Rìa-Hu ,nguồn gốc Ấn Độ Và những biến đổi trong Phật giáo nam tông Khmer

856

 Rahu là thần bóng tối có nguồn gốc từ truyền thuyết Khuấy Biển Sữa của đạo Hindu nhưng khi đi vào văn hóa Khmer Nam Bộ nó bị biến đổi về tên gọi, niềm tin và truyền thuyết. Bài viết của chúng tôi nhằm nghiên cứu nguồn gốc của Rìa-hu, phân tích, đánh giá những biến đổi trong văn hóa Khmer Nam Bộ và các quốc gia nằm trong quỹ đạo của Phật giáo Nam tông.

Rahu là tên gọi của thần bóng tối trong thần thoại Ấn Độ có nguồn gốc từ quỷ Asura (A-tu-la) với dung mạo chỉ có phần đầu và hai tay. Chiêm tinh học Ấn Độ cho rằng Rahu là một trong chín hành tinh của vũ trụ gọi chung là Navagraha được người Trung Hoa dịch là Cửu diệu hay Cửu tú, nó thường đi theo cặp với Ketu cũng được sinh ra từ một thân thể của quỷ Asura. Cặp đôi quái vật này nằm trên giao điểm của con đường thiên giới chờ mặt trời và mặt trăng đi qua sẽ đón bắt rồi nuốt vào miệng gây ra hiện tượng Nhật thực và Nguyệt thực như quan niệm dân gian ở Ấn Độ và Đông Nam Á. Trong văn hóa Thái Lan, Rahu được gọi là Phra Rahu, còn trong vùng văn hóa Khmer Nam Bộ nó được gọi tên là Rìa-hu hay Phra Rìa-hu1. Bài viết của chúng tôi nhằm giới thiệu nguồn gốc của Rìa-hu, phân tích những biến đổi trong văn hóa Khmer Nam Bộ và so sánh với các quốc gia nằm trong quỹ đạo của Phật giáo Nam tông.

Rìa-hu trong thần thoại Ấn Độ và Khmer

Ấn Độ và các nền văn hóa ở Đông Nam Á có chung câu chuyện thần thoại kể sự tích Rìa-hu trong tập kinh Samudra Mantha (Truyền thuyết Khuấy Biển Sữa). Nguồn gốc điển tích này được ghi trong kinh Bhagavata Purana (Chí tôn ca) của sử thi Mahabharata nhằm ca ngợi công lao sáng thế của thần Bảo tồn Vishnu, một trong tam đại thần chủ của Bà-la-môn giáo. Câu chuyện kể rằng một hôm thần Indra cưỡi bạch tượng ba đầu Airavata đi qua chỗ của đạo sĩ Duravasa, để tỏ lòng tôn kính vị đạo sĩ dâng lên cho thần một vòng hoa tuyệt đẹp. Indra nhận vòng hoa rồi treo lên ngà của voi thần, voi vứt hoa xuống đất rồi lấy chân giẫm lên. Duravasa cho rằng mình bị khinh thường nên nổi giận niệm chú làm cho Indra cùng chư thần mất hết pháp thuật. Vua quỷ Bali nghe tin bèn đem đạo quân Asura đến đánh đuổi chư thần chiếm lấy thiên giới, các vị thần thua chạy đến chỗ thần Vishnu đang nằm ngủ trên mình con rắn thần Ananta – Shesha để khẩn cầu cứu giúp. Vishnu tỉnh giấc và khuyên các thần phải thỏa hiệp với quỷ mới khuấy được Biển Sữa để tìm thuốc trường sinh (Amrita). Thế là thần linh và quỷ cùng liên minh với nhau dùng con rắn thần Vasuki quấn quanh ngọn núi Mandara đặt xuống biển Sữa làm cọc khuấy.

