Thứ Hai, 10 Tháng Sáu 2024
Chưa được phân loạiPhật giáo người hoa Tại TP. Hồ Chí Minh在胡志明市之华人佛教

Phật giáo người hoa Tại TP. Hồ Chí Minh在胡志明市之华人佛教

Từng là một thị trấn sầm uất, tập trung đông đảo cộng đồng người Hoa sinh sống, khu “phố người Hoa” nằm trên rạch Bến Nghé (nay là kênh Tàu Hủ) ra đời cùng lúc với Bến Nghé vào đầu thế kỷ XVII. Gần 400 năm qua, nhiều thế hệ người Hoa đã tạo dựng một cơ ngơi đáng tự hào của họ tại TP.Hồ Chí Minh, trong đó kiến trúc chùa chiền, tín ngưỡng đặc thù của Phật giáo người Hoa đã hòa nhập sinh động vào bản sắc văn hóa độc đáo của Việt Nam…

Quá trình du nhập của người Hoa vào Việt Nam

Vào cuối thế kỷ XVII, nhiều nhóm di dân người Trung Hoa từ phía Nam Trung Quốc và miền duyên hải, được nhà nước phong kiến Việt Nam thời bấy giờ cho phép định cư tại miền Nam Việt Nam, trong đó phần đông là tại Sài Gòn-Gia Định. Theo Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức cũng như theo lời kể của nhà văn Sơn Nam thì: “Cách phía Nam trấn 12 dặm, đường hai bên tả hữu quan lộ, ấy là đường phố lớn thẳng suốt ba đường giáp đến bến sông. Các đường ấy xuyên giáp nhau như hình chữ điền, phố xá liên tiếp sát nhau kéo dài ba dặm, người Tàu và người Việt ở chung… Đầu phía Bắc đường lớn có chùa Quan Thánh và ba hội quán: Phúc Châu, Quảng Đông và Triều Châu chia đứng hai bên tả hữu, phía Tây đường lớn là chùa Bà Thiên Hậu và hội quán Ông Lăng…”.

Nói đến người Hoa, ai cũng xác định được bởi những phong tục tập quán khác với người Việt. Nhưng ít ai biết hết được những thói quen hàng ngày cũng như tín ngưỡng của từng nhóm ngôn ngữ người Hoa tại TP.Hồ Chí Minh như: Phúc Kiến, Triều Châu, Quảng Đông, Hải Nam, Hẹ, Nùng… Từ đó xuất hiện những phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo của từng nhóm ngôn ngữ trên cũng khác nhau. Hầu hết, di dân người Hoa theo đạo Phật và tín ngưỡng dân gian chiếm đại đa số. Những ngôi chùa của người Hoa ban đầu quy tụ tại khu vực Chợ Lớn (nay bao gồm các quận 6, quận 11 và quận 5) do hội Ngũ Ban (5 nhóm ngôn ngữ người Hoa) xây dựng nên như: chùa Ông Nghĩa An, chùa Bà Tuệ Thành, chùa Ông Bổn, Quan Âm miếu… Đây là những nơi sinh hoạt tín ngưỡng, hội họp của người Hoa mới đến Việt Nam. Họ sống đoàn kết với nhau trong đoàn thể dưới hình thức Hội quán, Hội Tương tế, giúp đỡ lẫn nhau khi gặp khó khăn. Và, những ngôi chùa nêu trên cũng là nơi dừng chân cư trú của các vị Tăng sĩ người Hoa di cư theo dân chúng, để rồi sau này các vị đã mở mang tạo dựng các ngôi chùa mang nét thuần túy Phật giáo, đặt nền tảng cho Phật giáo người Hoa ở Việt Nam ngày nay.

