Thứ Bảy, 21 Tháng Năm 2022
Phật học Nghiên cứu Quan điểm nữ giới trong Phật giáo Nguyên thủy (Phần 2)

Quan điểm nữ giới trong Phật giáo Nguyên thủy (Phần 2)

  Đối với chướng ngại về quả vị của nữ giới, TT. Thích Chơn Minh nhận định như sau:
“Trong các điểm đặc thù của nữ giới, có yếu tố thuộc về quan niệm, thuộc quy ước xã hội do con người đặt ra nên có thể thay đổi theo thời gian. Những yếu tố thuộc về tâm lý không thể thay đổi nhưng không phải điều kiện quyết định cho quả vị tu tập.”1

Thật vậy, tuy rằng người nữ chướng ngại không thể thành Phật nhưng trong Phật giáo Nguyên thủy, Đức Phật cũng chưa thọ ký cho bất kỳ một vị Tăng hay người nam nào. Bên cạnh đó, người nam chứng được Arahat, người nữ cũng có thể tu chứng, điều này được Đức Phật xác tín như sau: “Này Ananda, sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng, nữ nhân có thể chứng được Dự lưu quả, Nhất lai quả, Bất lai quả hay A la hán quả.”2


Bên cạnh đó, trong hàng đệ tử của Đức Phật có thập đại đệ tử Tăng như Ngài Sariputta trí tuệ đệ nhất, Moggallana thần thông đệ nhất, Upali trì giới đệ nhất…, bên Ni cũng có thập đại đệ tử: “Trong các vị nữ đệ tử Tỳ-kheo Ni của Ta đã lâu ngày, này các Tỳ-kheo, tối thắng là Mahapajapati Gotami… Đại trí tuệ là Khema… đầy đủ thần thông là Uppalavanna… trì luật là Patacara.”3

Không chỉ có mười vị Thánh đệ tử Ni chứng được tâm giải thoát, ở Đại Kinh Vacchagotta trong kinh Trung Bộ khi du sĩ ngoại đạo Vacchagotta hỏi Thế Tôn ngoài các Tỳ-kheo, có một Tỳ-kheo Ni đệ tử nào đã đoạn trừ lậu hoặc, chứng đạt thắng trí ngay trong hiện tại không, Đức Phật trả lời: “Này Vaccha, không phải chỉ một trăm, hai trăm, ba trăm, bốn trăm, năm trăm mà còn nhiều hơn thế nữa là những Tỳ-kheo Ni đệ tử của Ta đã đoạn trừ các lậu hoặc, với thượng trí, tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại, vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.”4

Qua đó chứng tỏ nữ giới hoàn toàn có khả năng tu tập đạt đến giác ngộ giống như người nam, những gì nam giới làm được, nữ giới cũng có thể làm. Thân thể tuy có phân nam nữ nhưng quả vị tu tập không có sai khác, không do giới tính quyết định, như trong bài kệ đối đáp Ác ma, Tỳ-kheo Ni Soma đã tuyên bố dõng mãnh rằng:

Nữ tánh chướng ngại gì,
Khi tâm khéo thiền định,
Khi trí tuệ triển khai,
Chánh quán pháp vi diệu
Ai tự mình tìm hỏi:
Ta, nữ nhân, nam nhân.”5

Như vậy, trí tuệ mới là yếu tố đi đầu quyết định quả vị tu tập, bằng năng lực của một vị đã chứng quả giải thoát Tỳ-kheo Ni Soma đưa ra lời khẳng định chắc chắn khiến cho Ác ma phải khiếp sợ. Nguyên nhân người nữ không thể thành Phật, không thể làm Chuyển Luân Thánh Vương hay Đế Thích…, cá nhân con nhận định rằng, đó là vì nữ giới không có sức mạnh làm chủ giống như người nam. Đức Phật dạy: “Do đầy đủ một sức mạnh, này các Tỷ-kheo, người đàn ông tiếp tục chinh phục người đàn bà. Thế nào là một sức mạnh? Sức mạnh của người làm chủ. Người đàn bà đã bị chinh phục bởi sức mạnh của người làm chủ, thời sức mạnh nhan sắc không che chở được, sức mạnh tài sản… sức mạnh bà con… sức mạnh con trai… sức mạnh giới hạnh không che chở được.”6