Phía chư thần gồm 54 vị do khỉ thần Hanuman chỉ huy ôm lấy phần đuôi rắn, quỷ cũng chọn được 54 tên do quỷ vương Ravana dẫn đầu ôm lấy phần đầu rắn. Vishnu biến thành một vị thần tám tay ngồi trên đỉnh cọc khua tay nhịp nhàng điều khiển cuộc khuấy Biển Sữa. Sức kéo quá mạnh của cả hai bên làm cho ngọn núi thần Mandara bị lún sâu vào lòng biển Sữa phá tan vạn vật, Vishnu bèn biến thành rùa (Kurma) dùng cái mai làm bệ đỡ ngọn núi. Thế rồi con rắn Vasuki phun ra một luồn nộc độc (Halahala) có thể giết chết toàn bộ các giống loài. Thần Shiva bèn ngửa cổ uống cạn chất độc làm cho cổ thần bị tím xanh nên Shiva được gọi là người cổ xanh (Neelakanta). Trong cuộc khuấy biển Sữa đó, nhiều vật thiêng được tạo ra như nữ thần Laskmi (nữ thần thịnh vượng và sắc đẹp) trở thành vợ của Vishnu, rồi một con bò cái, cây phất trần được sinh ra để trở thành linh vật của thần Shiva. Sau cùng, vị thần lương y Dhanvantari hiện ra trên tay cầm bát thuốc trường sinh. Để thuốc không rơi vào tay loài quỷ, thần Vishnu liền hóa thành tiên nữ Mohini yêu kiều, rồi sắp đặt cho chư thần uống thuốc trước. Tên quỷ Swarbhanu nhận ra việc làm của Vishnu bèn biến thành một vị thần đến ngồi giữa mặt trời và mặt trăng. Khi đến lượt Swarbhanu uống thuốc thì bị mặt trời (Surya) và mặt trăng (Chandra) phát hiện nên vội báo cho Vishnu. Vishnu dùng chiếc vòng (Chakra) chém đứt đầu Swarbhanu nhưng một vài giọt thuốc đã kịp rơi vào miệng và chảy xuống thân nên Swarbhanu không chết.

Mẹ của Swarbhanu xin nhận phần đầu con trai, về sau mọc ra thêm phần thân rắn và được đặt tên là Rahu (Rìa-hu). Đạo sĩ Mini nhận phần thân của Swarbhanu làm con trai, được thần Vishnu ban cho thêm một chiếc đầu rắn và được đặt tên là Ketu. Rahu và Ketu được thần Brahma cho lên trời thành hai vì sao nhưng Rahu vẫn giữ mối thù đối với các thần, nhất là với Mặt trời và Mặt trăng. Rahu luôn tìm cách nuốt sống hai vị thần đó vì vậy mà có nhật thực và nguyệt thực (Cao Huy Đỉnh 2003: 134), (Pamela York Taylor 1994: 60). Người Khmer ở tỉnh Trà Vinh và Sóc Trăng có nhiều biến thể kể về sự tích Rìa-hu. Trong bài viết này chúng tôi không đi sâu phân tích đặc điểm của mô típ, nội dung nhân vật và hoàn cảnh biến đổi của các biến thể đó như thế nào trong dòng văn học dân gian Khmer. Ở đây, chúng tôi xin trích câu chuyện sự tích Rìa-hu được tác giả Lê Hương viết trong công trình nghiên cứu Người Việt gốc Miên của ông:

Ngày xưa có ba anh em mồ côi cha mẹ, ở chung với nhau. Một hôm ba anh em muốn dâng cơm cho một vị La-hán thường qua xóm khất thực. Hai anh lớn bảo đứa em chụm lửa nấu cơm. Vì củi ướt không cháy nên gần đến giờ vị La-hán đi ngang mà cơm chưa chín. Hai người anh không biết, rầy mắng đứa em. Người anh lớn quá giận lấy muỗng xúc cơm đánh lên đầu em. Người em tức tối khóc thầm mà chịu. May nhờ đức tốt của anh em lửa cháy và cơm chín. Khi đặt bát dâng cơm, người em nghĩ rằng sở dĩ kiếp này nó là em mới bị hiếp đáp, bèn nguyện kiếp sau đầu thai làm một người có sức mạnh vô biên, xin thành Rìa-hu hay gió bão, mạnh không ai chận đứng nổi. Hai người anh nghe em nguyện sợ sau này sẽ bị em làm khổ mới cầu xin cho kiếp sau, người lớn thành mặt trời, người kế thành mặt trăng. Nhờ đức tốt của ba anh em cúng dường vị La-hán nên kiếp sau cả ba anh em đều được như ý nguyện.