Sự hình thành và phát triển của Phật giáo người Hoa

Vào những năm 1930, số người Hoa theo đạo Phật, sống và sinh hoạt theo từng chùa, từng nhóm chưa có tổ chức giáo hội; các chùa thời bấy giờ là các hội quán của người Hoa, chưa có ngôi chùa Phật giáo. Đến năm 1945, Hòa thượng (HT) Thống Lương và HT. Thanh Thuyền vận động xây dựng chùa Phổ Đà Sơn (quận 6),đây là ngôi chùa Phật giáo đầu tiên của nhóm người Hoa di dân vào Việt Nam. Những năm sau đó, các vị Tăng sĩ ở Trung Hoa đã lần lượt sang Việt Nam và bắt đầu xây dựng các ngôi chùa Hoa tại Sài Gòn-Chợ Lớn như: chùa Quan Âm, chùa Từ Ân (quận 11), chùa Hoa Nghiêm (quận Bình Thạnh), chùa Vạn Phật (quận 5), chùa Thảo Đường (quận 6)… Tuy đã hình thành nhưng các chùa Hoa thời bấy giờ vẫn sống và tu học theo từng chùa, từng nhóm, chưa có một tổ chức Phật giáo nào của người Hoa. Cho đến năm 1958, HT. Siêu Trần từ Đài Loan sang, ngài xét thấy cần có một tổ chức Giáo hội Phật giáo của người Hoa sống tại Việt Nam, để tạo điều kiện cho các chùa Hoa đoàn kết lại tu học. Nhằm đáp ứng sự mong mỏi của tín đồ Phật giáo người Hoa, HT. Siêu Trần vận động, kêu gọi các chùa Hoa và Tăng Ni Phật tử  thành lập Giáo hội Phật giáo người Hoa. Đến năm 1968, Ban Vận động thành lập Phật giáo Hoa Việt Nam ra đời do HT. Siêu Trần và HT. Thanh Thuyền đứng đầu. Nhưng mãi đến năm 1973, Đại hội Phật giáo Hoa tông mới chính thức thành lập, khi đó lấy tên là Giáo hội Phật giáo Hoa tông Việt Nam (GHPGHTVN) và bầu ra Ban Chấp hành Trung ương, trụ sở đặt tại quận 7 Sài Gòn (nay là quận 8).

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30-4-1975), HT. Siêu Trần và HT. Thanh Thuyền đi định cư ở nước ngoài. Lúc bấy giờ GHPGHTVN không có người đứng đầu, Ban Chấp hành GHPGHTVN thành lập Ban Vận động, đứng ra tổ chức Đại hội bất thường và suy tôn HT. Phước Quang, HT. Tăng Đức Bổn đứng ra lãnh đạo Phật giáo người Hoa. Trụ sở đặt tại quận 5, TP. Hồ Chí Minh.

Từ sau Đại hội GHPGHTVN, được bầu vào cơ quan lãnh đạo Giáo hội, HT. Phước Quang ra sức xây dựng trang nghiêm Giáo hội, vận động Tăng Ni, Phật tử người Hoa tham gia các phong trào cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy có những giai đoạn gặp nhiều khó khăn do nước nhà mới độc lập nhưng với tinh thần phụng sự đạo pháp và dân tộc, HT. Phước Quang đã nỗ lực xây dựng, củng cố nhân sự, gìn giữ Giáo hội, tạo dựng lòng tin vững chắc cho Tăng Ni, Phật tử, qua đó thể hiện uy tín và những đóng góp của GHPGHTVN ngày càng lớn mạnh. Mãi đến đầu thập niên 80, các hệ phái Phật giáo trong cả nước tổ chức vận động thống nhất Phật giáo, HT. Phước Quang cùng chư tôn đức lãnh đạo GHPGHTVN tham gia vận động Tăng Ni Phật tử người Hoa cùng nhau đoàn kết chung ngôi nhà Phật giáo. Tháng 11-1981, Hội nghị thống nhất Phật giáo cả nước được tổ chức tại chùa Quán Sứ, Hà Nội, Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) được thành lập, trong đó GHPGHTVN trước kia là một thành viên. Tại Đại hội, HT. Phước Quang được bầu làm Thành viên HĐCM GHPGVN. Năm 1982, Đại hội Phật giáo TP.HCM được tổ chức, thành lập Ban Trị sự Thành hội, HT. Phước Quang được cử làm Chánh đại diện Phật giáo quận 5 và là thành viên trong BTS THPG đặc trách Phật giáo người Hoa tại TP.HCM. Năm 1988, HT. Phước Quang viên tịch, Tăng Ni Phật tử người Hoa tổ chức cuộc họp tại chùa Vạn Phật, quận 5 và đề cử HT. Tăng Đức Bổn làm Trưởng đại diện Phật giáo người Hoa, sau đó THGP TP.Hồ Chí Minh cử HT. Tăng Đức Bổn làm Chánh đại diện Phật giáo quận 5, văn phòng đặt tại chùa Vạn Phật, quận 5.

