Phật giáo Nhất vị Thiền trà

1119
Pháp sư Thánh Huy hợp ảnh cùng Đại lão Hòa thượng Thích Trí Tịnh năm 2005

<HĐ>Phật giáo được sáng lập tại cổ Ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ V, VI trước Công nguyên, truyền vào Trung Quốc vào thời Tây Hán. Phật giáo được truyền bá và phát triển trải qua các triều đại Ngụy, Tấn, Nam Bắc Triều, đến đời Tùy, Đường đạt đến đỉnh cao. Riêng trà, hưng khởi vào đời Đường, thịnh hành vào đời Tống.

Người sáng lập Trà đạo Trung Quốc chính là Lục Vũ (陸羽), tự Hồng Tiệm (鴻漸 733-804). Ông đã từng được Thiền sư Trí Tích giáo dưỡng từ thời thơ ấu. Học chữ, viết văn, tập tụng Kinh Phật tại chùa Long Cái – Cánh Lăng (nay là tỉnh Hồ Bắc). Trong Tự Truyện và Trà Kinh của Lục Vũ đều có ghi chép việc ông rất tán thán Phật giáo và nói về việc chư Tăng nghiện uống trà. Có thể nói, trà đạo Trung Quốc từ khi bắt đầu chớm nở đã có sự quan hệ vô cùng mật thiết đối với Phật giáo, cả hai giới Tăng, tục khi uống trà đều hứng thú chuyện trò, bàn luận đạo pháp, dần dần lan rộng khắp nơi đó chính là “Nhất vị thiền trà”.

Tô Đông Pha – Đại học sĩ đời Tống có viết câu liễn về trà:

茶筍盡禪味
松杉真法音

(Trà duẩn tận thiền vị
Tùng sam chân Pháp âm)

Tạm dịch:

Mầm trà tỏa ngát vị Thiền
Hương trà thoang thoảng về miền chân nguyên
Hàng thông lay lắt bên triền
Pháp âm len lỏi theo viền trăng non.

Ông Triệu Phác Sơ – Cố Hội trưởng Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc kính yêu của chúng ta cũng viết một bài thơ nói về trà:

七碗受之味
一壺得真趣
空持百千偈
不如喫茶去

(Thất uyển thọ chi vị
Nhất hồ đắc chân thú
Không trì bách thiên kệ
Bất như ngật trà khứ)

Tạm dịch:

Bảy tách thưởng hương trà
Một bình thật thú vị
Nắm rỗng trăm bài kệ,
Không bằng uống trà đi.

Từ những đôi liễn nói về trà, từ những bài thơ nói về trà không khó lắm để ta thưởng lãm. Trong thiền phảng phất hương vị trà, trong trà nếm được vị thiền.
Sở dĩ mối quan hệ giữa trà và Phật giáo được khái quát do nhân duyên thù thắng của “Thiền trà nhất vị” bởi vì, trước hết trà chính là thức uống để cung cấp cho các tu sĩ mà không có gì thay thế được. Sau đó, chư Tăng cũng như các tự viện đã thúc đẩy việc phát triển trồng trà và kỹ thuật chế biến trà. Hơn nữa, trong hoạt động này, giữa Trà đạo và Phật giáo đã dần dần tìm thấy được nét chung của tư tưởng về phương diện nội hàm càng lúc càng sâu sắc hơn.

Có bốn điều liên quan đến nét chung giữa Phật và trà:

1. Khổ: Giáo lý của Phật giáo là bát đại tinh thâm, nhưng lấy Tứ đế làm cương lĩnh. Sau khi Đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo, đầu tiên Ngài thuyết pháp tại vườn Lộc Uyển, chân lý mà Ngài nói chính là Tứ đế. Mà Tứ đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo) lấy khổ làm đầu. Con người có bao nhiêu khổ? Phật cho rằng, có Sanh khổ, Lão khổ, Bệnh khổ, Tử khổ, Oán tắng hội khổ, Ái biệt ly khổ, Cầu bất đắc khổ… Tóm lại, phàm tất cả vật chất cấu thành sự tồn tại của con người, cho đến các nhân tố tinh thần trong quá trình sinh tồn của con người, đều mang lại sự “khổ não” cho con người. Điều mà Phật pháp nói đến là “Khổ hải vô biên, hồi đầu thị ngạn” (Biển khổ không bờ, quày đầu là bến). Tham Thiền chính là khám phá sinh tử, đạt đến đại triệt đại ngộ, cầu cho được giải thoát cái “Khổ”.

