Thứ Tư, 26 Tháng Một 2022
Phật học Nghiên cứu Phật giáo Nguyên Thủy Việt Nam: Truyền thống và biến đổi

Phật giáo Nguyên Thủy Việt Nam: Truyền thống và biến đổi

  Dẫn nhập

Phật giáo Nguyên Thủy (PGNT), hay còn gọi Phật giáo Theravada, có nghĩa “học thuyết của người xưa, hay giáo thuyết của các vị trưởng lão”(Thera là trưởng lão, vada là lời giáo huấn), nên còn có tên là Trưởng lão bộ, là một phái Hinayana thoát thai từ nhóm Sthavira và đặc biệt từ nhánh Vibhajyavadin do Moggaliputta Tissa lập ra, được Mahinda đưa vào Tích Lan (Sri Lanka) năm 250 trước Tây lịch. Chính tại đây, Phật giáo Theravada đã chính thức được thành lập vào khoảng thế kỷ VII và từ đó lan rộng sang các nước Đông Nam Á, là nhánh duy nhất của Phật giáo Hinayana còn tồn tại đến nay, Theravada tự coi mình là hình thức xưa nhất của Phật giáo. Sách điển của Theravada được soạn bằng tiếng Pali, theo những người thuộc phái này là trực tiếp dựa vào những lời của Phật nói ra. Học thuyết của Theravada chủ yếu dựa vào Tứ Diệu Đế, Thập Nhị Nhân Duyên và học thuyết về vô ngã (Anatman). Theravada nhấn mạnh sự cứu chuộc cá nhân, con người có thể đạt tới cứu rỗi bằng sức của mình, do tuân theo các quy tắc đạo đức (Shila) và sống cuộc đời tu hành. Do vậy, có thể thấy Phật giáo Nguyên Thủy Theravada không phải hoàn toàn là Nam tông hay Hinayana (Tiểu Thừa), vì “Trên thực tế, Theravada chỉ xuất phát từ một trong số 18 bộ phái Phật giáo tại Ấn Độ, được đưa vào Tích Lan từ thế kỷ III trước Tây lịch, sau đó đã phát triển và tách ra thành nhiều bộ phái khác trước khi có tên gọi là Theravada vào thế kỷ thứ VII… Hệ tư tưởng Nguyên Thủy Phật giáo là rất lớn, khi được truyền ra khỏi Ấn Độ chỉ là những hệ tư tưởng phân nhánh được truyền đi. Tập hợp những nhánh truyền đi này lại với nhau ta có được một hệ thống truyền bá gọi là Phật giáo Nam truyền. Và Việt Nam cũng chỉ có một nhánh được truyền vào nên không thể gọi là hệ thống được, chính vì thế, danh xưng này làm đại diện là không xứng tầm… Như vậy, chúng ta có thể tạm kết luận được rằng danh xưng “Phật giáo Nam tông” là chỉ cho một hệ tư tưởng Phật giáo của khu vực miền Nam theo truyền thống phân hệ Nguyên Thủy Phật giáo.”

Từ sau khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập vào năm 1981, Việt Nam có 3 hệ phái: Bắc tông, Nam tông và Khất sĩ. Phật giáo Nguyên Thủy ở Việt Nam được xếp vào hệ phái Nam tông. Trong hệ phái Nam tông ở Việt Nam có hai nhóm: của người Việt, gọi là Phật giáo Nam tông Kinh và của người Khmer, gọi là Phật giáo Nam tông Khmer.
Bài viết đề cập đến quá trình du nhập và phát triển của PGNT ở Việt Nam, trong tộc người Việt, trên cơ sở tiếp cận những nguồn tư liệu thực tế và dựa vào những nét đặc thù của PGNT tại đây, để có thể đặt ra câu hỏi nghiên cứu là từ những nguyên nhân chủ yếu nào mà PGNT có mặt ở Việt Nam khá muộn và đặc biệt lại xuất hiện tại miền Nam Việt Nam. Đồng thời, cũng qua quá trình phát triển của mình, PGNT đã thể hiện những nét đặc thù gì trong hoạt động ở Việt Nam, xuất phát từ những yếu tố địa – lịch sử và địa – văn hóa của vùng đất Nam bộ.