Đến năm 1997, được sự tín nhiệm của Tăng Ni Phật tử người Hoa, TT. Thích Tôn Thật lên kế nhiệm HT. Tăng Đức Bổn, làm Trưởng đại diện Phật giáo người Hoa, và được THPG cử làm Chánh đại diện Phật giáo quận 5 cho đến ngày nay. Theo thống kê của Ban Đại diện Phật giáo quận 5 và hệ phái Hoa tông, trên cả nước hiện có hơn 60 ngôi chùa và tịnh xá của người Hoa, trong đó tại TP. Hồ Chí Minh có 49 ngôi chùa, phần lớn tập trung tại quận 5, quận 6 và quận 11. Tại Bà Rịa-Vũng Tàu có 6 ngôi chùa,  Đà Lạt có 3 ngôi chùa và các chi nhánh khác ở các tỉnh thuộc miền Tây Nam Bộ. Số lượng Tăng Ni xuất gia có hơn 100 vị, trong đó phần lớn tập trung tại TP. Hồ Chí Minh…

trải qua 25 năm kể từ khi ghpgvn được thành lập, phật giáo người hoa tại tp. hồ chí minh đã không ngừng phát huy truyền thống văn hóa, tín ngưỡng trong môi trường văn hóa dân tộc, luôn hoàn thành mọi công tác phật sự mà giáo hội giao phó. cho đến nay, hoạt động tín ngưỡng phật giáo của người hoa đang từng bước mở rộng mối quan hệ với tăng ni, phật tử người việt. công tác giảng dạy giáo lý phật pháp cũng được thực hiện đều khắp tại các chùa hoa ở tp. hcm. về hoạt động từ thiện xã hội (ttxh), có thể nói phật giáo người hoa hoạt động rất mạnh và rất hiệu quả trong lĩnh vực này. ngay từ buổi đầu khi còn là một tổ chức giáo hội hoạt động riêng biệt, phật giáo người hoa đã có những đóng góp to lớn trong các hoạt động ttxh, luôn quan tâm và giúp đỡ đồng bào trong cả nước khi gặp hoạn nạn, với phương châm “phụng sự chúng sanh là cúng dường chư phật”, được xem là kim chỉ nam trong công tác ttxh của phật giáo người hoa. tiếp nối truyền thống tốt đạo đẹp đời của chư tôn túc tiền nhiệm, ban đại diện phật giáo q.5 phối hợp với các chùa hoa tại tp.hcm đã tích cực tham gia các hoạt động ttxh. trong đó, nổi bật nhất là tịnh xá quan âm, chùa vạn phật, quận 5 và chùa thảo đường, quận 6. một trong những tấm gương tham gia tích cực trong hoạt động ttxh mà giáo hội và tăng ni phật tử trên cả nước biết đến là tt.thích tôn thật, chánh đại diện phật giáo quận 5, trưởng ban ttxh báo giác ngộ, thường kết hợp với thành hội pg tổ chức các đại lễ trai đàn quyên góp quỹ ttxh có hiệu quả xã hội cao.

Đối với người Hoa, vấn đề tín ngưỡng luôn được xem trọng, mang màu sắc đặc biệt và đa dạng. Các hình thức tín ngưỡng dân gian và tín ngưỡng  tôn giáo trong đời sống tinh thần người Hoa phần lớn tập trung ở các ngôi chùa của họ, nơi có đông người Hoa sinh sống. Nơi đây, hàng năm thường xuyên tổ chức các hoạt động tín ngưỡng và sinh hoạt văn hóa dân tộc.