Tính của trà cũng đắng (Khổ), sau vị đắng là ngọt (Cam), tức là trong đắng có đặc tính của ngọt. Cũng thế, Phật giáo có thể sản sinh nhiều pháp quán tưởng, để giúp con người tu tập Phật pháp trong hương vị của trà, trong phẩm vị nhân sanh và khám phá một cách triệt để về “Khổ Đế”.

2. Tĩnh: Trà đạo chú ý đến “Hòa với tĩnh, vui với chân”, đem “tĩnh” làm con đường chắc chắn, nhất định đạt đến “Vật – Ngã song vong” (sự vật và ta cả hai đều quên). Phật giáo cũng lấy tĩnh làm chính. Năm điều trong Phật giáo lúc tọa thiền: Điều thân, điều tâm, điều thực, điều tức (điều chỉnh hơi thở), điều thùy miên (điều chỉnh giấc ngủ) và Tam học “Giới, Định, Tuệ” trong Phật giáo cũng đều lấy tĩnh làm nền tảng. Phật giáo Thiền tông được tạo ra từ trong tĩnh. Có thể nói, ngồi thiền tĩnh lự chính là khóa trình trọng yếu của các lịch đại Thiền sư tham ngộ Phật lý. Trong tĩnh tọa tĩnh lự, nhiều người khó tránh khỏi mệt mỏi buồn ngủ, tại thời điểm này, chỉ có trà mới có thể đề cao tinh thần mang lại lợi ích cho tư tưởng khắc phục cơn buồn ngủ, do đó trà đã trở thành “người bạn” tốt nhất cho Thiền giả.

3. Phàm: Thiên Lợi Hưu (千利休) – Tông Sư trà đạo Nhật Bản đã từng nói: “Nên biết, căn bản trà đạo chẳng qua là đun nước châm trà”. Câu nói này đã phá bỏ bản chất của Trà đạo. Thực ra, trong cuộc sống vụn vặt bình thường, cũng như trong sự sinh hoạt nhỏ nhặt hằng ngày không đáng kể, chúng ta lại bỏ đi sự cảm ngộ bí ẩn của vũ trụ và triết lý của nhân sinh. Thiền cũng là yêu cầu mọi người thông qua tĩnh lự, khế ngộ được đại đạo từ những điều nhỏ bé tầm thường đó.

4. Phóng: Nỗi thống khổ của con người, xét cho cùng là bởi vì “buông không được”. Cho nên, Phật giáo đặc biệt nhấn mạnh hai từ “buông xả”. Đại sư Hư Vân – bậc cao Tăng thời cận đại nói: “Tu hành cần phải buông tất cả mới có thể vào đạo, bằng không chỉ tốn công vô ích.” Buông tất cả là buông những gì? Sáu căn, sáu thức, ngoài sáu trần, mười tám giới này đều phải buông xả. Tóm lại, thân, tâm, thế giới đều phải buông xả. Buông tất cả mọi thứ, con người tự nhiên nhẹ nhàng không gì bằng. Lúc đó, có thể tự tại ngắm nhìn màu lam của trời, màu xanh của biển, ánh sáng lấp lánh của sao, rạng ngời của trăng trên toàn thế giới. Trà cũng nhấn mạnh “buông xả”, hãy buông việc làm trong tay xuống, để trộm nửa ngày nhàn rỗi của kiếp phù sinh mà thưởng thức trà. Khi uống trà các sợi dây thần kinh căng thẳng của mình sẽ thả lỏng, tâm tánh bị cầm tù của mình cũng được thả lỏng.

Từ thời cổ đại cho đến nay, các tu sĩ phần nhiều rất thích trà, thưởng thức trà, nghiện trà và lấy trà làm bạn lữ. Để đáp ứng đầy đủ nhu cầu uống dùng hàng ngày cho chư Tăng, ngôi chùa nào cũng đều có vườn trà cho riêng mình. Trung Quốc có câu nói “Từ xưa, những ngôi tự viện nổi tiếng đều có trà nổi tiếng”. Nhìn một cách khách quan, các tu sĩ đối với nhu cầu của trà, đã thúc đẩy sự phát triển việc sản xuất trà, để cung cấp cho cơ sở vật chất Trà đạo.

Pháp sư Thánh Huy Thanh Như (dịch)