Quá trình du nhập của Phật giáo Nguyên Thủy ở Việt Nam

Ngược dòng lịch sử để tìm hiểu thời gian du nhập và phát triển của Phật giáo ở Việt Nam, khá nhiều tư liệu đều đề cập đến sự xuất hiện của Phật giáo Bắc tông. Qua những quyển sách như Sổ tức quán được tìm thấy ở Giao Châu giai đoạn đầu, đã giúp khẳng định sự có mặt của một nền Phật giáo Đại Thừa (Mahayana). Một nhà tôn giáo học người Pháp cũng đã nhận xét: “Cho tới đầu thế kỷ XX, các tín đồ Phật giáo Việt Nam hầu như nhất trí theo Phật giáo Đại Thừa bên cạnh các nhà sư được đào tạo trong việc nghiên cứu các bản văn được truyền lại chủ yếu từ tiếng Sanskrit và tiếng Hán.”

Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng, trong quá trình truyền bá Phật giáo vào Việt Nam, Phật giáo Nam tông cũng có mặt, từ thế kỷ III trước Công nguyên, theo phái đoàn của hai nhà sư Sona và Uttara, nhưng sau đó do quan hệ giữaViệt Nam và Ấn Độ thông qua con đường hồ tiêu và tơ lụa bị gián đoạn, nên Phật giáo Nam tông ở Việt Nam không còn điều kiện để tiếp tục phát triển. Mặt khác, còn có sự thúc đẩy và tác động của quan hệ Việt Nam – Trung Quốc thời bấy giờ cũng làm ảnh hưởng đến sự truyền bá mạnh mẽ của Phật giáo Bắc tông vào Việt Nam. Tư tưởng Bắc tông (Đại Thừa) phù hợp hơn với tộc người Việt, vốn có tinh thần vị tha, uống nước nhớ nguồn, trọng nhân nghĩa…

Quá trình hình thành và phát triển của PGNT ở Việt Nam có nét đặc thù, chí ít là từ 3 yếu tố sau: thời điểm lịch sử xuất hiện; thứ hai là sự truyền bá trái chiều của người Việt sang Campuchia và sau đó mang ảnh hưởng PGNT từ Campuchia về Việt Nam, thứ ba là do những quan hệ đã khắn khít với PGNT ở Campuchia, PGNT ở Việt Nam có nhiều điều kiện để phát triển tốt hơn, nhất là trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn Việt Nam mở cửa hội nhập khu vực và quốc tế..

1.1 Về thời điểm lịch sử xuất hiện PGNT ở Việt Nam

Những năm đầu thế kỷ XX, đặc biệt là từ 1920 đến 1930, ở miền Nam Việt Nam, là Nam kỳ bấy giờ, đã rơi vào sự chiếm đóng của Pháp. Trong các hoạt động chống xâm lược, chỉ có những nhà yêu nước hoạt động lẻ tẻ, chưa thể tập hợp thành một chính đảng. Nhu cầu cần có một chính đảng để tập hợp lực lượng cách mạng chống ngoại xâm là nhu cầu cấp bách. Trước tình thế ấy, nhiều hoạt động tôn giáo mạnh mẽ đã xuất hiện, cả ở Nam kỳ và ở Campuchia. Ở Nam Kỳ, trong giới Phật giáo đã xuất hiện phong trào chấn hưng. Các hội Phật giáo ở Nam kỳ lần lượt ra đời, như Nam kỳ Nghiên cứu Phật học hội (1931), Lưỡng Xuyên Phật học hội (1934), Tịnh Độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam (1935), sau đó đến miền Trung và miền Bắc. “Chịu ảnh hưởng của phong trào chấn hưng Phật giáo đang dấy lên tại nhiều nước ở châu Á, vào những năm 1930, một số tín đồ Phật giáo người Việt Nam tại Campuchia đã khởi xướng việc thành lập nhóm tín đồ Phật giáo nòng cốt đầu tiên gồm những người Việt Nam theo Phật giáo Nguyên Thủy”. Hội này chính thức được thành lập vào năm 1935 . Đến năm 1938, Phật giáo Nguyên Thủy do Lê Văn Giảng truyền từ Campuchia vào Nam bộ. Những người đầu tiên phát động phong trào nghiên cứu Phật giáo Nguyên Thủy là cụ Nguyễn Văn Hiểu, Văn Công Hương, Lê văn Giảng…

