạng chung, trọn đời con xin quy ngưỡng Đức Thế Tôn, bậc Arahant (A la hán) Chánh đẳng giác”.

Minh Phương