Quan niệm về tín ngưỡng của người Hoa

Trong nhiều thế kỷ qua, ngôi chùa thờ Phật của cộng đồng người Hoa thường bị đồng hoá với miếu thờ các vị thần linh thuộc tín ngưỡng dân gian. Danh từ “chùa” bao gồm các cơ sở tín ngưỡng dân gian và cơ sở tôn giáo. Do đó, nhiều người dân đã quen gọi miếu thờ Bà Thiên Hậu, thờ Ông Quan Thánh là chùa Bà và chùa Ông. Theo nhà nghiên cứu Phan An thì: “Xét về mặt tôn giáo tín ngưỡng của chùa Hoa ở TP.HCM như Khánh Vân Nam viện, Chỉ Trúc Lâm là những ngôi chùa đơn thuần của Đạo giáo hoặc Phật giáo, còn đa số các chùa Hoa khác là một phức thể của tín ngưỡng dân gian và tín ngưỡng tôn giáo mà trong đó tín ngưỡng dân gian có phần vượt trội hơn…”. Có lẽ vì thế, cho dù là một Phật tử đã quy y ở các chùa Phật giáo, nhưng họ cũng đến các miếu thờ ông, thờ bà, thần thánh để cúng viếng, xem đó là một nhu cầu cần thiết trong cuộc sống của họ. Tuy nhiên, nhu cầu tín ngưỡng của người Hoa cũng được hệ thống hóa giữa thần linh và thánh nhân. Hệ thống tín ngưỡng thánh nhân bao gồm việc thờ cúng Quan Công, Bà Thiên Hậu, Quán Âm Bồ tát, Bổn Đẩu Công, còn tín ngưỡng thần linh bao gồm việc thờ Ngọc Hoàng, Phật Di Lặc, Thần Tài, Thổ Công… Đức Quán Thế Âm Bồ tát  mà người Hoa thường gọi là Phật Bà Quan Âm là biểu tượng của sự kết hợp giữa tôn giáo và tín ngưỡng của Phật giáo người Hoa. Đối với người Hoa, Phật Bà Quán Thế Âm là một phụ nữ có đức tính cao đẹp, vị cứu khổ cứu nạn, luôn làm phúc cho mọi người. Điều này định hướng cho sự giáo dục về mối quan hệ người với người, luôn mang lại điềm lành cho nhau, giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn để tìm về hạnh phúc an vui trong cuộc sống. Ngoài ra người Hoa còn có phong tục thờ cúng Ngọc Hoàng, với ý niệm mong cầu sự phù hộ bao trùm trên nhiều lĩnh vực cuộc sống. Thờ Phật Di Lặc cũng là một ý niệm mong cầu niềm vui, sự thăng hoa… Chính những phong tục thờ phụng ấy đã tạo ra màu sắc thiêng liêng của tín ngưỡng, làm tăng thêm ý chí trong cuộc sống thường ngày và là một tiềm năng về đức tin Phật giáo trong đời sống tinh thần của người Hoa.

Văn hóa kiến trúc và thờ tự

Đa số người Hoa có tín ngưỡng dân gian và theo đạo Phật nên ngôi chùa thường được xây dựng tại nơi có đông cư dân người Hoa sinh sống. Kiến trúc chùa Hoa thường khác so với chùa Việt. Màu đỏ hay màu hồng là màu chủ yếu của chùa Hoa. Mái thường lợp ngói xanh hai tầng với các đầu đao cong vút. Trang trí trên kiến trúc là các hình nhân, phong cảnh thiên nhiên, đó cũng là nét đặc trưng của chùa Hoa. Cổng tam quan cũng rất đa dạng, thường làm hai tầng mái, các đầu mái cong vút, trên có gắn phù điêu “lưỡng long triều nguyệt” hoặc tứ linh. Đặc biệt cũng có dạng trang trí nai, nghê đứng đối diện, giữa là bánh xe Pháp. Sân chùa thường đặt cặp lân chầu hầu ngay lối đi. Dù cho kiến trúc từng chùa có khác nhau, song những đặc điểm chủ yếu nêu trên chính là sự khác biệt giữa chùa Hoa và chùa Việt.