Anh cả thành Mặt trời gọi là Phra A Tik, em kế thành Mặt trăng gọi là Phra Chan, em út thành Rìa-hu. Hai anh bị em rượt chạy theo núi Chao Mê Ru. Rìa-hu chạy không kịp tức giận vô cùng, bèn xuống ao thần Anotatak tắm rửa. Ao này do chư thiên biến hóa ra, giao quyền quản trị cho thần Komphonlak dặn rằng dù cho chư thiên, Chằn tinh hay kẻ nào muốn lấy nước hoặc tắm rửa phải có sự thỏa thuận của vị thần này, ai trái lịnh thần có quyền xử tử. Rìa-hu ỷ mình vô địch nên không thèm xin phép trước khi tắm, bị thần Komphonlak chém đứt ngang. Nhờ có phước lớn, Rìa-hu không chết, nhưng không còn chân để chạy nên bò lên nửa chừng núi Chao Mê Ru hả miệng chờ mặt trời và mặt trăng đi qua thì nuốt. Quả nhiên, mặt trăng bị Rìa-hu nuốt một năm một lần hay hai lần, còn mặt trời thì hai, ba năm một lần (Lê Hương 1969: 37).

Người Khmer Nam Bộ chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ qua trung gian của đạo Bà-la-môn, một tôn giáo vốn thịnh hành ở miền Nam Đông Dương trong thời kỳ tiền Phật giáo Nam tông. Bản thân Bà-la-môn giáo cũng chịu nhiều cải biên từ những nền văn hóa bản địa của các cộng đồng cư dân tiếp nhận nó. Trong câu chuyện Rìa-hu của người Khmer Nam Bộ, văn hóa dân gian và triết lý Phật giáo được thể hiện song hành phản ánh thực tế đời sống của cộng đồng người Khmer Nam Bộ là Phật giáo và văn hóa không thể tách rời nhau. Nội dung của câu chuyện có nói đến việc cúng dường Tam bảo sẽ tạo ra những phước báu lớn ở kiếp đời sau. Tư tưởng Nhân quả và Luân hồi của Phật giáo có ảnh hưởng chung đến những câu chuyện dân gian ở các quốc gia, tộc người chịu ảnh hưởng của dòng Phật giáo Nam tông như người Thái vùng Đông Bắc của Thái Lan và người Lào. Nội dung nói đến những gì diễn ra trong kiếp sống hiện tại là kết quả hồi báo từ những cuộc đời tiền kiếp đã làm. Chuyện Phả Đeng – Nang Này của người Lào, người Thái cũng có mô típ giống như chuyện Rìa-hu của người Khmer Nam Bộ mà khi đọc qua chúng ta sẽ thấy dấu ấn phảng phất của các câu chuyện kể trong Bổn Sanh Kinh (Jataka) về những cuộc đời tiền kiếp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

Trong sự tích Rìa-hu của người Khmer Nam Bộ, truyền thuyết Khuấy Biển Sữa của Bà-la-môn giáo chỉ còn lại dấu vết mờ nhạt qua hình tượng cái ao thần Anotatak. Chữ Anotatak có nguồn gốc từ chữ Ananta, nghĩa là bất tận nhằm chỉ biển Sữa trong thần thoại Ấn Độ, còn con rắn thần chở thần Vishnu trôi trên biển Sữa thì gọi là Ananta – Shesha. Cảnh quan địa phương đã ảnh hưởng vào nội dung của cốt truyện qua việc thu nhỏ biển Sữa thành cái ao thần, nó phản ánh hình tượng cái ao thiêng nằm phía trước nhà chùa dùng để lấy nước cho các nghi lễ của Phật giáo Nam tông Khmer hoặc để thả hoa đăng trong lễ hội Kloi Prathip. Kiến trúc chùa Khmer Nam Bộ chịu ảnh hưởng bởi thuyết vũ trụ luận của Ấn Độ với hai thành tố căn bản: Biển được biến thể thành cái ao và núi là hình ảnh của ngôi chùa nằm trên vị trí cao nhất trong phum sóc. Vị trí phải được xác định theo nguyên tắc, Ao nằm ở hướng đông, chùa nằm về hướng tây, chính điện của chùa phải quay mặt ra ao là hướng của thần. Người Khmer Nam Bộ quen gọi là những chiếc ao nằm trước cửa chùa là ao chùa.
Đối với những cái ao cổ được đào theo kiểu Baray của thời kỳ Angkor, người Khmer Nam Bộ thường gọi theo hình dạng của nó là ao vuông như trường hợp ao Bà Om ở Trà Vinh còn có tên khác là Ao Vuông2. Song cũng tùy thuộc vào đặc điểm địa lý của khu vực, nhiều chùa Khmer cổ cũng được thiết kế quay mặt ra sông, lấy dòng sông thay cho cái ao. Những chùa dạng này thường có tên bắt đầu bằng chữ Kompong nghĩa là bến (bến sông, bến thuyền). Dấu vết khác của Bà-la-môn giáo cũng được thấy qua hình tượng cảnh quan và nhân vật như ngọn núi thần Mêru, thần Phra A Tik là thần Mặt trời Suriya, thần Phra Chan là thần Mặt trăng Chandra, thần Komphonlak canh giữ hồ thần Anotatak là thủy thần Vanura canh giữ biển Sữa Ananta. Những hình tượng trên cho thấy câu chuyện Rìa-hu của người Khmer Nam Bộ là sự hội tụ của ba dòng văn hóa: văn hóa bản địa của người Khmer Nam Bộ, văn hóa Bà-la-môn giáo và văn hóa Phật giáo Nam tông.

