Thứ Năm, 18 Tháng Tư 2024
Phật họcSinh hoạt thiền gia hội thứ 10 trong Cư Trần Lạc Đạo...

Sinh hoạt thiền gia hội thứ 10 trong Cư Trần Lạc Đạo Phú

  Thật là chậm rãi, từ tốn… tất cả dường như trong sự nhẹ nhàng đến lạ kỳ. Cũng từng ấy việc: ăn, mặc, ngủ nghỉ, tụng Kinh, tọa thiền… nhưng khác, khác hơn nhiều đấy chứ! Một tháng trong thiền thất, một tháng chỉ có ta với ta, cái lần đầu tiên ấy trong cuộc đời của thiền sinh, từ lúc bé thơ là chú tiểu đến giờ này đã tròn hai trăng, mới được nhập thất chuyên tu lần đầu. Với những phút giây tĩnh lặng hoàn toàn cũng có, với lúc mê mình theo những dòng vọng thức chạy loanh quanh cũng có, lại thêm những tiếng lòng cứ thì thầm trong tâm, ở đâu mà lên tiếng hoài thế kia? Rồi tất cả cũng lặng câm. Rồi chỉ mình ta thôi! Cứ ngỡ rằng, sẽ buồn lắm chứ, vì chưa bao giờ một hình một bóng. Hàng ngày có Thầy Tổ cùng đại chúng, tăng đoàn nhộn nhịp… Thế ấy mà, lạ lùng thay! Cảm giác rất bình thường… lắm lúc còn thấy thích đến lạ kỳ, sự an ổn, yên tĩnh bên Kinh điển và ngữ lục của các vị Thiền sư đã là người bạn thân thiết cùng ta. Nhưng cũng có khi thả mình nhẹ nhàng trong những bước chân thiền hành tỉnh thức. Thật tuyệt vời làm sao, chúng ta được những phút giây sống thật với chính mình như thế này, thì thâm ân mà Thầy Tổ đã tạo điều kiện cho ta tu tập quả là quá lớn lao! Thẹn mình phước mỏng nghiệp dày, biết bao giờ mới đáp đền cho cân xứng thâm ân của Thầy Tổ và đại chúng đây? Tất cả dường như để lại ngoài thất, nhờ mọi người lo giúp. Mình cũng như bao thiền sinh khác, lần lượt được một tháng nhập thất, chuyên tâm tu tập theo định kỳ và thứ tự trong tăng đoàn. Thấy vậy chứ không phải vậy đâu, tất cả sinh hoạt, thiền sinh phải làm sao, trong ấy có sự trải nghiệm của tâm, của sự chân tu, thật học, tỉnh giác chánh niệm, thực tại hiện tiền, đem tâm về lại đây, chủ nhân ông phải sờ sờ ra đó. Nếu như ông chủ vắng nhà thì phải biết để lôi về. Có trải nghiệm, bản thân chúng ta mới có những cảm nhận thật tuyệt vời lắm! Bút viết, giấy mực, ngôn ngữ… không đủ để lột tả điều này, nóng lạnh tự chúng ta biết. Mỗi người rất cần cho chính mình những phút giây sống thật này, tập sống nhiều hơn với cái mà bấy lâu nay ta hiểu rất giỏi trên văn tự chữ nghĩa, nào là “bộ mặt thật xưa nay, chân tâm, Phật tánh… ” Không phải chuyện dễ! Đâu phải lúc nào cũng tỉnh thức, làm chủ được tâm mình. Vì thế, trong tác phẩm Cư Trần Lạc Đạo Phú, ở hội cuối cùng, hội thứ mười, Sơ tổ Trúc Lâm – Trần Nhân Tông đã nhắc nhở chúng ta:

Chữ Nôm:
第十會
象眾意
谷蔑真空
用隊根器
固峼些旺執坤通
呵機祖哰群所秘
眾小乘谷処渚典,垠寶所化城
等上士證寶麻年,埃技固山林城市
倂荒棱瓊,意羅尼逸士逍遙
廛永庵清,㐱實境道人逾戏
馭高傘垰,閻王儍計打迎昂
閣玉樓釺,獄卒少之勜腰貴
拯功名籠人我,實意凡愚
蔢道德移身心,定年聖智
眉昂每獨,相雖羅娂乙凭饒
炦聖峼凡,實隔忍萬萬千里.

偈云
居塵樂道且隨緣,
饑則飧兮困則眠.
家中有宝休尋覓,
對鏡無心莫問禪.