Sức mạnh làm chủ này giống như sự ưu ái của tạo hóa đối với người nam, thế gian thường hay gọi là thiên phú. Một người nữ dù có đủ năm sức mạnh cũng không thể vượt qua sức mạnh làm chủ, trong khi một vị Phật, một vị Chuyển Luân Thánh Vương, Đế Thích, Phạm Thiên, Ác ma… đều là những bậc tối thắng cần có khả năng nhiếp phục mọi loài. Ví như Đức Phật, Ngài có thể nhiếp phục hết thảy chúng sanh trong tam giới, Chuyển Luân Thánh Vương cần có khả năng chinh phục hết thảy mọi người trên thế gian…, cho nên, chỉ nam giới mới có thể làm được. Tuy nhiên, đây không phải thế mạnh để người nam cho mình quan trọng hơn nữ giới, bởi để trở thành Ác ma,… Chuyển Luân Vương đã khó, huống là một vị Phật, đây là sự kiện vô cùng hy hữu ít ai có thể thành tựu. Trong khi đó người nữ cũng có những điểm đặc biệt riêng, đó là thiên chức làm mẹ thiêng liêng vô cùng, một người nam dù muốn cũng không thể có được. Như vậy, nam nữ hoàn toàn bình đẳng trong mọi lĩnh vực, tuy người nam có những điểm trội hơn nhưng cũng có điểm hạn chế hơn người nữ và ngược lại. Do thấy được điều này nên Đức Phật đã đưa ra những quan điểm làm thay đổi nhận thức và giải phóng người nữ khỏi giới hạn xã hội áp đặt nên, đưa người nữ sánh ngang với người nam trong mọi hoạt động. Đồng thời Đức Phật đã chứng minh nam nữ hoàn toàn có thể bình đẳng qua việc cho phép người nữ gia nhập Tăng đoàn. Không có một tôn giáo nào ở Ấn Độ lúc bấy giờ xuất hiện hình ảnh của người nữ. Lịch sử ghi nhận Đức Phật là người đầu tiên đưa họ lên vị thế bình đẳng với nam giới qua việc xây dựng hai hệ thống giáo đoàn cùng song song tồn tại. Có thể nói, đây là cuộc cách mạng tư tưởng vô cùng gian nan bởi nó đi ngược với truyền thống văn hóa lâu đời của Ấn Độ.

Cho nên, Đức Phật không vội đồng ý cho nữ giới xuất gia mà phải qua nhiều lần thưa thỉnh, đây là cách Ngài thăm dò phản ứng của xã hội và các tôn giáo khác trước chuyển biến to lớn này. Đồng thời sau khi chấp thuận cho nữ giới xuất gia, Thế Tôn đã khéo léo đặt ra Bát Kỉnh Pháp7, một giải pháp tinh tế để không gây ra sự chống phá từ ngoại đạo và phản đối từ chính nội bộ Tăng đoàn. Cũng là cách Đức Phật dùng để thử thách tính kiên định và dõng mãnh đối với ý chí xuất gia của người nữ trước phản đối kịch liệt của xã hội. Ngoài ra, Bát Kỉnh Pháp còn rất hữu ích cho quá trình tu tập của nữ giới, bởi trong số 500 người nữ xin được xuất gia đầu tiên đa số xuất phát từ hoàng tộc, con nhà quyền quý. Bát Kỉnh Pháp giúp khống chế tâm ngã mạn của những nữ nhân này để họ chuyên tâm tu tập. Mặt khác, địa vị người nữ trong xã hội bấy giờ vô cùng thấp kém, có thể bị xúc phạm bất cứ lúc nào cho nên, Ni chúng phải ở ẩn trú xứ của chư Tăng để được bảo vệ. Qua đó chứng tỏ mục đích Đức Phật chế ra Bát Kỉnh Pháp hoàn toàn xuất phát từ lòng từ bi, mong muốn cho người nữ đạt được lợi ích trong Phật pháp. Ngài dạy rằng: “Ví như, này Ananda, một người vì nghĩ đến tương lai xây dựng bờ đê cho một hồ nước lớn để nước không thể chảy qua, cũng vậy, này Ananda, vì nghĩ đến tương lai, Ta mới ban hành kính tám pháp này, cho các Tỳ-kheo-ni cho đến trọn đời không vượt qua.”8 Như vậy, Bát Kỉnh Pháp vừa giúp ngăn ngừa những chướng ngại ảnh hưởng đến tu tập của người nữ, đây cũng chính là lời nhắc nhở để chư Tăng tinh cần tu tập, xứng đáng khi nhận sự cung kính từ chư Ni. Là rào cản vô hình để chúng đệ tử của Ngài giúp đỡ lẫn nhau tu tập trên thái độ tôn kính, không vượt quá giới hạn. Tuy nhiên, hiện nay rất nhiều quan điểm cho rằng sở dĩ Đức Phật chế ra Bát Kỉnh Pháp để ngăn ngừa nữ giới, vì nếu người nữ xuất gia, chánh pháp sẽ bị giảm 500 năm. Có thể thấy, quan điểm này xuất phát từ lời dạy của Đức Phật trong kinh Tăng Chi như sau:


“Này Ananda, nếu nữ nhân không được xuất gia… thời Phạm hạnh được an trú lâu dài và diệu pháp được tồn tại đến một ngàn năm. Vì rằng, này Ananda, nữ nhân được xuất gia… nay Phạm hạnh sẽ không được an trú lâu dài, diệu pháp được tồn tại năm trăm năm.”9


Thật vậy, người nữ xuất gia có thể khiến cho phạm hạnh không được an trú lâu dài, nhưng đây không phải lỗi của một mình người nữ. Nếu đối trước Ni giới chúng Tỳ-kheo không bị cám dỗ bởi sắc dục, chắc chắn sẽ không ảnh hưởng đến phạm hạnh của Tăng đoàn. Như vậy tuổi thọ của chánh pháp dài hay ngắn do chính sự tu tập của chúng Tỳ-kheo, không do sự xuất gia của người nữ quyết định. Lịch sử đã chứng minh, nguyên nhân dẫn đến sự suy tàn của Phật giáo tại các nước phần lớn do chư Tăng không giữ gìn giới luật, sống phóng túng theo dục lạc thế gian, trong khi không có nguyên nhân nào đề cập đến người nữ. Chính ở các nước Nam truyền như Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan,… mặc dù không có người nữ xuất gia nhưng Phật giáo vẫn suy tàn, thậm chí có nơi gần như tuyệt chủng. Có thể thấy quan điểm nữ giới xuất gia khiến chánh pháp suy giảm vốn xuất phát từ Thượng tọa bộ và những chi nhánh tách ra từ bộ phái này, lấy đó làm căn cứ để ngăn không cho người nữ thọ đại giới. Quan điểm này đi ngược tinh thần bình đẳng của Đức Phật, Ngài là đấng Đại từ bi lý nào lại tiếc 500 năm chánh pháp để gán cho người nữ một tội danh hết sức nặng nề, muôn đời không thể rửa sạch. Khi Phật còn tại thế cũng không cấm chư Ni thọ đại giới, không dạy chư Tỳ-kheo né tránh chư Ni, ngược lại còn dạy các bậc thượng thủ trong Tăng đoàn hãy thương tưởng mà vì họ nói pháp. Thái độ của Đức Phật về vấn đề nữ giới được ghi lại trong kinh Đại Bát Niết-bàn, qua câu chuyện đối đáp giữa Ananda và Đức Phật như sau:

– Bạch Thế Tôn, chúng con phải cư xử với phái nữ như thế nào?
– Này Ananda, chớ có thấy chúng.
– Bạch Thế Tôn, nếu phải thấy chúng, thời phải như thế nào?
– Này Ananda, chớ có nói chuyện với chúng.
– Bạch Thế Tôn, nếu phải nói chuyện với chúng, thời phải làm thế nào?
– Này Ananda, phải an trú chánh niệm.10
Qua lời dạy trên, Đức Phật không cấm các thầy Tỳ kheo tiếp xúc với người nữ hay tránh xa họ, như thế chẳng khác thái độ kỳ thị của các Brahman. Điều quan trọng nhất Đức Phật muốn các đệ tử của mình ghi nhớ đó là phải giữ gìn chánh niệm, luôn luôn tỉnh giác để không bị sắc dục lôi kéo. Trong chánh niệm, Đức Phật dạy: “Hãy đến, này các Tỳ-kheo, đối với những người nữ chỉ là mẹ, hãy trú tâm người mẹ. Đối với những người nữ chỉ là chị, hãy an trú tâm người chị. Đối với những người là con gái, hãy an trú tâm người con gái.11

Đây mới chính là thái độ của Đức Phật đối với nữ giới, cách ứng xử luôn giàu lòng từ bi nhưng đầy tính nhân văn và trí tuệ của bậc Giác ngộ.
Tóm lại, những lời dạy đầy minh triết của Đức Phật đã đánh đổ những triết lý vô căn cứ của Brahman. Brahman xem người nữ là thảm họa của xã hội, nhưng nếu không có người nữ đây mới là thảm họa thực sự làm cho loài người bị tuyệt chủng. Nếu người nữ là thấp kém chắc chắn không một ai trên thế gian này cao quý, bởi tất cả con người đều do người nữ sanh ra. Do đó, qua lời dạy của Đức Phật chúng ta cần phải thay đổi thái độ, đối với những vấn đề thuộc sinh lý khiến cho người nữ phải chịu thiệt thòi, thay vì gán cho người nữ nghiệp nặng, thân thể nhơ nhớp, hãy thông cảm và yêu thương họ nhiều hơn. Đối với những phong tục tập quán không phù hợp, chúng ta có thể thay đổi để giúp họ chia sẻ gánh nặng trong cuộc sống. Có như thế mới khiến người nữ tình nguyện đóng góp công sức cho sự hoàn thiện của xã hội, xây dựng đời sống con người ngày càng tốt đẹp. Hơn hết, là đệ tử của Đức Phật chúng ta hiểu và làm đúng theo lời dạy của Ngài. Không nên vì sự tu tập không tốt của bản thân mà đổ lỗi do người nữ xuất gia khiến cho chánh pháp suy giảm. “Thắng ngàn quân địch không bằng thắng chính bản thân mình”, phải thẳng thắn đối diện và vượt qua được ham muốn của bản thân, đây mới là điều đệ tử Đức Phật cần phải thực hiện để tiến gần đến quả vị giải thoát.

Thích Nữ Uyển Tường



  1. TT. Thích Chơn Minh, Bài giảng môn “Phật giáo Nguyên Thủy”, khóa XIII.
  2. Kinh Tăng Chi, tập II, Chương VIII. Tám Pháp, Phẩm Gotami, tr. 378.
  3. Kinh Tăng Chi, tập I, Chương I. Một Pháp, Phẩm Người Tối Thắng, tr. 61.
  4. Kinh Trung Bộ, tập I, Đại Kinh Vacchagotta, tr. 600.
  5. Kinh Tương Ưng, tập I, Chương V. Tương Ưng Tỳ-kheo Ni.
  6. Kinh Tương Ưng, tập II, Chương III. Tương Ưng Nữ Nhân, Phần III. Phẩm Ba, tr. 308.
  7. Kinh Tăng Chi, tập II, Chương VIII. Tám Pháp, Phẩm Gotami, tr. 378.
  8. Kinh Tăng Chi, tập II, Chương VIII. Tám Pháp, Phẩm Gotami, tr. 380.
  9. Sđd, tr. 379.
  10. Kinh Trường Bộ, Kinh Đại Bát Niết-bàn, tr. 329.
  11. Kinh Tương Ưng, tập II, Phần III. Năm Mươi Kinh Thứ Ba, Phẩm Gia Chủ, tr. 200-2012.

Tin khác

Cùng chuyên mục

error: Nội dung được bảo mật !!