Sa Di La Hầu La

1102

<HĐ>La-hầu-la. Tiếng Phạn: Ràhula. Cũng gọi La hộ la, La hỗ la, La hống la, Hạt la hỗ la, La vân. Hán dịch: Phú chướng (ngăn che), Chướng nguyệt (che mặt trăng), Chấp nhật (nắm giữ mặt trời). Vị A-la-hán mật hạnh đệ nhất, là 1 trong 10 vị đệ tử lớn của Đức Phật. Thân phụ Ngài là Thái tử Tất Đạt Đa (tức là Đức Phật khi chưa xuất gia), thân mẫu là Da- du-đà-la. Khi sinh Ngài, nhằm lúc La-hầu-la a- tu-la-vương lấy tay che mặt trăng, nên đặt tên là Chướng nguyệt; lại vì ở trong thai mẹ 6 năm, bị thai mẹ che lấp, nên có tên là Chướng nguyệt, Phú chướng. Căn cứ theo kinh Vị Tằng Hữu Nhân Duyên quyển thượng, thì Đức Phật thành đạo sau 6 năm, Đức Phật và giáo đoàn trở về thành Ca-tỳ-la-vệ thăm vua Tịnh Phạn với tư cách Phật giáo hóa chúng sanh. Chuyến về thăm hoàng cung lần này, Phật thuyết pháp và có nhiều hoàng tử xuất gia theo Phật.

Thời gian tại hoàng cung, mỗi ngày Phật thọ trai xong liền lên rừng Ni Câu Đà tọa thiền. Da-du–đà-la sai La-hầu-la đi theo xin gia tài của Phật. Phật dạy: “Ta có hai gia tài; một là ngai vàng điện ngọc, giang sơn xã tắc, đầy máu và nước mắt. Còn gia tài thứ hai là giới, định, huệ, giải thoát và giải thoát tri kiến. Ta sẽ cho con gia tài thứ hai.” Sau khi được Tôn giả Mục Kiền Liên thuyết phục ông nội là vua Tịnh Phạn và mẹ là bà Da-du-đà-la, La-hầu-la được phép xuất gia. Là một hoàng tử lớn lên trong hoàng cung, cũng như bao nhiêu vị hoàng tử khác, nhưng đặc biệt hơn những hoàng tử khác ở chỗ là “có túc duyên với Phật pháp, nên được Đức Phật độ cho xuất gia”. Vua Tịnh Phạn cho phép La-hầu-la cùng với 50 vị công tử đến đảnh lễ Đức Phật. Đức Phật sai ngài A Nan cắt tóc cho La-hầu-la và 50 vị công tử, cho xuất gia; bảo ngài Xá-lợi-Phất làm Hòa thượng, Ngài Mục Kiền Liên làm A-xà-lê truyền trao 10 giới Sadi.

La-hầu-la là Sa di đầu tiên trong giáo đoàn của Phật. Khi còn là Sa di, tuổi đời còn quá trẻ, nên Ngài làm nhiều điều không đúng pháp, được Đức Phật răn dạy, phải nghiêm giữ giới luật, tinh tiến tu hành. Sau khi xuất gia do tuổi đời còn quá trẻ, còn quen tập quán con cháu vua chúa nên La-hầu-la thường chơi nghịch, làm nhiều điều không đúng pháp. Có lần các Phật tử từ xa đến thăm Phật, La-hầu-la lại chỉ sang tịnh xá khác. Mỗi tịnh xá cách nhau hàng trăm cây số. Điều đó đã làm cho Phật tử than phiền và đến tai Đức Phật; được Đức Phật răn dạy, phải nghiêm giữ giới luật, tinh tiến tu hành, từ những việc rất nhỏ trong sinh hoạt hằng ngày bằng những lời nói nhẹ nhàng nhưng rất thâm thúy.

Một hôm Thế Tôn trú ở chỗ nuôi sóc ở thành Vương Xá. Lúc bấy giờ, Tôn giả La-hầu-la ở tại rừng Am-bà-la. Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, từ thiền tịnh đứng dậy, đi đến rừng Am-bà-la, chỗ Tôn giả La- hầu-la ở. Tôn giả La-hầu-la thấy Thế Tôn từ xa đi đến, sau khi thấy, liền sửa soạn chỗ ngồi và nước rửa chân. Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn, và sau khi ngồi, Ngài rửa chân. Tôn giả La-hầu-la đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Rồi Thế Tôn, sau khi để một ít nước còn lại trong chậu nước, bảo Tôn giả La-hầu-la:

– Này La-hầu-la, con có thấy một ít nước còn lại này trong chậu nước không?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn cũng ít vậy,

-Này La-hầu-la, là Sa-môn hạnh của những người nào biết mà nói láo, không có tàm quý.

Thế Tôn, sau khi đổ đi chút ít nước còn lại rồi bảo La-hầu-la:
– Này La-hầu-la, con có thấy chút ít nước còn lại ấy bị đổ đi không?
– Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Cũng đổ đi vậy

– Này La-hầu-la, là Sa-môn hạnh của những người nào biết mà nói láo, không có tàm quý.

