Thứ Ba, 4 Tháng Mười 2022
Phật học Nghiên cứu Quan điểm nữ giới trong Phật giáo Nguyên thủy

Quan điểm nữ giới trong Phật giáo Nguyên thủy

  Ấn Độ là quốc gia có sự kỳ thị về người nữ khắc nghiệt nhất trên thế giới do ảnh hưởng tư tưởng Brahman giáo. Cho dù ngày nay, chủ trương nam nữ bình đẳng nhưng người nữ vẫn phải đối mặt với nhiều mặc cảm, tự ti và thiệt thòi về quyền lợi. Những định kiến của xã hội đối với người nữ không phải do đấng tối cao nào quyết định mà do chính con người tạo ra và áp đặt lên, làm cho người nữ từ khi sanh ra đã bị tước đi quyền được sống. Nhằm phá vỡ những định kiến ấy, quan điểm về nữ giới đã được Đức Phật nêu ra một cách sâu sắc, khách quan và thực tế qua các bài kinh trong Nikāya. Ngài không chủ trương xóa bỏ sự phân biệt giới quyền, chỉ nêu lên sự bất hợp lý về giáo điều của các tôn giáo đương thời trong xã hội, qua đó làm thay đổi nhận thức của con người, thay đổi số phận người phụ nữ.

Nhân loại đã chứng minh chưa từng tồn tại chế độ mẫu hệ, có chăng chỉ xuất hiện ở một số ít bộ tộc, nhưng sự phát triển của xã hội đã nhanh chóng đưa chế độ này vào lịch sử. Từ xa xưa, tư tưởng trọng nam khinh nữ đã bám sâu vào tiềm thức con người, người nữ bị xem như vật trao đổi để giữ gìn quan hệ hữu nghị giữa các nước, là chiến lợi phẩm dành cho kẻ thắng trận. Ở phương Tây, mặc dù tư tưởng phóng khoáng nhưng đối với người nữ họ cũng mặc nhiên quan niệm rằng: “Đàn bà là một con người chưa trưởng thành, đàn ông chỉ có thể là người chỉ huy, đàn bà chỉ có thể tuân mệnh. Theo bản chất, phụ nữ không có ý chí, do đó không thể tự lập. Việc làm thích hợp nhất đối với người nữ là coi sóc nhà cửa1.” Qua đó chứng tỏ người nữ luôn bị coi nhẹ, phải sống khép mình trong giới hạn mà xã hội áp đặt lên. Điều này càng bộc lộ rõ rệt qua phong tục của người phương Đông, điển hình như Trung Quốc con gái phải phục tùng hoàn toàn theo ý muốn của cha mẹ, khi xuất giá phụ thuộc vào chồng, thậm chí chồng chết bị chôn sống theo. Một quan niệm hết sức phi lý nhưng lại được xã hội ca ngợi, cho rằng như thế mới gọi là thủ tiết và đúng với chuẩn mực của lễ giáo. Tuy nhiên, đây chưa phải là tất cả sự thống khổ cùng cực của người nữ, bởi vì ở Ấn Độ, có lẽ nếu không được sinh ra, người nữ sẽ cảm thấy mình may mắn hơn.

Theo triết lý Brahman giáo, phụ nữ là nguồn gốc mọi rắc rối cho đấng sinh thành của họ. Từ lúc sanh ra người nữ đã phải làm việc nhà và không được đi học, đến tuổi lấy chồng nhà gái còn phải chịu của hồi môn mới có thể cưới gả. Nếu xuất phát từ địa vị thấp kém, thiếu thốn vật chất, việc sinh ra một bé gái là nỗi bất hạnh lớn của gia đình. Nhưng cho dù sanh ra trong gia đình quyền quý, người nữ cũng không được xem trọng, không được ngang hàng cùng nam giới trong lãnh vực xã hội, không được phép tế lễ, thực hành nghi lễ tôn giáo và tụng học Thánh điển Veda… Cho nên, một bé gái ra đời không chỉ là bất hạnh của một gia đình, đó còn là thảm họa của toàn xã hội. Nói khác đi, trong con mắt định kiến của xã hội Ấn Độ, phụ nữ giống như cây tầm gửi, tồn tại nhờ bám vào một sự hiện hữu khác. Cả cuộc đời họ chỉ là công cụ sinh con cho cha mẹ chồng, là vật sở hữu của nam giới, sinh ra để tùy thuộc và phục tùng người nam mà không có bất kỳ sự kính trọng nào. Phụ nữ lý tưởng là một người nô lệ trung thành, được đề cập cụ thể trong luật Manu như sau: “Phụ nữ, khi còn bé phải sống với cha, còn trẻ phải theo chồng, chồng chết phải theo con. Phụ nữ không được phép sống độc lập2.” Tàn nhẫn hơn nữa, họ mặc nhiên quy định người nữ ra đời đã là một tội lỗi, là nguyên nhân khiến cho người nam sa đọa, cho nên “người nữ đáng bị đánh đòn cả ngày lẫn đêm3.” Có thể nói, tư tưởng Brahman khiến cho nữ giới bị liệt vào hạng thấp kém hơn cả giai cấp hạ tiện của xã hội, đó cũng là lý do khiến vua Pasenadi vô cùng buồn bã khi biết vợ mình sanh con gái.