Nghĩa:
Hội Thứ Mười
Tượng chúng ấy,
Cốc một chân không,
Dùng đòi căn khí.
Nhân lòng ta vướng chấp khôn thông;
Há cơ tổ nay còn thửa bí.
Chúng Tiểu thừa cốc hay chửa đến, bụt xá ngăn Bảo sở hóa thành;
Đấng Thượng sĩ chứng thực mà nên, ai ghẽ có sơn lâm thành thị.
Núi hoang rừng quạnh, ấy là nơi dật sĩ tiêu dao;
Chiền vắng am thanh, chỉn thực cảnh đạo nhân du hí.
Ngựa cao tán cả, Diêm vương nào kể đứa nghênh ngang;
Gác ngọc lầu vàng, ngục tốt thiếu chi người yêu quý.
Chuộng công danh, lồng nhân ngã, thực ấy phàm phu;
Say đạo đức, dời thân tâm, định nên thánh trí.
Mày ngang mũi dọc, tướng tuy lạ xem ắt bằng nhau;
Mặt thánh lòng phàm, thực cách nhẫn vàn vàn thiên lý.

Kệ vân:
Cư trần lạc đạo thả tùy duyên,
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên.
Gia trung hữu bảo hưu tầm mích,
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.
Giờ đây, hãy cùng nhau đi sâu vào lời dạy của Sơ tổ:
Tượng chúng ấy
Cốc một chân không
Dùng đòi căn khí

Nghĩa là đại chúng đây, nên biết rõ, chân không (chân tâm) chỉ có một, nhưng vì căn cơ tập khí của mỗi người mỗi khác nên chư vị Tổ sư và Phật có rất nhiều phương tiện Pháp môn, tuy có sự sai khác, nhưng trăm sông thì cũng đổ về biển cả mà thôi. Các Ngài chỉ tùy bệnh cho thuốc. Chúng ta không hoang mang lo sợ khi tu, thích hợp với Pháp môn phương tiện nào thì chọn đó, một lòng tu hành đến khi nào thành Phật mới bằng lòng. Không nên để ba bữa ở Pháp môn này, bốn ngày chạy Pháp môn kia. Tâm rong ruổi tìm cầu như vậy thì không ổn. Ở đây, không thể nói đúng sai trong việc chọn lựa phương tiện tu hành được, tùy căn duyên mỗi người mà thôi. Nhưng điều cốt yếu là những người tu chúng ta phải nhận được cái gốc, nhận được tâm Phật của chính mình. Biết được thể thì không ngại gì với ngoại cảnh, dù có như thế nào thì tâm tu cũng chuyển được cảnh duyên, nếu chúng ta thật sự biết tu. Cho nên, Thiền sư Vĩnh Gia Huyền Giác đã dạy trong Chứng Đạo Ca:

但得本莫愁末
如淨瑠璃含寶月
既能解此如意珠
自利利他終不竭

Đản đắc bổn, mạc sầu mạc.
Như tịnh lưu ly hàm bửu nguyệt
Ký năng giải thử như ý châu
Tự lợi lợi tha chung bất kiệt.

Nghĩa:
Cốt ở gốc lo chi cành,
Như ngọc lưu ly ngậm ánh trăng.
Đã hay thấu được châu như ý
Lợi ta lợi người không biết mấy.
Một khi chúng ta đã thấu được chỗ tột cùng rồi, diệu dụng hằng sa.

Câu phú tiếp theo:
Nhân lòng ta vướng chấp khôn thông,
Há cơ tổ nay còn thửa bí.

“Cũng tại trong ta còn vướng kẹt đầu này chấp đầu kia thôi, nên không thông hiểu được lời dạy của các Ngài.

Đâu phải chư Tổ ngày nay còn giấu bí mật gì.

Như chúng ta thấy, hành tung của các vị Thiền sư luôn chỉ thẳng, chỉ thật, nhưng bởi tại ta còn kẹt trong hình tướng, vướng chấp nên không thông, chẳng hội được tâm huyết mà các Ngài muốn truyền trao. Nên nói không phải phương tiện của Thiền sư còn bí hiểm giấu giếm, chỉ tại chúng ta chưa tương ưng với các Ngài. Tu đi rồi sẽ cùng nhau cảm thông tất cả, mà tu là gì? Ngoài hình tướng tụng Kinh, tọa thiền, tu sửa những tập khí từ thân… một điều cực kỳ quan trọng quyết định đó là “tâm” biết cho rõ ràng vọng tâm và chân tâm để không bị vọng trần sai xử, dẫn dắt chúng ta trong lục đạo luân hồi, mà hằng tri hằng giác sống trở về với chân tâm hiện hữu nơi chính mình. Ở kinh Lăng Nghiêm có đoạn Đức Thế Tôn đã dạy như thế này: Đoạn Kinh chỉ ra hai món căn bản, chia riêng mê và ngộ.
“Phật bảo A Nan: Tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến nay, các thứ điên đảo giống nghiệp tự nhiên nhóm lại như chùm Ác-xoa. Các người tu hành không thành được đạo vô thượng bồ đề mà chỉ thành thanh văn, duyên giác, ngoại đạo chư Thiên, ma vương và quyến thuộc của ma, đều do chẳng biết hai món căn bản tu tập sai lầm, cũng như nấu cát mà muốn thành cơm, dù trải qua nhiều kiếp trọn không thể được. Thế nào là hai thứ căn bản?