Về cách thờ tự, tuy chưa có quy cách chung trong việc bài trí nhưng mỗi ngôi chùa Hoa đều có nhiều điểm chung khá giống nhau. Chánh điện là nơi thờ Phật Thích Ca hay Phật A Di Đà, là nơi quan trọng nhất, nên thường được trang trí nhiều gam màu sặc sỡ. Nếu chùa xây cất nhiều tầng thì  chánh điện thờ Phật nằm trên tầng cao nhất, kế tiếp là điện thờ Quán Thế Âm Bồ tát và tầng cuối thờ Địa Tạng Vương Bồ tát. Bàn thờ Tổ được đặt sau lưng chánh điện thờ Phật. Các pho tượng thờ thường được trưng bày trong lồng kính lớn để bảo đảm tinh khiết, không bám bụi. Ngoài các tượng thờ Phật, Bồ tát như các chùa Phật giáo Bắc tông của người Việt, chùa Hoa cũng thờ hai vị Hộ pháp Vi Đà và Già Lam thánh chúng, và tại nhà trù (nhà bếp) ở các chùa Hoa thường thờ vị Khẩn Na La Vương Bồ tát. Theo Phật Quang đại từ điển, tại nhà trù ở các chùa Hoa khi xưa thường thờ vị Bồ tát Hồng Sơn Đại Thánh, nhưng từ đời Nguyên về sau, đại đa số chùa Hoa thờ Đại Thừa Khẩn Na La Vương Bồ tát, với ý niệm mong cầu được giám hộ. Một đặc điểm nữa ở các chùa Hoa là nơi thờ các vị cư sĩ có công lao đối với chùa, đó là Diên sanh đường. Gọi là Diên sanh đường vì đây là nơi chú nguyện hồi hướng phước báo cho các vị cư sĩ được sống lâu, khỏe mạnh và cũng mang ý nghĩa nhà chùa không quên công lao của các vị hộ đạo, vì Phật pháp mà góp công tạo dựng ngôi chùa. Đối với những Phật tử quá vãng, chùa Hoa thường đặt bài vị của họ nơi Công đức đường. Vào những ngày giỗ của người quá vãng hay những dịp Lễ Vu lan, Tết Nguyên đán…, thân nhân của người đã khuất đến Công đức đường thắp nhang, cúng viếng tưởng niệm.

Cũng theo phong tục tín ngưỡng tôn giáo như các chùa Việt, chùa Hoa thường tổ chức các ngày lễ lớn trong năm như: Lễ hội Tết Nguyên tiêu (rằm tháng Giêng), vào những ngày này các chùa Hoa thường tổ chức  lạy Tam thiên Phật sám (sám 3.000 vị Phật của ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai) với ý nguyện cầu cho quốc thái dân an, nhân dân lạc nghiệp, phước đức tròn đầy cho một năm. Lễ hội Rằm tháng Tư, tức Lễ Phật đản, các chùa Hoa tổ chức sám Vạn Phật (sám mười ngàn vị Phật trong Phật Danh kinh), được tổ chức tùy theo từng chùa, thường kéo dài từ 7 đến 10 ngày. Lễ hội Vu lan – rằm tháng 7, cũng gọi là Trung ngươn là một lễ hội có ảnh hưởng rất quan trọng trong cộng đồng Phật giáo người Hoa. Lễ hội thu hút rất nhiều người đến tham dự tại các chùa Hoa. Đây là dịp để họ tưởng nhớ đến những người đã khuất, cho dù không có thân nhân cúng viếng, những người hoạn nạn và chăm sóc giúp đỡ những người đang gặp khó khăn trong cuộc sống… Vào dịp tháng 10 âm lịch gọi là lễ Hạ ngươn, các chùa Hoa tổ chức lễ sám Lương Hoàng, lạy Thủy Sám, với ý niệm cầu mong sám hối hết tội lỗi nghiệp chướng. Ngoài các ngày lễ lớn trong năm, chùa Hoa còn tổ chức các ngày vía Phật, Bồ tát và các vị thánh nhân, thần linh mà họ đang thờ phụng.