Mở đầu công cuộc cách mạng làm thay đổi nhận thức của xã hội đối với nữ giới, Đức Phật đã dạy vua Pasenadi rằng:

“Này Nhân chủ, ở đời
Có một số thiếu nữ,
Có thể tốt đẹp hơn,
So sánh với con trai,
Có trí tuệ, giới đức
Khiến nhạc mẫu thán phục.
Rồi sinh được con trai,
Là anh hùng, quốc chủ4.”


Đức Phật khẳng định, một người nữ có trí tuệ và đức hạnh hoàn toàn vượt trội hơn hẳn người con trai, bởi phẩm chất mới chính là thước đo giá trị của một con người, không phải do giới tính quyết định. Thật vậy, nếu một người nữ tài đức khéo quán xuyến việc nhà, hiểu ý muốn của chồng, khéo nuôi dạy con cái…, người nữ đó có ích cho xã hội hơn rất nhiều một nam nhân ngỗ nghịch. Huống gì người nữ ấy còn sanh được con trai và nuôi dạy trở thành anh hùng hay quốc chủ của một đất nước, người nữ đó xứng đáng được kính trọng. Ở đây, Đức Phật không bênh vực nữ giới, ngài muốn chỉ ra rằng sự cao quý hay hạ tiện của một con người do chính bản thân mỗi người quyết định. Ví như hoàng hậu Māyā được trí tuệ và  đức hạnh làm cho cao quý, khiến cả nhân loại thán phục và tôn xưng là Thánh mẫu. Bên cạnh đó, người phụ nữ không có đức hạnh tự làm cho người khác coi thường. Như con dâu ông Anāthapiṇḍika, một nàng dâu ngỗ nghịch, thường hay bất kính với cha mẹ chồng, ngay cả chồng cũng xử sự hết sức thô lỗ. Anāthapiṇḍika xem nàng ta là một sự bất hạnh đối với gia đình. Để giáo hóa nữ nhân này, Đức Phật dạy: “Này Sujata, có bảy loại vợ này cho người đàn ông. Thế nào là bảy? Vợ như người sát nhân; vợ như người ăn trộm; vợ như người chủ nhân; vợ như người mẹ hiền; vợ như người chị; vợ như người bạn; vợ như người nữ tỳ5.” Ba hạng đầu là người vợ không có đức hạnh, ác khẩu sau khi qua đời sanh vào cõi xấu; bốn hạng vợ sau lúc còn sống tạo ra hạnh phúc cho gia đình và con cái, chết sinh vào cõi lành nhờ phước đã tạo. Sau khi nghe Đức Phật dạy, Sujata ăn năn và xin được sám hối, từ đó gia đình ông Anāthapiṇḍika cũng trở nên đầm ấm, an nhàn và hạnh phúc. Như vậy, một con người cao quý hay hạ tiện không dựa trên xuất thân hay giới tính, nhân cách mới là yếu tố quyết định sự thanh cao hay thấp kém của chính họ. Qua lời dạy trên, Đức Phật bước đầu làm thay đổi nhận thức của xã hội đối với giá trị con người, làm lung lay quan điểm bất bình đẳng giới của Bà-la-môn giáo.


