Quan điểm tam học của ngài Atisa

429

  Lịch sử Phật giáo Tây Tạng từ thời tiền truyền cho đến hậu truyền, Ngài Tịch Hộ và Ngài Liên Hoa Sanh là những vị đầu tiên đưa Phật giáo vào Tây Tạng. Ngài Atisa là người truyền bá Phật giáo vào Tây Tạng lần thứ hai. Ngài cũng là người đặt ra con đường phát triển hưng thịnh trở lại cho Phật giáo Tây Tạng.

Căn cứ vào sử liệu, “Phật giáo truyền vào Tây Tạng vào khoảng giữa thế kỷ thứ VII năm 641”1. Dưới sự trị vì của vua Tùng Tán Cang Bố (617 – 650), Phật giáo được xem là thời kỳ du nhập và truyền bá. Đến Tạng vương đời thứ 35 vua Khí Lệ Súc Tán (705 – 754) lên ngôi và tiếp nối con đường của Thiên Tổ để xiển dương Phật pháp. Vua Khí Lệ Súc Tán và công chúa Kim Thành cùng nhau duy trì được Phật giáo trên đất Tây Tạng.

Đến thời vua Cật Phiêu Song Đề Tán (728 – 786) là con của công chúa Kim Thành và vua Khí Lệ Súc Tán. Vua đã có những đóng góp to lớn trên nhiều lĩnh vực khác nhau, Phật giáo đã chính thức trở thành quốc giáo, giúp cho Phật giáo đi từ giai đoạn ngưng trệ dường như suy tàn đến giai đoạn phát triển cực mạnh.

Cho đến thế kỷ thứ IX, xuất hiện một vị vua trở thành hộ pháp Phật giáo. Đó là vua Lại Ba Thiệm (816 – 836), vị vua thứ 41 của vương triều Yarlung, đây được xem là thời kỳ vàng son của Phật giáo. Vua Lại Ba Thiệm có chế độ ưu đãi Tăng già rất lớn, phát xuất từ niềm tin nơi sự thành kính của vua đối với Tam bảo.

Cho đến Tạng vương Lãng Đạt Ma (839 – 841) lên ngôi, đã âm mưu hãm hại vua Lại Ba Thiệm để cướp ngai vàng. Sau khi lên ngôi, Lãng Đạt Ma cổ xúy ủng hộ Bổng giáo. Do đó, ông ban hành sắc lệnh triệt hại Phật giáo một cách tàn khốc, dẫn đến pháp nạn Phật giáo suy tàn.

Đến thế kỷ thứ XI, vương triều chính thống được phục hồi, Tạng vương bấy giờ là Trí Quang rất ưu tư trước tình trạng đó và mong muốn phục hưng lại giáo pháp của Đức Phật. Nhà vua đã quyết tâm cầu thỉnh các Đại sư Atisa ở ấn Độ. Lúc đầu, Ngài Atisa còn do dự nhưng cuối cùng với tâm thành khẩn thiết vì Phật pháp của Tạng vương đã làm lay động Atisa2, cùng với linh kiến của Đức Tara với Ngài rằng: “Nếu tiếp tục ở Ấn Độ thì có thể sống đến chín mươi tuổi, còn nếu đến Tây Tạng thì thọ mạng chỉ tới ngoài bảy mươi tuổi.” Với một tinh thần Đại thừa Bồ tát đạo làm lợi ích cho tha nhân, nhân loại mà tổn hại về bản thân mình đó là việc nên làm, điều có ý nghĩa huống chi đây là điều lợi ích cho Phật giáo, với lòng từ bi vô hạn, Ngài nghĩ rằng tuổi thọ cũng chỉ là vô thường giả tạm, không quan trọng bằng việc phục hưng Phật giáo tại Tây Tạng và đem lợi lạc, giải thoát cho mọi người, sẵn sàng hy sinh bản thân mình để đi Tây Tạng.

Đại sư Atisa là nhân vật lịch sử Phật giáo quan trọng đối với Phật giáo Tây Tạng, không những thế, Atisa còn là nhân vật nổi tiếng, một bậc trí giả, nhà giáo dục vĩ đại của Phật giáo Ấn Độ. Khi tới Tây Tạng, Ngài bắt đầu sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh tại Tây Tạng trong 12 năm. Ngài mất năm 1054 tại Tây Tạng, thọ 72 tuổi.

Những đóng góp của Ngài cho Phật giáo Tây Tạng rất lớn, không những xây dựng nền Phật học cho Phật giáo mà còn để lại rất nhiều tư tưởng Phật học cho các Phật tử Tây Tạng nương theo tu học, như tư tưởng về Tam quy, Tam sĩ đạo,… đặc biệt trong đó có tư tưởng về Tam Tăng thượng học có tầm quan trọng đối với đời sống Phật học là nền tảng căn bản cho hành giả sơ phát tâm học Phật hiểu và thực hành đúng theo con đường của Đức Phật.