Trải qua nhiều thế kỷ tồn tại và phát triển, cộng đồng người Hoa tại TP.HCM đã trở thành một bộ phận của cư dân thành phố. Quan niệm “Quê hương cha là Trung Quốc, quê hương mẹ là Việt Nam”  đã nói lên tinh thần dân tộc của người Hoa gắn bó với quê hương thứ hai của mình. Chính vì thế, sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo và văn hóa dân tộc của người Hoa ở Việt Nam không hoàn toàn là dấu ấn đặc thù của văn hóa Trung Quốc. Phật giáo người Hoa do vậy, dù vẫn mang nét truyền thống do chư Tổ bản địa truyền thừa nhưng đã hòa nhập vào hoạt động tín ngưỡng của người Việt, tích cực tham gia các hoạt động xã hội từ thiện và các công tác do GHPGVN đề xuất. Phật giáo người Hoa đã và đang là một nhân tố ổn định trong cộng đồng Phật giáo Việt Nam nói riêng, và văn hóa-tín ngưỡng của người Hoa tại TP.HCM trên thực tế là một trong những bộ phận văn hóa quan trọng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

曾经是一个繁荣之市镇 ,集中许多华人聚居之地方,在𤅶犧澤(今天的豆腐泾) “华人区”在十七世纪 形成 ,历经将近400年 ,他们已在胡志明市创下值得自豪属于自己的事业王国 , 其中包括寺院,富有华人特色宗教信仰场所与当地越南文化溶为一体 。

华人 融入越南过程

十七世纪末 , 中国南方沿海一带许多人群移民到越南来 , 获当时越南封建王朝允许在越南南部定居 , 其中大多数是在西贡-嘉定 。据郑怀德所著之“嘉定城通志”以及山南作家所说“离南方镇12里 ,官道两边 ,那是直通至港口的大道 ,这些街道纵横穿梭如田字形 ,房屋链接又三里远 ,越华居民同居, 在大道北端有关帝庙及三间会馆,福州 ,广东和潮州分别立左右两旁  ;大道西端是天后庙与温陵会馆 。”

提到华人,谁都了解到许多与越南人之风俗习惯的差异 ,但又有谁明确了解到,福建  ,潮州  ,广东  ,海南 ,客家五班,形成了不同之习俗。总句来说 ,从中国到来之移民大部分信仰佛教或民间信仰 。起初的华人寺庙都集中在堤岸区(今天的第五  ,六 ,十一郡地区)由五个班会(华人五个语系)兴建而成如:义安关帝庙 ,惠城天后庙 ,本头公庙 ,观音庙…这正是华人初到越南在日常生活中之信仰 ,商讨班内诸事所在, 称为会馆 ,相济会。班内有人遇到困难都绝不言不的出手相助 。在以上所提及之庙宇 ,也是初期移民来越之僧人的住所 ,以此为今天建设许多带有华人色彩之庙宇殿下永固根基

华人佛教形成与发展

在1930年代 ,信仰佛教之华人 , 固定在一个地方进行信仰聚会 ,还没有教会组织 ,所谓庙宇正是以上所提之会馆 ,还没有任何佛教庙宇 ,直至1945年代 ,统良法师以及清泉法师募捐在今天的第六郡区域兴建普陀山寺 ,这是从中国移民到越南之第一间华人庙宇 , 之后 ,从中国许多僧人也开始到越南来,在西贡,堤岸地区兴建了许多华人庙宇  ,如第十一郡之观音寺 ,慈恩寺 ;平盛郡之华严寺 ,第五郡之万佛寺 ,  第六郡草堂禅寺。。。虽已形成但每间寺院之间缺乏联系 ,还未有任何一个佛教教会组织 ,直至1958年 ,从台湾来的超尘法师 ,认为在越南应有一个佛教教会组织 ,促进华人各庙宇团结修习 。满足华人佛教信徒之心愿 ,超尘法师站出来呼吁各华人庙宇,僧尼,佛子成立华人佛教教会 。至1968年 ,华人佛教教会成立筹办委会超尘法师与清泉法师带领得到成立。但一直到1973年 ,华宗佛教大会才正式召开 ,那时取名为越南华宗佛教教会及选出中央执委会 ,会址设在西贡第七郡(今第八郡)。