Sở dĩ Brahman kỳ thị nặng nề đối với người nữ nhằm mục đích cũng cố địa vị và gia tăng quyền lực của chính họ. Brahman là những người chuyên thực hiện nghi lễ tế tự, đọc tụng Thánh điển Veda, làm cầu nối giữa con người và Thần linh, đây là nhiệm vụ hết sức thiêng liêng. Nếu ai cũng có thể thực hiện sứ mệnh này, hẳn sự tồn tại của Brahman là vô nghĩa. Do đó, mượn uy quyền của Thần linh, Brahman đưa ra quy định chỉ những người cao quý mới được phép thực hiện nhiệm vụ Thần linh giao phó. Để bản thân luôn cao quý, họ đạp người nữ xuống địa vị thấp kém tận cùng xã hội, cho nữ giới là căn nguyên của mọi lỗi lầm. Như vậy, một Brahman dù có phạm bất tịnh hạnh cũng không bị xã hội truy cứu, mọi trách nhiệm đều quy về người nữ khiến cho nam giới sa đọa. Đối với vấn đề này Đức Phật cũng dạy rằng: “Này các Tỳ-kheo, nếu có ai nói rằng: là bẫy mồi toàn diện của Mara, thời người ấy đã nói chân chánh về người nữ, thật là một bẫy mồi hoàn toàn của Mara6.” Người nữ là bẫy mồi, đây là sự thật được Đức Phật nêu lên bởi vì: “Nữ nhân trói buộc nam nhân với nhan sắc; nữ nhân trói buộc nam nhân với tiếng cười;… lời nói;,… lời ca;… nước mắt;… áo quần;… vật tặng;… xúc chạm. Với tám hình tướng, này các Tỳ kheo, nữ nhân trói buộc nam nhân. Các loài hữu tình bị khéo trói buộc bởi các hình tướng ấy, giống như trói buộc bởi bẫy sập7. Trên thế gian không vật gì có sức hấp dẫn và thu hút người nam bằng người nữ, do đó Đức Phật gọi người nữ là một bẫy mồi. Nhưng không riêng nữ giới, người nam cũng thu hút người nữ không kém, điều này được Đức Phật dạy trong kinh Tăng Chi như sau: “Ta không thấy một sắc… một hương… một vị… một xúc nào khác, này các Tỳ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông như sắc, hương, vị, xúc của người đàn bà… Ta không thấy một sắc… một hương… một vị… một xúc nào khác, này các Tỳ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn bà như sắc, hương, vị, xúc của người đàn ông8.” Như vậy không phân biệt nam hay nữ, sắc dục mới chính là bẫy mồi ghê gớm nhất khiến cho con người mất hết tự chủ. Sắc này không chỉ người nữ mới có, người nam cũng có sắc, cho nên, nếu xem người nữ là bẫy mồi của người nam, ngược lại người nam cũng chính là bẫy mồi của người nữ. Tuy nhiên, nếu không có sự tương quan từ hai phía, sắc của một mình người nam hay nữ đó không thể khiến đối phương sa đọa. Ví như một bàn tay không thể vỗ thành tiếng, cũng thế một người nữ có thể là bẫy mồi, nhưng nếu người nam không ăn mồi sẽ không bị mắc bẫy. Như vậy bản thân người nữ vốn không phải là tội lỗi, chính lối sống tham dục, xa lìa phạm hạnh là cơ sở khiến con người sa đọa. Không một người nữ nào có quyền bắt người nam phải ăn mồi, ăn hay không do chính người nam quyết định.