Sinh ra, lớn lên và làm việc tại Campuchia, ông Lê Văn Giảng có điều kiện tiếp xúc với sách viết về Phật giáo bằng tiếng Pháp. Ông đã thành lập trung tâm Thiền trong chùa Ruong Damrey ở Prey Veng (1933), lập trung tâm Phật giáo Tiểu thừa đầu tiên ở Việt Nam, lấy chùa Sùng Phước ở Phnôm Pênh làm trụ sở, để hành đạo và giảng dạy giáo lý. Ngày 5/10/1940, ông xuất gia với pháp danh Hộ Tông (Maha thera Vansarakkhita). Ngôi chùa Bửu Quang ở Gò Dưa (Thủ Đức) được ông Nguyễn Văn Hiểu xây dựng vào năm 1938 để tổ chức dịch và chú giải sách về đạo pháp. “Lễ kiết giới seima do Chuon Nath, là đức vua sãi Campuchia, và 30 vị Tỳ kheo tiến hành trong năm 1939 và đặt tên cho ngôi chùa đầu tiên này”. Tên chùa này được đặt trùng với tên chùa Sùng Phước ở Campuchia, tức Ratana Ramsyaràmà.

Như vậy, thời điểm xuất hiện Phật giáo Nguyên Thủy tại Việt Nam được đánh dấu bằng sự xuất hiện của ngôi chùa Bửu Quang vào năm 1938 và lễ khánh thành chùa được tổ chức vào năm 1939. Chùa Bửu Quang là ngôi chùa đầu tiên của người Kinh theo truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy Theravada trên đất nước Việt Nam.

1.2 Sự truyền bá của PGNT vào Việt Nam

Phật giáo Nguyên Thủy Theravada được truyền vào miền Nam Việt Nam từ Campuchia. Quá trình du nhập học thuyết, giáo lý của phái này vào Việt Nam thông qua cư sĩ Lê Văn Giảng. Từ việc tìm tòi, nghiên cứu, dịch và chú giải các sách Phật học từ tiếng Pháp, như quyển Đạo lý của Đức Phật của Georges Grimm, ông dần học tiếng Pali. Ông lui tới Trường Cao đẳng Pali, Viện Phật học ở Phnôm Pênh.

Thời điểm này, ở Campuchia, đặc biệt là tại Phnôm Pênh, với thư viện Hoàng Gia, cùng hai cơ sở Phật giáo là Trường Cao đẳng Pali, Viện Phật học, đã trở thành trung tâm chấn hưng Phật giáo quan trọng. Ông Lê Văn Giảng đã biết tận dụng thế mạnh, vai trò tích cực của trung tâm chấn hưng Phật giáo tại đây để học hỏi, nghiên cứu và thành lập Trung tâm Thiền (chùa Ruong Damrey – Preyveng) và Trung tâm Phật giáo Tiểu thừa (chùa Sùng Phước – Phnôm Pênh).

Chùa Sùng Phước đã trở thành ngôi chùa quan trọng, là văn phòng, trụ sở để hành đạo, giảng đạo bằng 3 thứ tiếng: Pali, Khmer, Việt. Tổ chức Phật giáo này phát triển trong cộng đồng người Việt tại Campuchia, có cơ quan thông tin, truyền bá đạo pháp là tạp chí Ánh sáng Phật pháp.

Song song với quá trình tiếp thu, học hiểu đạo Phật và quảng bá Phật pháp trong người Việt tại Campuchia, cũng là quá trình ông Lê Văn Giảng dần ngộ đạo. Sự kiện này được đánh dấu bằng lễ xuất gia của ông được tổ chức dưới sự chứng minh của Phó Tăng thống Campuchia vào năm 1940.

Như vậy, sự truyền bá PGNT vào Việt Nam là sự truyền bá trái chiều của những người Việt sang Campuchia học hiểu đạo Phật và sau đó mang ảnh hưởng PGNT từ Campuchia về Việt Nam. Vì vậy, không thể phủ nhận ảnh hưởng của Phật giáo Campuchia đối với hệ phái Theravada này tại Việt Nam là rất lớn. Người được xem là vị sáng lập Phật giáo Nguyên Thủy ở Việt Nam là ông Lê Văn Giảng, pháp danh Hộ Tông.