南方解放后(1975年4月30日)超尘与清泉两位法师移居海外 ,这时华宗佛教没有领导人 ,教会执委便筹备举行非正式大会及推选出福光法师 ,曾德本法师任华人佛教领导 。会址设在胡志明市第五郡。

从此之后,获选为佛教委会执委 ,福光法师将庄严教会事务鞠躬尽瘁 ,呼吁华宗僧尼 , 佛子共同参加建设祖国伟大事业 。虽在国家刚获得独立时期里,遇到种种困难 ,但在持奉道法精神鞭策下 ,努力建设 ,巩固人事 ,保护教会 ,给僧尼,佛子建立信心 。直到80年代 ,全国佛教各宗派提议统一各派别 , 福光法师再次带领华宗佛教僧尼加入越南佛教教会大家庭 ,1981年11月 , 在河内馆使寺召开全国统一佛教大会 ,越南佛教委会面世 ,其中华宗佛教便是一个成员。大会上,福光法师被推选为越南佛教委会证明委会成员 ,1982 年 ,胡志明市佛教大会得到召开 ,胡志明市佛教执委会获得成立,福光法师被委任第五郡佛教执委, 同时是市佛教执委专责华人佛教,1988年 ,福光法师圆寂 ,华宗僧尼佛子在第五郡万佛寺召开会议 ,推选曽德本法师任华人佛教代表 ,然后市佛教委会委任曽德本法师任第五郡佛教执委 ,会址设在第五郡万佛寺 。

到1997年 ,得到华人僧尼佛子之信任 ,释宗实上座继任为华宗佛教代表 ,得到市佛教执委委任为第五郡佛教执委直到今天。据第五郡佛教委会与华宗佛教之统计 ,全国有60多间华人寺院精舍 ,其中胡志明市占49间 ,大部分集中在第五 ,六 ,十一郡 。巴地- 头顿省有6间 ,大勒市有3 间 ,其余分布在南部西区各省 。出家僧尼数量100多位  ,其中大部分集中在胡志明市 。

自越南佛教委会得以成至今已25年历史 ,胡志明市华人佛教在民族信仰中 ,不断发挥传统文化,同时完成教会所交付之任务 。至今 ,华宗各僧尼正大力推动与越南僧尼佛子交流工作 ,教义教育工作也得到胡志明市各寺院轮流举行 ,还有社会慈善工作 ,可以说这是华宗的强项 ,从还没加入越南佛教教会大家庭时候 ,华宗佛教已在社会慈善工作作出巨大贡献 ,关心全国患难同胞 ,以“持奉众生即供养诸佛”为方针 ,是华人佛教在社会慈善工作之指南针 。继承诸位前任尊德美好传统 ,第五郡佛教委会常与各庙宇配合参加社会慈善工作 ,其中 ,最为闻名的是第五郡之观音精舍 ; 万佛寺以及第六郡之草堂禅寺 ,尤其是第五郡佛教执委 ,觉悟报社会慈善小组组长,释宗实法师 ,便是一位众所认识之慈善典范 ,常与市佛教执委举办一些万人缘超度祈安法会,获得重大之社会慈善效果 。