Tuy nhiên vì mục đích cá nhân, Brahman quy hết trách nhiệm cho người nữ, nam giới trở thành người bị hại. Thay vì chối bỏ nữ giới, Đức Phật ví họ giống như bẫy mồi nhằm cảnh tỉnh con người trước sự nguy hiểm của sắc dục, không để chúng lôi kéo. Ngài dạy rằng: “Này các Tỳ-kheo, Ta không thấy có một sắc nào khác lại khả ái như vậy, đẹp đẽ như vậy, mê ly như vậy, trói buộc như vậy, say sưa như vậy, chướng ngại như vậy cho sự đạt đến an ổn khỏi các khổ ách, tức là, này các Tỳ-kheo, sắc đẹp của nữ nhân9.” Qua đó, chứng tỏ sắc dục có sức mạnh cám dỗ vô cùng ghê gớm, nên Đức Phật khuyến tấn các vị Tỳ-kheo phải biết luôn chánh niệm tỉnh giác để không bị bẫy mồi cám dỗ. Trong Tiểu bộ kinh trích dẫn câu chuyện về ngài Samudda sanh ra trong một gia đình giàu có ở thành phố Rājagaha. Sau khi Samudda xuất gia, mẹ của Ngài một lòng thương yêu muốn con trở về nên dùng sức mạnh của mỹ nhân để cám dỗ. Samudda ví sắc đẹp của mỹ nhân ấy giống như “thần chết giết mồi”, nhưng với tâm chánh niệm tỉnh giác, Ngài đã thoát ra khỏi cạm bẫy của sắc đẹp10. Qua đó ta thấy, sa đọa hay không do tự thân của mỗi người, không ai có thể làm cho ta sa đọa hay trở nên thanh tịnh. Như trong kinh Pháp Cú Đức Phật dạy:

“Tự mình, điều ác làm
Tự mình, làm nhiễm ô.
Tự mình, ác không làm
Tự mình làm thanh tịnh
Tịnh, không tịnh, tự mình
Không ai thanh tịnh ai11.”

Tàn tích Rājagaha.

Như vậy cùng một quan điểm về nữ giới, Brahman biến họ trở thành vật hy sinh nhằm giữ vững địa vị, nhưng cách lý giải của Đức Phật đã giải phóng người nữ ra khỏi những định kiến ăn sâu vào tâm thức loài người qua biết bao thế hệ, đưa người nữ đứng lên làm chủ cuộc đời. Đồng thời Đức Phật cũng đã cảnh tỉnh con người trước nhận thức tai hại, cứ mặc sức sa đọa sau đó quy hết mọi lỗi lầm cho người khác. Qua lời dạy trên, Đức Phật đề cao quy luật nhân quả, con người phải tự chịu trách nhiệm về những hành vi của mình. Đây thực sự là tiếng chuông thức tỉnh giúp con người bước ra khỏi vũng bùn của lý thuyết mê tín, hoang đường do chính họ đặt ra và thay đổi nhận thức để hướng đến đời sống tốt đẹp hơn.

Tuy nhiên, không phải lúc nào Đức Phật cũng bênh vực người nữ, đối với những hạn chế của họ Ngài cũng đã thẳng thắn nêu ra. Đó là so với người đàn ông, có năm đau khổ riêng biệt mà người đàn bà phải gánh chịu: “Người đàn bà lúc trẻ tuổi đi đến nhà chồng, không có bà con… người đàn bà có kinh nguyệt… người đàn bà phải mang thai… người đàn bà phải sanh con…người đàn bà hầu hạ đàn ông12.” Trong năm điểm này, những điểm thuộc cấu trúc tâm sinh lý không thể thay đổi, đó là dù muốn hay không mỗi tháng người nữ đều phải trải qua kỳ kinh nguyệt, phải mang thai chín tháng mười ngày và phải sinh con vô cùng đau đớn. Những vấn đề sinh lý này khiến cho người nữ chịu nhiều đau khổ, nhưng họ tình nguyện cam chịu. Vì đối với nữ giới làm mẹ là thiên chức thiêng liêng nhất. Bên cạnh đó, những điểm thuộc về phong tục tập quán như phụ nữ phải theo chồng và phải hầu hạ đàn ông, đây là quy chuẩn của xã hội do con người đặt ra. Khi lấy chồng, người nữ phải rời xa gia đình, rời quê hương một mình đến xứ người, lại phải hiếu thuận với cha mẹ chồng và hầu hạ người chồng của mình. Đây được xem như bổn phận của người nữ, phản kháng đồng nghĩa với chống đối lại xã hội và để lại tiếng xấu muôn đời. Những điểm sinh lý vốn đã khiến người nữ đau khổ, những phong tục còn khiến họ chịu thiệt thòi nhiều hơn, như thế người nữ đáng thương hơn là đáng trách. Trong khi sanh con là để nối dõi cho gia đình chồng, để duy trì cho loài người không bị tuyệt chủng, thay vì được ưu tiên Brahman lại gắn cho họ rất nhiều quy định nghiệt ngã. Nếu cho rằng, người nữ vô cùng yếu đuối cho nên, phải sống phụ thuộc, phải hầu hạ đàn ông, đây là quan niệm hết sức sai lầm. Trong kinh Tăng Chi, đức Phật dạy người nữ năm loại sức mạnh, đó là: “Sức mạnh sắc đẹp, sức mạnh tài sản, sức mạnh bà con, sức mạnh con trai, sức mạnh giới hạnh. Ðầy đủ năm sức mạnh này, người đàn bà sống ở nhà không có sợ hãi,… ức chế người chồng,… chinh phục người chồng13.” Một người vợ hàn toàn có đủ sức mạnh để áp chế hay chinh phục chồng, nhưng họ nhún nhường, chịu đựng để giữ gìn gia đình hạnh phúc. Như vậy, qua lời dạy của Đức Phật, người nữ không chỉ sánh ngang bằng người nam, họ còn có những đức tính vô cùng cao cả.