Quá trình phát triển của PGNT từ năm 1957 đến nay

Năm 1957 là năm chính thức PGNT có tổ chức Giáo hội.

Về tên gọi, khi mới du nhập từ Campuchia vào Việt Nam, PGNT có tên gọi Đạo Phật Thích Ca, đây chỉ như là một sơn môn, chưa có tính chất hệ phái hay Giáo hội. Từ năm 1957 đến năm 1981 mang tên Giáo hội Tăng già Nguyên Thủy Việt Nam; từ năm 1981 mang tên Phật giáo Nam tông Kinh, để phân biệt với Phật giáo Nam tông Khmer.

Trải qua quá trình 80 năm hoạt động, PGNT đã được các vị Hòa thượng, Thượng tọa tiếp nối, phát triển: HT. Hộ Tông (1893 – 1981); HT. Thiện Luật (1898 – 1969); HT. Giới Nghiêm; HT. Bửu Chơn (1911 – 1979); HT. Ấn Lâm; HT. Tối Thắng; HT. Siêu Việt; TT. Kim Quang; Pháp Tri; Pháp Siêu; Thiện Căn; Thiện Dũng; Giác Minh; Thiện Tâm; Viên Minh; cư sĩ Nguyễn Văn Hiểu (1896 – 1979)…

Theo thống kê năm 1980, PGNT có 200 Tăng sĩ trên toàn quốc, đến năm 2015 phát triển lên đến 824 vị. Khu vực tập trung đông nhất là TP.Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu và Huế.

Về cơ sở thờ tự, sau lễ lạc thành chùa Bửu Quang vào năm 1939, ngôi chùa Kỳ Viên (nay thuộc quận 3 TP.HCM) cũng được xây dựng vào năm 1950. Đây là trụ sở Trung ương của Giáo hội Tăng già Nguyên Thủy Việt Nam từ năm 1957 và của Tổng hội Cư sĩ. Hiện nay đã có 106 cơ sở Phật giáo Nam tông Kinh trong toàn quốc, bao gồm chùa và các Thiền viện… Toàn khu vực phía Bắc chỉ có 5 chùa: Chùa Nội Phật (TP. Hà Nội); Thiền viện Tâm Pháp (tỉnhVĩnh Phúc); chùa Đức Hòa (Sóc Sơn – Hà Nội); chùa Khmer (Sơn Tây); chùa Hộ Pháp (tỉnh Bắc Ninh)”.

Về giáo dục, ngôi chùa Bửu Quang, từ ngày thành lập đã mở trường học đào tạo cho các sa di, mở lớp cho Phật tử nghiên cứu Phật pháp và thực hành theo Pháp môn truyền thống. Những khóa Thiền do các Hòa thượng thay nhau phụ trách đã giúp các hành giả, đa số là công chức có việc làm khá bận rộn, căng thẳng trong ngày, nhờ hành thiền mà tâm trí họ được an lạc, thanh thản. Thậm chí cả nhà sư theo Phật giáo Bắc tông như HT. Giới Nghiêm, mà vào năm 1940 cũng chuyển sang hành trì theo Phật giáo Nam tông. Hiện nay, ngoài các Trường Trung cấp, Cao đẳng, Học viện Phật giáo, đào tạo Tăng Ni các cấp, PGNT còn mở thêm các lớp chuyên tu đào tạo Sa di và Tỳ kheo tại các chùa Siêu Lý, Bửu Long, Thiền Quang I, Thiền viện Phước Sơn…

Nghi thức thờ tự của Phật giáo Nam tông đơn giản, chỉ thờ duy nhất Phật Thích Ca, trong khi Phật giáo Bắc tông thờ cả Phật, Bồ tát và các thần, thánh. Tuy nhiên, có khác với Phật giáo Nam tông Khmer ở chỗ cùng thờ Phật Thích Ca, nhưng Phật giáo Nam tông Khmer lại đặt thờ trên chính điện khá nhiều tượng, có chùa đặt hàng trăm pho tượng như ở chùa Samrong Ek (Trà Vinh) hay chùa Khleang (Sóc Trăng)…