Rìa-hu trong Tương Ưng bộ kinh (Digha Nikaya)

Bộ ba nhân vật Rìa-hu, Nhật thần (Suriya) và Nguyệt thần (Chandra) được nói đến trong Tương Ưng bộ kinh (Digha Nikaya) tiếng Pali của Phật giáo Nam tông. Về nội dung của bài kệ Suriya Suttra trong Tương Ưng bộ kinh mà chúng tôi khảo sát được qua một số bài viết của một số tác giả trước tác đều thống nhất chung về nội dung như sau: khi bị Rìa-hu nuốt vào miệng Nhật thần và Nguyệt thần đọc bài kệ tôn kính Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Phật nghe tin hiện ra buộc Rìa-hu phải thả hai vị thần bằng những lời kệ thuyết pháp hoặc Phật buộc Rìa-hu phải thả hai thần ra nếu không sẽ bị nổ tung làm bảy mảnh. Để hiểu chính xác ý nghĩa của bài kệ Suriya Suttra (kinh Nhật thiên tử), chúng tôi tham khảo bản dịch Việt ngữ từ tiếng Pali của Hòa thượng Thích Minh Châu trong Kinh điển Phật giáo Nguyên thủy3 cho thấy nội dung như sau: Suriya bị Rìa-hu nuốt nên đọc bài kệ khẩn cầu Đức Phật, Phật hiện ra đọc một bài kệ buộc Rìa-hu phải thả Suriya. Rìa-hu hoảng sợ thả Suriya rồi đi gặp một vị vua A-tu-la khác là Vepacitti. Vepacitti nói cho Rìa-hu nghe về oai lực của bài kệ khi Đức Phật đọc làm cho Rìa-hu run sợ, làm cho đầu Vecpacitti muốn vỡ tung thành bảy mảnh.

Các vị tu sĩ của Phật giáo Nam tông Khmer đều cho rằng kinh Nhật thiên tử là một trong những bài kệ đầy oai lực mà các nhà sư Nam tông Khmer dùng tụng niệm cho phật tử khi họ gặp tai nạn, phiền não với niềm tin bài kệ có khả năng mang đến bình an, phúc lành trong cuộc sống. Oai lực của bài kệ được tin là làm cho Rìa-hu, kẻ có sức mạnh vô song cũng phải thả Nhật thần (Suriya) ra khỏi miệng nên nó được các nhà sư sử dụng để chúc phúc cho tín đồ, kèm theo nghi thức rảy nước thiêng cầu mong chư thiên hộ trì tai qua nạn khỏi và những điều tốt đẹp sẽ đến cho Phật tử. Do tinh thần từ bi và dung hòa của Phật giáo nên khi tiếp nhận những câu chuyện thần thoại có nội dung liên quan đến sự xung đột giữa các vị thần Bà-la-môn giáo thì Phật giáo luôn tìm biến đổi thành dung hòa.
Rìa-hu trong tín ngưỡng của người Khmer Nam Bộ và các dân tộc khác

Người Khmer tin rằng nếu mặt trăng bị Rìa-hu nuốt hết thì ngũ cốc sẽ hao hụt, còn Rìa-hu nhả ra thì lúa gạo dồi dào. Người đàn bà có thai thường van vái thần Rìa-hu phù hộ được sinh mau mắn vì Rìa-hu là vị thần miệng rộng, nuốt được mặt trăng rồi nhả ra dễ dàng (Lê Hương 1969: 37). Người Khmer Nam Bộ là tộc người thuần nông nên tín ngưỡng Rìa-hu cũng mang đậm dấu ấn của văn hóa nông nghiệp, khi Rìa-hu nuốt mặt trời hay mặt trăng người dân tổ chức đánh trống reo hò để Rìa-hu mau nhả ra. Ở Thái Lan, người dân cũng có phong tục tương tự như vậy. Đánh trống reo hò cũng là một hành động cổ vũ tạo niềm phấn khởi cho đồng bào tham gia lễ hội cộng đồng. Trong văn hóa Khmer Nam Bộ không thấy có sự hiện diện của hình tượng Ketu cả trong văn học dân gian và nghệ thuật tiếu tượng học (Iconography).