Một là: Căn bản sanh tử từ vô thỉ, chính hiện nay ông và chúng sanh dùng tâm phan duyên làm tự tánh.
Hai là: Bồ đề, Niết Bàn, nguyên thể thanh tịnh từ vô thỉ, tức là cái nhất tinh nguyên minh của ông hiện nay hay sanh các duyên mà bị các duyên bỏ rơi. Do chúng sanh bỏ rơi tánh bản minh này nên tuy trọn ngày động dụng mà chẳng tự biết, uổng trôi vào các cõi”
Qua đoạn Kinh văn trên, cho chúng ta thấy Đức Thế Tôn hết sức từ bi chỉ dạy quá rõ ràng, đâu là vọng, đâu là chơn còn nghi ngờ gì nữa.

“Chúng Tiểu thừa cốc hay chửa đến, bụt xá ngăn Bảo sở hóa thành”
“Chúng tiểu thừa, ý chỉ cho những người căn cơ thấp không thể tin nổi tâm này là Phật, căn tánh chậm, đi tìm Phật ở bên ngoài, nên vị Đạo Sư đã tạo ra phương tiện “hóa thành” để giúp những người tu đến nơi “bảo sở”. Vậy chúng ta hiểu gì là hóa thành, là bảo sở? Đây là những danh từ Phật học có tích như sau:
* Hóa thành: được nhắc đến trong Kinh Pháp Hoa, ở phẩm thứ bảy “Hóa thành dụ” đại ý: Khi chúng ta tu một thời gian nản lòng không muốn tu tiếp, vị Thầy dẫn đường (Phật) thương xót bọn người ấy, sao lại cam tâm bỏ trân bảo (Phật tâm) mà lui về, những kẻ thật đáng thương thay! Thế nên, Ngài dùng phương tiện hóa làm một cái thành lớn, trong đó có đầy đủ các phương tiện tốt đẹp như châu báu, lầu các… mà bảo những người nản lòng đó rằng:

Hóa ra thành đó rồi
An ủi chúng chớ sợ
Các ngươi vào thành này
Đều được vừa chỗ muốn.
(Kinh Pháp Hoa)
Khi những người này an nghỉ đã hết mệt, vị Đạo Sư (Phật) lại bảo:
Các ngươi nên đi nữa
Đây là hóa thành thôi
Thấy các ngươi mệt mỏi
Giữa đường muốn lui về
Nên dùng sức phương tiện
Ta hóa làm thành này
Các ngươi gắng tinh tấn
Nên đồng đến chỗ báu.
(Kinh Pháp Hoa)

Đây chỉ là phương tiện, là hóa thành dụ. Ví như người tu chúng ta tu lâu năm dài tháng, được mọi người cung kính cúng dường cho là mình tu có kết quả, cảm ứng tới người, độ được chúng đông, chùa to Phật lớn… mà sanh tâm vướng chấp, kẹt bám vào những thứ có hình tướng thì chẳng khác nào chúng ta bị ngủ quên trong hóa thành rồi, nó không thật, không phải là cái cứu cánh mà người tu hướng đến, ấy chỉ là Phật sự bên ngoài, điều chính yếu là trở về bản thể xưa nay ta đã quên lãng. Trong và ngoài hỗ tương với nhau thì mới được, đã sống được với bản tâm thanh tịnh thì tất cả những việc làm bên ngoài chỉ là diệu dụng của thể tánh, nào có ngăn ngại gì! Còn quên đi nguồn tâm mà chỉ toàn vướng mắc, thì không khéo chúng ta sẽ quên và tự đánh mất chính mình, đánh mất cái cốt lõi mà Chư Phật, chư tổ hằng mong mỏi ở mỗi người tu chúng ta.