Khi hành lễ, PGNT thường tụng kinh song ngữ: Pali – Việt. Trong nghi thức cúng, không sử dụng chuông, trống, lễ nhạc, tán tụng… Chư Tăng Nam tông chỉ dùng ngọ (ngày ăn một lần vào buổi trưa) và không ăn chay, mà được phép dùng mặn, theo luật tam tịnh nhục.
Về hoạt động từ thiện – xã hội, đối với hệ phái Nam tông, phương pháp tu tập chú trọng chính vào việc giữ gìn Giới luật và hành thiền. Tuy vậy, hệ phái này cũng có nhiều hoạt động đóng góp vào xã hội như giúp đỡ người neo đơn, cứu trợ người bị bão lụt; lập Tuệ Tĩnh đường để bắt mạch, hốt thuốc trị bệnh… Tại Huế, TT. Tuệ Tâm, phụ trách Tuệ Tĩnh đường Diệu Đế, đã phát thuốc và giúp đỡ người neo đơn, già yếu… ở địa phương. Những đợt thiên tai, bão lụt, các TT. Viên Minh, Giới Đức, Pháp Tông đã kêu gọi Phật tử trong và ngoài nước cứu trợ kịp thời cho những gia đình gặp nạn.

Việc xây dựng Thích ca Phật đài ở Vũng Tàu, không chỉ là đơn thuần tính chất tôn giáo, tín ngưỡng, mà còn nhằm tập hợp lực lượng, thống nhất các hệ phái Phật giáo ở Việt Nam để tiến đến cao trào đấu tranh đòi tự do tín ngưỡng, bình đẵng tôn giáo trong năm 1963.
Năm 1979, khi bọn diệt chủng Khmer Đỏ tàn sát nhiều sư sãi và bắt hoàn tục, Nhà nước và Ban Tôn giáo Việt Nam đã cử phái đoàn Tăng già Việt Nam, theo lời mời của Ban Tôn giáo và Chính phủ Campuchia, đã phục hồi Tăng tướng cho sư sãi Campuchia. Mặc dù đây là nghi thức tôn giáo nhưng có ảnh hưởng lớn vào xã hội.

Về việc thọ giới cho Tăng sĩ và tu nữ, như đã biết, hiện nay đối với một Tăng sĩ, Tỳ kheo xuất gia phải thọ 227 Giới luật; còn đối với người nữ xuất gia thì không có Tỳ kheo ni, chỉ có tu nữ. Tu nữ được xem là một Chúng trong tứ chúng (Tỳ kheo; Tỳ kheo ni; ưu bà tắc/cư sĩ nam; ưu bà di/cư sĩ nữ). Từ thời Đức Phật còn tại thế, Đức thánh mẫu Kiều Đàm Di (Mahapajapati Gotami) và 500 người nữ trong hoàng tộc đã chấp nhận giới pháp của Đức Phật chế định, đó là xuất gia, thọ Tỳ kheo ni và tuân thủ Bát Kỉnh Pháp. Ni đoàn này tồn tại đến năm 1017 sau Tây lịch. “Chứng tích cuối cùng về sự tồn tại của Hội chúng ni Nguyên Thủy trong một đất nước theo truyền thống Phật giáo Theravada được ghi nhận ở Sri Lanka là vào thế kỷ XI”. Lý do đứt quãng là do đất nước Sri lanka bị Bồ Đào Nha và Hà Lan với chính sách xóa bỏ Phật giáo. Phật giáo Myanmar đến để phục hồi lại Tăng đoàn, nhưng Ni đoàn thì không. Nguyên nhân Ni đoàn chưa được phục hồi là do quy định về việc truyền và thọ giới rất nghiêm ngặt… Như vậy, vào thời điểm ấy không khôi phục lại Ni đoàn là do quý Ngài làm đúng theo tinh thần Giới luật của PGNT. Tuy nhiên, hiện nay chúng ta vẫn thấy có các vị Tỳ kheo ni ở một số nước (Sri lanka, Myanmar…) và cả ở Việt Nam. Kể từ năm 1998, tại Sri Lanka, hàng năm đều có tổ chức lễ truyền giới Tỳ kheo ni. Riêng tại Việt Nam, vào năm 2002, đã có 4 vị Tỳ kheo ni đầu tiên trong Phật giáo Nam tông Kinh. Bốn vị này đã sang Sri Lanka thọ giới, đó là Tỳ kheo Ni Liễu Pháp, pháp danh Viditadhamma; Như Liên, pháp danh Susanta; Tịnh Nguyện, pháp danh Dhammananda và Huệ Minh, pháp danh Pannabhasa. Các vị này đều thành đạt, có vị đạt học vị Tiến sĩ như cô Liễu Pháp. Hiện đã có 24 vị Tỳ kheo ni trong Phật giáo Nam tông Kinh ở Việt Nam, nhưng cho đến nay các vị này vẫn chưa được Giáo hội Phật giáo Việt Nam công nhận giáo phẩm này. Riêng tu nữ, đã có 700 vị trong cả nước.