1. Quan điểm Tam học

Quan điểm Tam học (Tam tăng thượng học, hay còn gọi là Tam vô lậu học) theo Đại sư Atisa là một cương yếu, một định hướng có tính khuôn khổ, bắt buộc như một quy trình đào tạo hành giả đi đúng con đường tu tập, có trình tự, các tư tưởng liên thông làm nền tảng cho nhau gồm: Giới tăng thượng học, tâm (định) tăng thượng học và tuệ tăng thượng học. Ba quy trình này đi theo thứ tự từ thấp đến cao, phải tuân thủ thực hành mới thành tựu được công đức lớn.

a. Tăng thượng giới học

Tăng thượng giới học (Adhisilasiksa): “Giới (sila) tức chỉ trì, là những điều ngăn cấm hỗ trợ đời sống đạo đức. Còn gọi là ba-la-đề-mộc-xoa là biệt giải thoát.”3 Giới là những điều luật có tính chất quy định đưa mỗi cá nhân vào khuôn khổ với mục đích tăng trưởng lợi ích về đời sống đạo đức. Đối với Atisa, giới học không thôi là chưa đủ, mà phải là Giới tăng thượng học, nghĩa là giới học cần phải làm cho tăng trưởng đến viên mãn mới thực sự là viên mãn giới, nhằm tăng thượng đời sống tâm linh của chúng ta, gọi đó là tăng thượng giới. Ngài Atisa chủ trương tất cả đệ tử Phật phải thọ trì giới pháp Thanh văn làm nền tảng, Tỳ-kheo giới là tối thắng phải thọ trì.

Giới học bao gồm hai phẩm loại cơ bản là Thanh văn giới và Bồ tát giới. Giới pháp Thanh văn là một con đường tu tập thực sự cần thiết để hành giả dập tắt những tham dục, đam mê, thù hận và vô minh, đây bước thang tiến đến Bồ tát giới. Trong Tỳ-kheo giới, Đức Phật dạy: “Giới tịnh được trí huệ, liền được đạo thứ nhất… hiện tại chư Thế Tôn, thắng được các phiền não, đều cùng tôn kính giới”4, khiến hành giả hành trì ngay trong đời hiện tại gặp nhiều lợi ích lớn “Hiện tại hết lậu hoặc, lậu chưa sinh không sinh, chánh pháp tồn tại mãi, mở cánh cửa cam lồ5”. Atisa đặt giới luật lên hàng thứ yếu trong nghiên cứu kinh điển và hành trì Mật giáo.

Trong tác phẩm Bồ-đề đăng luận, Ngài viết: “Con sẽ sống đời phạm hạnh thanh tịnh, từ bỏ tội lỗi và dục vọng thấp hèn, con sẽ sống như Phật sống, là hoan hỉ trong giới hạnh vô biên.”6 Giới có công năng ngăn ngừa tội lỗi giúp hành giả tu trì thanh tịnh hóa tam nghiệp của mình. Ảnh hưởng từ tư tưởng Phật giáo Ấn Độ, Atisa quan niệm giới luật (đạo đức) là nền tảng đầu tiên, bởi trong bất kỳ cộng đồng xã hội nào, đạo đức cũng chính là yếu tố quyết định đến phẩm hạnh giá trị con người. Đối với hành giả tu tập, dù là Hiển giáo hay Mật giáo cũng vậy, nếu không có đạo đức coi như bỏ ra ngoài Phật pháp. Trong kinh, Đức Phật mô tả người có giới như sau: “Người trú giới có trí, tu tập tâm và tuệ, nhiệt tâm và thận trọng, Tỳ-kheo ấy thoát triền.”7

b. Tăng thượng tâm (định) học

Tăng thượng tâm học (Adhicittsiksa), là quá trình thứ hai của lộ trình học đạo, luôn có sự kết hợp với quá trình đầu tiên, do trì giới mà định từ đây được sinh khởi. Định có năng lực thu nhiếp tạp niệm, chuyển hóa và gạn lọc tâm thức cho được thanh tịnh và nhu nhuyến. Phương pháp tu tập thiền định trong nhà Phật được phân làm hai phần: tu chỉ trì và tu quán chiếu. Tu chỉ trì và tu quán chiếu hỗ tương xoay vần và thúc đẩy lẫn nhau; đó là phương pháp tu tập chính xác. Theo Đại sư Trí Giả, “Chỉ là môn đầu tiên hàng phục kiết sử, Chỉ là thức ăn tốt để nuôi dưỡng tâm thức, chỉ là nhân thù thắng của thiền định.8” Sau khi thân và tâm về một mối rồi thì qua trạng thái dùng trí não để tư duy, phân tích, đánh giá, nhận định đúng với bản chất sự vật, phù hợp, khách quan, xác thực. Đây chính là thiền quán. “Quán là phần chính yếu để đoạn trừ phiền não, quán thúc giục phát khởi khả năng hiểu biết vi diệu, quán là nơi nương tựa của trí tuệ.9” Tâm học là trạng thái của tâm được duy trì từ thiền chỉ và thiền quán.