Thế nhưng năm điểm yếu này của người nữ làm phát sinh rất nhiều quan điểm trái chiều, cho rằng đây chính là nguyên nhân khiến cho người nữ có năm điều chướng ngại được Đức Phật nêu lên trong kinh Tăng Chi như sau: “Sự kiện này không xảy ra, này các Tỳ kheo, không thể có được: Một phụ nữ có thể là bậc A-la-hán chánh đẳng giác… một phụ nữ có thể là vị chuyển luân vương… một phụ nữ có thể là vị Đế thích (sakka)… là Ác ma… là Phạm Thiên14...” Họ cho rằng những cấu trúc sinh lý khiến thân người nữ nhơ nhớp không sạch, tâm lý không ổn định, hơn hết người nữ nghiệp nặng hơn người nam nên không thể thành Phật hay Phạm Thiên, Đế Thích… Tuy nhiên, không một bài kinh nào trong Nikāya cho thấy người nữ nghiệp nặng và thân thể nhơ nhớp hơn người nam. Trong khi Đức Phật vẫn thường dạy các thầy Tỳ kheo phải quán thân bất tịnh để xả bỏ tâm chấp thủ, cho nên, bất kể nam hay nữ thân được cấu tạo từ Ngũ uẩn đều là bất tịnh. Như vậy, những nhận định trên đối với người nữ chỉ là phán đoán không có căn cớ.

(Còn tiếp)

Thích Nữ Uyển Tường



  1. Câu chuyện Triết học, tr.25.
  2. The Code of Manu, p.112.
  3. Thích Chơn Minh, Bài giảng Phật giáo Nguyên Thủy, khóa XIII.
  4. Kinh Tương Ưng, tập I, Tương Ưng Kosala, Phẩm Người Con Gái, tr.155.
  5. Kinh Tăng Chi, tập II, Chương VII. Phẩm không tuyên bố, tr.245.
  6. Kinh Tăng Chi, tập I, Chương V. Năm Pháp, Phẩm Triền Cái, tr.668. 7. Kinh Tăng Chi, tập II, Chương VIII. Tám Pháp, Phẩm Lớn, tr.325.
  7. Kinh Tăng Chi tập I, Chương V. Năm Pháp, Phẩm Triền Cái, tr.668. 7. Kinh Tăng Chi tập II, Chương VIII. Tám Pháp, Phẩm Lớn, tr.325.
  8. Kinh Tăng Chi, tập I, Chương I. Một Pháp, Phẩm Sắc, tr. 35.
  9. Kinh Tăng Chi, tập I, Chương V. Phẩm Triền Cái, tr. 668.
  10. Kinh Tiểu Bộ, tập III, Trưởng lão Tăng Kệ, Chương VII. Phẩm Bảy Kệ, tr. 365.
  11. Kinh Tiểu Bộ, tập I, Kinh Pháp Cú, Phẩm Tự Ngã, tr.65.
  12. Kinh Tương Ưng tập II, Chương III. Tương Ưng Nữ Nhân, Phần I. Phẩm Trung Lược, tr. 304.
  13. Kinh Tương Ưng, tập II, Chương III.Tương Ưng Nữ Nhân, Phần III. Phẩm Ba, tr.308.
  14. Kinh Tăng Chi, tập I, Chương I. Một Pháp, Phẩm Không Thể Có Được, tr. 65.

Tin khác

Cùng chuyên mục

error: Nội dung được bảo mật !!