Đặc điểm của Phật giáo Theravada ở Việt Nam

3.1 Tính linh hoạt

Chính thức hoạt động ở Việt Nam đã 80 năm, Phật giáo Nguyên Thủy Theravada, và sau này là Phật giáo Nam tông Kinh, đã góp phần mang lại cho Phật giáo Việt Nam một nền văn hóa Phật giáo phong phú và đa dạng. Nếu như số đông các nước thuộc khu vực Đông Nam Á như Sri Lanka, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia theo truyền thống PGNT, vốn nằm trong khu vực phát sinh Phật giáo Theravada và đã trở thành quốc giáo tại các quốc gia đó, thì trái lại Việt Nam đón nhận cả hai tông phái, có cả Bắc tông và Nam tông. Trong Phật giáo Nam tông, lại có hai nhóm tộc người là Việt và Khmer theo đạo. Chính từ điều kiện đặc thù này, đã mang lại cho tu sĩ Phật giáo Việt Nam nói chung một cái nhìn toàn diện hơn về tư tưởng của Phật Đà. Cũng xuất phát từ cơ sở này, đã tạo cho tu sĩ Phật giáo Việt Nam có cách nhìn thông thoáng, dễ hòa nhập, không câu nệ, không chấp tướng, để từ đó có thể thể hiện được tính linh hoạt trong mọi hoạt động, cả đạo lẫn đời. Điều này cũng đã góp phần giải thích vì sao trong điều kiện một số nước thuộc khu vực Đông Nam Á hiện vẫn còn chấp chặt vào những điều luật đã quy định, đặc biệt là về việc không truyền giới Tỳ kheo ni, thì một số tu nữ ở Việt Nam đã sang Sri Lanka để thọ đại giới này.

3.2 Tính nhập thế

Là thành viên trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam, vốn hoạt động theo phương châm: “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa Xã hội”, các vị lãnh đạo Phật giáo Nam tông Kinh đã phát huy tinh thần nhập thế, đồng hành cùng dân tộc trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước, được thể hiện qua hoạt động đối nội và đối ngoại.

Về đối nội, nhiều hoạt đồng từ thiện của chư Tăng, tu nữ và của Phật tử tham gia vào các việc công ích xã hội đã chứng tỏ điều đó. Về đối ngoại, vốn ý thức được xu thế phát triển hiện nay là hội nhập và toàn cầu hóa, các vị lãnh đạo hệ phái đã mở rộng quan hệ hợp tác với các nước có truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy như Mỹ, Phần Lan, Úc, Ấn Độ, đặc biệt là trong khu vực Đông Nam Á. Hòa thượng Thiện Tâm hiện là Trưởng ban Phật giáo Quốc tế GHPGVN TP. Hồ Chí Minh. Điều này đã góp phần lớn vào công tác đối ngoại và giao lưu văn hóa Phật giáo. Ngôi chùa Bửu Long (quận 9, TP.HCM), hiện được xem như ngôi Tổ đình của hệ phái, đã được xây dựng lại theo kiến trúc chùa tháp Thái Lan, đã góp phần thể hiện tính đa dạng, phong phú và đã thể hiện rõ mối quan hệ giao lưu văn hóa đậm nét của Phật giáo Nam tông Kinh với Phật giáo trong khu vực.

3.3 Vai trò của Phật giáo Nam tông Kinh trong GHPGVN

So với Phật giáo tại các nước theo Bắc tông hay Nam tông, Phật giáo Nam tông Kinh ở Việt Nam vẫn góp vai trò quan trọng làm nên tính đặc thù của Phật giáo Việt Nam. Kinh điển của cả Bắc và Nam truyền đã được dịch sang Việt ngữ và phổ biến rộng trong nước cũng như cho kiều bào hải ngoại. Những hoạt động đạo và đời của các Tăng sĩ, tu nữ thuộc hệ phái đã góp phần minh chứng cho tư tưởng nhập thế tích cực của Phật giáo. Việc thực hành Thiền Minh Sát Tuệ (Vipassana) đã giúp hành giả thấy rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa thân và tâm, đã đem lại hiệu quả là sự an lạc ngay trong cuộc sống hiện tại.