Rồi Thế Tôn lật úp chậu nước ấy và bảo Tôn giả La-hầu-la.

– Này La-hầu-la,  16con có thấy chậu nước bị lật úp ấy không?

-Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Cũng lật úp vậy, này La-hầu-la, là Sa-môn hạnh của những người nào biết mà nói láo, không có tàm quý.

Rồi Thế Tôn lật ngửa trở lại chậu nước ấy và bảo Tôn giả La-hầu-la:
– Này La- hầu-la, con có thấy chậu nước này trống không?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Cũng trống không vậy,

– Này La-hầu-la, là Sa-môn hạnh của những người nào biết mà nói láo, không có tàm quý. Này La-hầu-la, ví như một con voi của vua, có ngà dài như một cán cày, to lớn, khéo luyện, thường có mặt ở chiến trường. Khi lâm trận, con voi này dùng hai chân trước, dùng hai chân sau, dùng phần thân trước, dùng phần thân sau, dùng đầu, dùng tai, dùng ngà, dùng đuôi, nhưng bảo vệ cái vòi. Ở đây, người này nghĩ rằng: “Con voi của vua này có ngà dài như một cán cày, to lớn, khéo luyện, thường có mặt ở chiến trường. Khi lâm trận, con voi này thường dùng hai chân trước, dùng hai chân sau, dùng phần thân trước, dùng phần thân sau, dùng đầu, dùng tai, dùng ngà, dùng đuôi, nhưng bảo vệ cái vòi. Con voi của vua (như vậy) không quăng bỏ mạng sống (của mình).”

– Này La-hầu-la, nhưng khi con voi của vua, có ngà dài như một cán cày, to lớn, khéo luyện, thường hay có mặt ở chiến trường. Khi lâm trận, con voi này dùng hai chân trước, dùng hai chân sau, dùng phần thân trước, dùng phần thân sau, dùng đầu, dùng tai, dùng ngà, dùng đuôi, dùng vòi. Ở đây, người này nghĩ rằng: “Con voi của vua này có ngà dài như một cán cày, to lớn, khéo luyện, thường hay có mặt ở chiến trường… (như trên)… dùng đuôi, dùng vòi. Con voi của vua (như vậy) đã quăng bỏ mạng sống (của mình), và nay con voi của vua không có việc gì mà không làm.” Cũng vậy, này La-hầu-la, đối với ai biết mà nói láo, không có tàm quý, thời Ta nói rằng người ấy không có việc ác gì mà không làm. Do vậy, này La-hầu-la: “Ta quyết không nói láo, dầu nói để mà chơi,” này La-hầu-la, con phải học tập như vậy.Này La-hầu-la, con nghĩ thế nào? Mục đích của cái gương là gì?

– Bạch Thế Tôn, mục đích là để phản tỉnh.1

Qua những mẫu chuyện trên, chúng ta học được cách giáo dục từ Đức Phật. Ngài được Trời Người tôn xưng là bậc Thầy vĩ đại của muôn loài. Với cương vị như thế nhưng trong sinh hoạt hằng ngày, Đức Phật luôn gần gủi với hàng đệ tử, không có sự phân biệt giai cấp, thân sơ hay tuổi tác trong tình thầy trò, từ những hành vi nhỏ Ngài cũng ôn tồn dạy bảo đối với các đệ tử mình; có những việc Ngài không trực tiếp nghe, được chư Tỳ-kheo trình lên Đức Phật liền nhóm chúng lại và dạy bảo rất cặn kẻ, những điều ấy đã trở thành giới điều cho hàng xuất gia. Lúc gần gủi dạy bảo Ngài không xem La-hầu-la là người trong hoàng tộc có quan hệ hoàng thân quốc thích với mình trước đây; mà với trọng trách là một vị thầy, một vị Đạo sư dạy cho một vị đệ tử trẻ tuổi; những lời dạy rất từ tốn nhưng mang ý nghĩa hướng thượng, mong sao vị đệ tử trẻ nhận chân được cuộc sống và đạt đến chân trời giải thoát giác ngộ. Qua thân giáo và khẩu giáo của Đức Phật, La-hầu-la thấy được lỗi lầm của mình và sám hối ba nghiệp, từ đó tinh tấn tu tập và đắc quả A-la-hán. Trong giáo đoàn Đức Phật, La-hầu-la là vị tu Mật hạnh đệ nhất. Căn cứ theo đại A-La-hán Nan Đề Mật Đa La Sở Thuyết Pháp Trụ Kí, thì Ngài được liệt vào vị trí thứ 11 trong 16 vị A-la-hán, cùng với 1.100 vị A-la-hán quyến thuộc cùng ở tại châu Tất lợi dương cù (Phạm: Priyaígu), giữ gìn chính pháp, làm lợi ích hữu tình.


Chú thích:

[1]HT. Thích Minh Châu dịch, Kinh Trung Bộ 1(Kinh Giáo Giới La-hầu-la Ở Rừng Am-bà-La), NXB Tôn Giáo, Hà Nội, 2012, trg, 506- 507.

Đàm Hoa