Đại sư Atisa y theo yếu chỉ các bộ luận của Bồ tát Long Thọ mà giảng trạch chính xác về các phương pháp tu định. Trong quyển Bồ-đề đạo thứ đệ luận, Đại sư viết rõ về các phương pháp tu định, cùng những cảnh giới thiền định. Định giúp hành giả tư duy sâu sắc, đắc thần thông, đạt được sự nhất tâm. Phương pháp tu tập Atisa dựa vào quan điểm của Ngài Giác Hiền trong phẩm “Thiền định tư lương phẩm” làm nền tảng tu trì, gồm có chín chi phần: 1. Ưng ly ma nghiệp; 2. Dĩ văn vi điệu; 3. Khiển trừ lý luận; 4. Bất tham quảng thuyết; 5. Ư tướng tác ý; 6. Niệm định công đức; 7. Cần hành đối trị; 8. Hòa hội chỉ quán; 9. Trụ thực am tri phương tiện.10

Đây pháp môn tu định mà Atisa y cứ vào trình tự tu tập của Ngài Giác Hiền, tu định cần có phương pháp và thầy chỉ dạy trực tiếp cộng những kinh nghiệm tu tập, kinh nghiệm đấy không thể diễn tả bằng lời mà bằng chính hành động trải nghiệm thực tế. Sự chứng ngộ của các bậc Thiền sư không thể diễn tả bằng lời, chính những sự trải nghiệm đó mới thực sự quý giá.

c. Tăng thượng tuệ học

Tăng thượng tuệ học (Adhiprajnasiksa), là cái học làm cho trí tuệ vô lậu phát sinh, có chánh kiến, thực chứng chân lý tối hậu Niết-bàn. Trí tuệ có nghĩa là tuệ tri, thắng trí, liễu tri, đoạn tận. Nhờ giữ giới và công phu tu tập thiền định mà đạt được trí tuệ. Theo Ngài Atisa, thiền định không có công năng đoạn trừ thô tế và vi tế phiền não, vì thế, phải tu tập và nâng cao sức mạnh của trí tuệ, vì chỉ có tuệ giác mới đoạn tận phiền não, thoát khỏi sanh tử luân hồi, chứng nhập giải thoát an lạc Niết-bàn. Vai trò của tuệ là bổ túc cho sự không hoàn chỉnh của giới và định, nhằm thấu triệt các pháp là vô sanh, không tự tánh. Do đó, phải tu tập tuệ để đoạn trừ phiền não và chỉ có trí tuệ mới giải quyết tận gốc rễ sinh tử luân hồi. Đức Phật dạy: “Bậc hiền sĩ trí tuệ, bậc nghe nhiều trì giới, bậc tự chế thánh nhân, hãy gần gũi thân cận, thiện nhân trí giả ấy, như trăng bước đường sao” (Pháp cú 208)11. Ngài Atisa dạy có hai nền tảng để lý giải vô sanh và vô tánh. Để liễu triệt được vô sanh, vô tánh, Ngài Atisa dựa vào Lý chứng, y cứ vào những lý lẽ, đạo lý, ngôn thuyết của các bậc thánh, các bậc luận sư để chứng minh và giáo thành là y cứ vào những giáo thuyết, ngôn thuyết từ chính Đức Phật để chứng minh cho sự thành tựu đạo quả. Bốn hình thức của Lý chứng:

1) Tứ biên giá khiển sanh pháp: Nghĩa là các pháp không tự nó mà sanh ra, cũng không từ nhiều pháp mà sanh, không tự nhiên mà sanh, cũng không phải không có nhân duyên mà sanh. Cho nên các pháp là vô sanh.

2) Ly nhất đa: Sở dĩ các pháp gọi bằng tên gọi là có hiện hữu, vì các pháp nương vào pháp còn lại, nương vào sự phân biệt, tương tác với các pháp để xác định nó có mặt.

3) Kim cang cú: Dựa theo quan điểm của Ngài Long Thọ, các pháp sanh khởi không phải không có nguyên nhân, thừa nhận các pháp có nhân duyên mà sanh, sử dụng “Bát bất” của Ngài Long Thọ để nói lên lý chứng này: “Bất sanh, bất diệt/ Bất thường, bất đoạn/ Bất nhất, bất dị/ Bất khứ, bất lai.”