Thiên văn học Ấn Độ theo dòng Phật giáo Bắc tông truyền đến Trung Hoa và Việt Nam, hình tượng chín vị thần trong Cửu diệu tinh quân của Trung Hoa có sự ảnh hưởng nhất định từ chiêm tinh học Ấn Độ về tín ngưỡng Navagraha. Rìa-hu và Ketu được chuyển ngữ thành La Hầu và Kế Đô, đồng thời bị chi phối bởi thuyết Âm Dương trong văn hóa Việt Nam và Trung Hoa. Sự ảnh hưởng này đã đồng hóa La Hầu tinh quân (Rìa-hu) và Kế Đô tinh quân (Ketu) vào cặp phạm trù Âm – Dương với quan niệm nam La Hầu, nữ Kế Đô nhưng trên thực tế cả Rìa-hu và Ketu trong văn minh Ấn Độ đều là những nam thần (thuộc Dương tính4) được thể hiện rõ nhất là trong nghệ thuật tiếu tượng học. Từ nền tảng của tư duy phân tích, người Trung Hoa ngoài việc mô tả hình dạng của La Hầu bằng tranh vẽ và nghệ thuật điêu khắc, họ còn nói đến kích thước và vị trí của La Hầu-Kế Đô chuyển động như thế nào trong cõi thiên giới. Có thể do nguồn gốc yêu quỷ trong văn hóa Ấn Độ nên người Việt và người Hoa cho rằng La Hầu và Kế Đô đều là những hung tinh chuyên gây vận hạn cho người bị chiếu. Ngạn ngữ người Việt có câu: “Thái Bạch đi sạch cửa nhà”, “gặp La Hầu sầu cả năm”, hay những câu ca dao nói về điềm xấu, vận hạn cho người gặp sao La Hầu và Kế Đô như sau:

“ La Hầu tháng Bảy, tháng Giêng
Coi chừng kẻo gặp tai kiêng đến mình
Kế Đô sao ấy đến kỳ
Tháng Ba, tháng Chín sầu bi khóc thầm”5

Theo niềm tin dân gian, muốn giải hạn sao La Hầu – Kế Đô người bị hạn phải thực hiện nghi thức cầu cúng gọi là “cúng sao giải hạn” tại các đền chùa hay tư gia. Lời khuyên của người già dành cho con cháu là phải thận trọng trong làm ăn, buôn bán, đi xa, ứng xử, bệnh tật, nạn tai đối với sao La Hầu là tháng Bảy, tháng Giêng; sao Kế Đô là tháng Ba, tháng Chín, kiêng kỵ mặc đồ trắng suốt cả năm.

Phan Anh Tú


Chú thích:
1. Người Thái, Lào và Khmer dùng chữ Phra trước tên các vị thần để thể hiện sự tôn kính. Ngoài ra, Phra còn được dùng để chỉ những vị thần có nguồn gốc từ đạo Bà-La-Môn không phân biệt nam hay nữ thần. Ví dụ như: Phra Isuan – thần Shiva, Phra In – thần Indra, Phra Narai – thần Vishnu, Phra Rum – thần Brahma và Phra Thoni – nữ thần đất.

2. Theo quan niệm vũ trụ của Khmer thời đại Angkor, những ao nước được gọi là Baray là hình ảnh của những đại dương thu nhỏ, thường Baray được thiết kế theo hình vuông, tức là mẫu hình của chiếc bệ Yoni cho nữ thần Uma hay nữ thần sông Hằng (Ganga). Giữa đáy ao người ta thường đặt một bộ ngẫu tượng Linga – Yoni biểu trưng cho cội nguồn của sự sống trong vũ trụ.

3. http://rongmotamhon.net/dieuam/access_to_insight/TUONG_UNGBO/SuriyaSutta_NhatThienTu

4. Trong triết học Ấn Độ, một vị nam thần bao giờ cũng phải hội tụ đủ 2 yếu tố Dương – Âm, Dương hình thành nên nguyên thể của các nam thần, còn Âm lực hay Âm tính tức là Sakti là các nữ thần được sinh ra từ các nam thần để bảo tồn sự tồn tại của các nam thần. Do vậy, một nam thần bao giờ cũng phải có vợ là Sakti của chính các nam thần.

5. Trích từ trang web: https://vi.wikipedia.org