* Bảo sở: Hiểu được hóa thành thì bảo sở hiện tiền. Hóa thành là chiếc cầu là phương tiện để mọi người đến chỗ cứu cánh. Vậy bảo sở là gì? Nghĩa là chỗ chứa kho báu, kho báu ở đâu? Kho báu ai cũng có, dùng hoài không hết, lắm lúc để quên nên mãi nghèo “Nào ngờ mình có như ý châu”. Từ “bảo sở” muốn chỉ cho chân tâm, là “bản tánh tịnh minh” mà Kinh Lăng Nghiêm nhắc đến, là “ưng vô sở trụ nhi sanh kì tâm” ở Kinh Kim Cang, “chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, cái gì là bản lai diện mục của Thượng tọa Minh” (nơi Kinh Pháp Bảo Đàn)… tất cả đều không ngoài tâm này, vị Đạo Sư (Phật, Tổ, quý Thầy…) đều muốn nhân phương tiện tu tập mà chỉ cho ta nhận được bản tâm, làm cho Phật trong mình sống dậy, không phải rong ruổi kiếm tìm Phật ở bên ngoài. Biết đâu là phương tiện hóa thành, buông bỏ để bước tiến thẳng đến nơi có kho báu bất tận (tâm Phật) đó là bảo sở mà Sơ tổ Trần Nhân Tông muốn nhắc chúng ta. “Chư Phật đâu ngại tạo ra những hóa thành để giúp chúng ta đến bảo sở”.

Vậy còn ngần ngại gì nữa, hãy đi tiếp nhé! Đến nơi cứu cánh mới được, còn không thì uổng công của những vị Đạo Sư đã tạo ra phương tiện giúp cho ta tu tập.
Riêng đối với những người căn tánh lanh lẹ, tin ngay, nhận liền, họ không phải trải qua “hóa thành” mà tới ngay “bảo sở” bảo nhậm tu hành trưởng dưỡng nguồn tâm ấy thôi. Có đoạn thiền sử nói về Thiền sư Huệ Hải cũng nhắc đến “bảo sở” này:
“Xưa Huệ Hải đến tham vấn Mã Tổ Đạo Nhất. Mã Tổ hỏi:
– Từ đâu đến?
– Ở Việt Châu chùa Đại Vân đến.
– Đến đây tính cầu việc gì?
– Đến cầu Phật pháp.
– Kho báu nhà mình chẳng đoái hoài, bỏ nhà chạy đi tìm cái gì? Ta trong ấy không có một vật, cầu Phật pháp cái gì?
– Cái gì là kho báu nhà mình của Huệ Hải?
– Chính nay ngươi hỏi ta là kho báu của ngươi, là đầy đủ tất cả không thiếu thốn, tự do mà sử dụng, đâu nhờ tìm cầu bên ngoài.
Ngay câu này, Sư tự nhận bản tâm, không do hiểu biết, vui mừng lễ tạ. Sư ở hầu Mã Tổ sáu năm.”
Kho báu của mỗi người chúng ta cũng đầy đủ thế kia, hiển bày qua tánh biết của sáu căn nơi thân. Chúng ta khéo mà hộ trì để tu tập. Ngay nơi biết thấy, biết nghe, biết ngửi, biết nếm… không qua ý thức phân biệt nào, mà hằng rõ biết, sáng suốt là sống gần với đạo chân thật, đã lấy được hạt châu trong chéo áo ra để xài, đây cũng là ý của Phật hoàng Trần Nhân Tông muốn nhắn gửi đến mọi người.
“Đấng Thượng sĩ chứng thực mà nên, ai ghẽ có sơn lâm thành thị.”
Câu phú này nói: Những bậc tu hành (Vua Trần) do tu chứng thật sự mà được như vậy, đâu có ai mà ngăn chia là nơi núi rừng hay thành thị. Ý Ngài dạy, nếu biết tu thì dù thành thị hay núi rừng đều tu được, không chia núi rừng mới tu, còn thành thị thì không có phần. Tu là nơi tâm, chứ không phải từ ngoại cảnh. Vì sao? Khi Ngài làm tác phẩm Cư Trần Lạc Đạo Phú, lúc Sơ tổ còn ở trong hoàng cung, còn là người tại gia chốn đô thành, nhưng vẫn ở cõi trần mà vui với đạo. Vua Trần Nhân Tông là tấm gương cho hàng hậu học noi theo, đặc biệt là giới cư sĩ tại gia.
“Núi hoang rừng quạnh, ấy là nơi dật sĩ tiêu dao;
Chiền vắng am thanh, chỉn thực cảnh đạo nhân du hý”.
Những bậc dật sĩ tu hành, thường ưa thích cảnh núi rừng hiu quạnh, chùa vắng thanh tịnh, nơi đó các Ngài hay lui tới vui thích.
“Ngựa cao tán cả, Diêm vương nào kể đứa nghênh ngang;
Gác ngọc lầu vàng, ngục tốt thiếu chi người yêu quý”.
Dù chúng ta có sang giàu, lên xe xuống ngựa, ăn trên ngồi trước, ở gác ngọc lầu vàng… mà không biết tu tạo phước điền, còn gây ra tội lỗi thì khi chết, Diêm vương cũng không tha cho những người không biết phải trái đó (kẻ nghênh ngang).

còn tiếp

Hải Thuần Bảo Hải

Tin khác

Cùng chuyên mục