4) Duyên sanh: Bản tánh của các pháp vốn thanh tịnh, vắng lặng. Sự có mặt của các pháp do duyên mà sanh. Các pháp nương tựa vào nhân duyên mà có mặt, lý chứng này được hiểu thông qua câu kệ của Ngài Mã Thắng: “Chư pháp tùng duyên sanh/ Diệc tùng nhân duyên diệt/ Ngã Phật đại Sa-môn/ Thường tác như thị thuyết.”

Theo Atisa, muốn thành tựu cứu cánh, ngoài trí tuệ còn cần có phương tiện. Dựa vào kiến giải của Giác Hiền, Atisa chia Ba-la-mật thành hai phần: trí tuệ và phương tiện. Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến và thiền định thuộc về phương tiện môn, còn Bát-nhã thuộc trí tuệ môn. Dùng phương tiện để đi đến tăng trưởng giác ngộ và đạt đến cứu kính giải thoát. Mục đích Atisa xây dựng nền tảng Tam học là xiển dương nền tảng tu học chung cho cả Hiển và Mật giáo, Ấn Độ và Tây Tạng. Nền tảng tu tập Phật giáo không ngoài Tam vô lậu học, bất kể thuộc tông phái hay trường phái nào, quốc độ nào đi chăng nữa cũng phải học pháp Tam học này.

Tóm lại, Atisa là bậc cao Tăng Ấn Độ có ảnh hưởng to lớn đối với Phật giáo Tây Tạng. Ngài là người đầu tiên đưa giáo nghĩa của Phật giáo Đại thừa Mật giáo đến Tây tạng, làm sống lại Chánh pháp chân chính, mở ra một thời kỳ hoàng kim của Phật giáo Tây Tạng.
Tư tưởng Tam học là quy trình, nền tảng tu tập cơ bản của người đệ tử Phật, là nấc thang đầu tiên tiến về chánh quả. Bất kể truyền thống Phật giáo nào, Nguyên thủy hay Đại thừa, Hiển giáo hay Mật giáo có tầm quan trọng đối với đời sống Phật học, Tam học có một sự lưu thông giúp cho hành giả nối kết một cách mật thiết với nhau không thể tách rời và Ngài Atisa đã xây dựng được mối liên hệ này, đồng thời mối liên hệ giữa việc tu học theo Đại thừa Hiển giáo và Đại thừa Mật giáo, tức là hai lộ trình tu học cũng như tiến trình phải tu học giới, định, tuệ phải lưu thông để có được sự gắn kết với nhau, có được sự hỗ tương tốt nhất. Sau này, trên cơ sở Tam học, Ngài Atisa tiếp tục xây dựng mối liên hệ mật thiết của lộ trình tu học, phải có sự liên thông kết hợp giữa Hiển giáo và Mật giáo, đó là mục đích của Tam vô lậu học.

Thích Nữ Tâm Liên
Lớp Cao học khóa II – HVPGVN tại TP.HCM


  1. Pháp sư Thánh Nghiêm, Thích Tâm Trí dịch (2013), Lịch sử Phật giáo Tây Tạng, Hà Nội, NXB. Phương Đông, tr. 54.
  2. Ngài Atisa có nhiều cách gọi như là Atisha, A Để Hạp hay A Đề Sa theo Từ điển Phật học – Đạo Uyển (zh. 阿提沙, sa. Atīśa, Atiśa). A Đề Sa là cách đọc theo âm Hán Việt, dịch ý là người xuất chúng, xuất sắc, cũng được gọi là Nhiên Đăng Cát Tường Trí (zh. 燃燈吉祥智, sa. Dīpaṅkaraśrījñāna), Đại sư người Đông Ấn (982 – 1054), người đã đóng góp rất nhiều trong việc truyền bá Phật giáo sang Tây Tạng lần thứ 2.
  3. HT. Thích Minh Thông, Phân tích giới tướng Tỳ-kheo-ni và phương thức sám tội, tr. 10.
  4. HT. Thích Thiện Hoa (2011), Tỳ-kheo giới kinh, NXB. Tôn giáo, tr. 70.
  5. HT. Thích Phước Sơn (dịch) (2014), Luật Ma-ha-tăng-kỳ, NXB. Tôn giáo, tr. 25.
  6. Thích Nữ Trí Hải, Đèn soi nẻo giác và luận giải, https://thuvienhoasen.org/a26681/den-soi-neo-giac-va-luan-giai
  7. Thích Nữ Trí Hải (dịch) (2014), Thanh tịnh đạo luận, NXB. Hồng Đức, tr. 13.
  8. Sđd, tr. 47.
  9. Thích Phước Sơn (2012), Tu tập chỉ quán tọa thiền pháp yếu giảng thuật, NXB. Phương Đông, tr. 47.
  10. Thích Thánh Nghiêm (2013), Lịch sử Phật giáo Tây Tạng, NXB. Phương Đông, tr. 117.
  11. HT. Thích Minh Châu, Kinh Pháp cú, tr. 242.