Kết luận

Qua phần trình bày khái quát về Phật giáo Nam tông của người Kinh ở Việt Nam, trong thời gian phát triển gần một thế kỷ qua, đã cho thấy nét đặc thù và những đóng góp của hệ phái vào dòng chảy của văn hóa Phật giáo Việt Nam. Tuy nhiên, qua đó cũng giúp Giáo hội cần quan tâm hơn đến một số lĩnh vực, đặc biệt là việc thọ đại giới cho các tu nữ. Nếu như tính chất linh hoạt vốn đã có và được các vị tôn túc trong hệ phái vận dụng nhiều năm qua nhằm đem lại sự phát triển, thì nay càng cần thiết quan tâm hơn đến việc tạo điều kiện cho các tu nữ được thọ đại giới và công nhận giáo phẩm cho các vị này. Việc làm này không những chỉ mang lại sức mạnh hành đạo cho một Ni đoàn, tạo điều kiện thuận lợi hơn trong hoằng pháp, mà còn thể hiện được tính “tùy duyên, bất biến” của Phật giáo, vì khi đi vào bất cứ một quốc gia nào, đạo Phật chỉ nhằm một mục tiêu tối hậu là mang lại niềm an vui, hạnh phúc cho con người và vì con người mà hành đạo.


  1. Từ điển minh triết phương Đông, 1997, Lê Diên dịch từ Dictionnaire de la sagesse orientale. NXB. KHXH, Hà Nội, tr.734.
  2. Thích Thiện Ngộ, 2016, Tìm hiểu về danh xưng “Phật giáo Nam tông” trong hệ thống Phật giáo Việt Nam, Văn hóa Phật giáo số 254, ngày 01/8/2016.
  3. Pascal Bourdeaux, 2007, vào khoảng thời gian Đại đức Hộ Tông còn mang tên Lê Văn Giảng, Tìm hiểu việc thành lập Phật giáo Theravada Việt Nam qua tiểu sử Lê Văn Giảng (Giai đoạn 1883 – 1940), Tạp chí Khoa học Xã hội số 2/2007, tr.55.
  4. Như Nguyễn An Ninh, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh…
  5. Pascal Bourdeaux, 2007, tư liệu đã dẫn, tr.55.
  6. Theo hồ sơ Lưu trữ của Trung tâm Lưu trữ Campuchia
  7. Theo P.Bourdaux, năm 1936 chùa được đổi tên là Rattanaram hay Ratana Ramsyaràmà.
  8. Pascal Bourdeaux, 2007, tư liệu đã dẫn, tr.59
  9. Bửu Chánh, 1991, Một vài nét về Phật giáo Nam tông Việt Nam, Tập Văn số 21, 1991, Ban Văn hóa Trung ương GHPGVN xuất bản, tr.82.
  10. Bửu Chánh, 1991, Một vài nét về Phật giáo Nam tông Việt Nam, Tập Văn số 21, 1991, Ban Văn hóa Trung ương GHPGVN xuất bản, tr.82.
  11. Pascal Bourdeaux, 2007, tư liệu đã dẫn, tr.60.
  12. Báo cáo tổng kết công tác Phật sự năm 2015 của Trung ương GHPGVN.
  13. Thích Thiện Ngộ, 2016, Tìm hiểu về danh xưng “Phật giáo Nam tông” trong hệ thống Phật giáo Việt Nam, Văn hóa Phật giáo số 254.
  14. Tam tịnh nhục có nghĩa là thực phẩm mặn phải hợp thời, không thấy, không nghi và không nghe sinh vật bị giết vì mình. Luật tam tịnh nhục được ghi chép trong Luật tạng Nam tông.
  15. Thiện Hậu, 2017, Phật giáo Nam tông Kinh Việt Nam (1938 – 1963) NXB. Hồng Đức, tr.106.
  16. Thiện Minh (Nguyễn Văn Sáu), Phật giáo Nam tông xứ Huế, Bản thảo, tr.41 – 42.
  17. Muốn trở thành tu nữ phải có thời gian 3 tháng ở trong chùa dưới sự chấp thuận của chư Tăng, và được sự hướng dẫn của một tu nữ trưởng về Kinh Luật, oai nghi, nội quy sinh hoạt cho nữ cư sĩ sẽ xuất gia. Sau khi xuất gia trở thành tu nữ thì thọ 10 giới cấm.
  18. Bát Kỉnh Pháp gồm các pháp sau: Bát Kỉnh Pháp gồm các pháp sau:- Tỳ kheo ni đủ 100 tuổi hạ cũng phải đảnh lễ một vị Tăng vừa mới thọ giới một ngày.- Tỳ kheo ni không được an cư ở một trú xứ không có chư Tăng.- Chư Tỳ kheo ni nên cầu xin ngày nào là ngày bố tát và cầu giáo giới từ chư Tăng trong mỗi nửa tháng- Sau mùa an cư, chư Tỳ kheo ni phải đến cầu xin tự tứ (trình 3 việc thấy, nghe, nghi) với nhị bộ Tăng Ni.- Vị Ni phạm trọng tội phải đến trước nhị bộ Tăng Ni cầu xin hành pháp Ma – Na – đóa trong nửa tháng.- Thức – xoa – ma – na tuân giữ 6 giới trong 2 năm, muốn thọ giới Tỳ kheo ni phải đến trước nhị bộ Tăng Ni cầu xin.- Vị Ni không được phép chửi rủa hay sỉ vả vị Tăng trong bất cứ trường hợp nào.- Chư Ni không được phép quở trách chư Tăng. Chư Tăng được quyền quở trách chư Ni.
  19. Bodhi (Pháp Hỷ Dhammananda dịch), 2010, Sự phục hồi của chúng Tỳ kheo ni trong truyền thống Nguyên Thủy, NXB. Tôn giáo, tr.5.
  20. Số liệu do Thiền viện Viên Không (Ni) cung cấp tháng 8/2018.