对于华人来说 ,信仰问题视为一项重要问题 ,富有多样化色彩 ,大部分之民间信仰与宗教信仰活动都在庙宇举行 ,每年按例进行。

华人之信仰观念

在过去许多世纪里 ,华人之供奉佛祖之寺庙常与民间信仰之神灵共同供奉。“庙宇”一词包括民间信仰以及佛教单位。因此 ,许多人已习惯这样称呼 ,如 天后庙 ,关帝庙。据潘英研究学者:“根据胡志明市华人宗教信仰 ,目前纯道教之道观只有庆云南院 ,纯佛教的庙宇可能只有紫竹林 ,而其他之庙宇可以说是民间信仰和佛教之复合建筑,但民间信仰比较占优势…”可能因此 ,尽管一位佛子已在佛寺皈依 ,但他们照样到供奉神灵宫殿参拜 ,视此为他们日常生活中的必需习惯 。虽然 , 华人信仰中观音神灵与圣人之间也有明确分别 。民间信仰供奉之圣人具有关帝 ,妈祖 ,观音菩萨 ,本头公 。还有供奉神灵具有玉皇 , 弥勒佛 ,财神 ,土地…观音菩萨华人畅贯称为观音妈是民间信仰与佛教信仰的沟通桥梁 。对于华人 ,观世音是一位有高贵品德之妇女 ,救苦救难 ,常给众生造福 ,是人与人日常交际 ,互相带来幸运 ,互相帮助度过难关的教育榜样 。除此之外,华人还有供奉玉皇之习俗 ,祈望在生活中得到全面的加护 ,供奉弥勒祈求快乐 。因此构造出信仰之神秘色彩 ,是华人日常生活的精神依靠。

建筑与供养文化

大部分华人都是民间信仰或佛教,因此多数庙宇都兴建在众多华人聚居的地方 ,华人建筑与越南人的建筑有所不同 ,华人庙宇的主导色彩为红色或粉红色 ,两层瓦片两边翘起形成刀状屋顶 ,加上泥塑人像 ,天然风景 ,这正是华人庙宇的特征 。山门也多姿多彩 ,通常是两层屋顶 ,上方崁有“双龙朝月”或四灵 。特别是以鹿 ,狻猊面对而立 ,中间是法轮 。广场上常有一对麒麟 。虽然每间庙宇都有不同之建筑 ,但以上所提及之这些特点正是华人庙宇与越南人庙宇的区别 。

供奉方式  ,虽没有正是规划但在华人庙宇中在供奉方面有许多共同点 ,大雄宝殿是供奉释迦佛祖或阿弥陀佛 ,是最重要的所在,装饰色彩缤纷 ,如果建有多层那大雄宝殿就设在最高那一层 ,接下是观音阁及最底层是地藏殿 ,祖师位与佛殿靠背 ,各尊神像供奉在大玻璃柜中以保清洁 ,避免污秽 。如同越南被宗寺庙, 除了供奉佛祖,菩萨之外 ,还有韦陀与珈蓝两位大护法 。还有大寮(厨房)常供奉紧罗那菩萨 。据佛光大字典 ,以前在华人庙宇之厨房常供奉洪山大圣菩萨 ,但从元朝起至今 ,多数华人庙宇改为供奉紧罗那菩萨 ,祈望得到监护 。另外一个特点是,“延生堂”供奉庙宇护法会成员先人灵位 ,称为延生堂 ,祈望先人功德回向在家居士能够长寿,及不忘先人开创之功劳 ,还有佛子之先人灵位 , 供奉在功德堂 ,每逢忌日或盂兰节 ,春节 , 亲人到此上香祭拜 。

也同于越南人庙宇之宗教习俗 ,每年都有重大的庙会如 :元宵节(正月十五), 这天各庙宇常举行三千佛懺 ,祈求国泰民安 ,安居乐业 ;四月十五(佛诞),举行万佛懺 ,长达七至十天 。盂兰节(七月十五)亦称中元节 ,在华人社群中有重大之影响 ,庙会吸引许多信众到庙宇参与 ,思念已故亲人 ,无论有还是没有亲人供奉在庙宇 ,也到庙宇参加布施救济贫苦人士。。。十月下元节 ,举行良皇懺 , 拜水懺 ,祈求下元水官排憂解難 ,除此之外 ,还举行他们庙宇所供奉之菩萨 ,圣人圣诞祭祀。

随着岁月的存在与发展 ,在胡志明市生活之华人已成为这城市不可缺少的一部分 。以“中国是父亲之家乡 ,而越南却是母亲的故乡”的观念 ,已告知我们华人对于这第二故乡的民族情怀 。正因此 ,在越南华人信仰不再是华人特殊映像 ,华人佛教因此 ,虽带有诸位祖先传承之传统但已深深与越南佛教大家庭融洽为一 ,积极参与越南佛教委会所提出之社会慈善工作 ,华宗佛教正是越南佛教大家庭的一份子。

 

 

 

Tin khác

Cùng chuyên mục