Nhiều tác giả, 2016, Nữ giới Phật giáo Việt Nam: Truyền thống và hiện đại. NXB Đại học Quốc gia TP.HCM, tr.11


Tài liệu tham khảo
1. Báo cáo tổng kết công tác Phật sự năm 2015 của Trung ương GHPGVN.
2. Bửu Chánh, 1991, Một vài nét về Phật giáo Nam tông Việt Nam, Tập văn số 21, 1991, Ban Văn hóa Trung ương GHPGVN xuất bản.
3. Bodhi, 2010, Sự phục hồi của chúng Tỳ kheo ni trong truyền thống Nguyên Thủy, Pháp Hỷ Dhammananda dịch, NXB. Tôn giáo, Hà Nội.
4. Thiện Hậu, 2017, Phật giáo Nam tông Kinh Việt Nam (1938 – 1963), NXB. Hồng Đức.
5. Thiện Minh (Nguyễn Văn Sáu), Phật giáo Nam tông xứ Huế, Bản thảo.
6. Thích Thiện Ngộ, 2016, Tìm hiểu về danh xưng “Phật giáo Nam tông” trong hệ thống Phật giáo Việt Nam, Văn hóa Phật giáo số 254.
7. Nhiều tác giả, 2016, Nữ giới Phật giáo Việt Nam: Truyền thống và hiện đại, NXB. Đại học Quốc gia TP.HCM.
8. Pascal Bourdeaux, 2007, Vào khoảng thời gian đại đức Hộ Tông còn mang tên Lê Văn Giảng, Tìm hiểu việc thành lập Phật giáo Theravada Việt Nam qua tiểu sử Lê Văn Giảng (giai đoạn 1883 – 1940), Tạp chí Khoa học Xã hội số 2/2007.
9. Trần Tưởng Thúc, 2017, Phật giáo Nam tông Việt Nam: Du nhập và phát triển, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM.
10. Từ điển minh triết phương Đông, 1997, Lê Diên dịch từ Dictionnaire de la sagesse orientale, NXB. KHXH, Hà Nội.

PGS.TS. Trần Hồng Liên

Tin khác

Cùng chuyên mục

error: Nội dung được bảo mật !!