Thứ Bảy, 22 Tháng Một 2022
Phật học Nghiên cứu Phật giáo Hà Tiên dưới thời Mạc Cửu

Phật giáo Hà Tiên dưới thời Mạc Cửu

Tượng đài Mạc Cửu – Hà Tiên

 Hà Tiên là vùng đất đặc biệt từ địa lý, tên gọi cho đến sự hình thành và phát triển. Từ xa xưa vùng đất này đã trải qua nhiều biến đổi thăng trầm, do ảnh hưởng của địa lý tự nhiên cùng sự tác động của con người. Mãi đến khi Mạc Cửu trên đường lưu vong tìm đến định cư khai hoang lập ấp thì Hà Tiên mới dần phát triển trở thành một trong ba trung tâm văn hóa nổi tiếng của vùng đất phương Nam lúc bấy giờ, gồm: Cù Lao Phố, Mỹ Tho và Hà Tiên. Nhà Hà Tiên học Trương Minh Đạt đã nhận định “Hà Tiên có bề dày lịch sử và văn hóa mà không phải địa phương nào cũng có”1. Dòng họ Mạc là người có công rất lớn trong việc xây dựng vùng đất này, từ chỗ hoang sơ, hỗn tạp đến trung tâm kinh tế, văn hóa phồn thịnh trong khu vực. Với đặc điểm, tính chất đa dạng, phong phú của vùng đất Hà Tiên, đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu trên nhiều phương diện như kinh tế, văn hóa, địa lý, xã hội… trong đó có tín ngưỡng, tôn giáo mà nổi bật nhất là Phật giáo. Phật giáo Hà Tiên, về nguồn gốc du nhập cũng được một số sách sử ghi chép, tuy nhiên cũng có một số điểm cần được giải thích cụ thể hơn, có nhiều nhân vật và sự kiện lịch đại, đồng đại chúng ta cần ghi nhận, để thể hiện lòng tri ân của hàng hậu học đối với các bậc tiền bối hữu công. Phật giáo Hà Tiên trong quá trình phát triển đã có nhiều đóng góp cho đạo pháp, dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử. Nghiên cứu Phật giáo Hà Tiên dưới thời Mạc Cửu giúp ta hiểu thêm lịch sử Phật giáo ở vùng đất này, trên cơ sở đó kế thừa phát huy những giá trị tích cực và đưa ra những chính sách hoạch định để Phật giáo Hà Tiên ngày càng phát triển vững bền hơn.

Hà Tiên được xem là cửa ngõ tiếp nhận nhiều tôn giáo truyền vào như Công giáo, Minh sư đạo, Phật giáo… người đặt viên gạch đầu tiên xây nền móng cho ngôi nhà Phật giáo Hà Tiên chính là Tổng binh trấn Hà Tiên Mạc Cửu. Các bộ chính sử đều chép rằng: Mạc Cửu gốc xã Lê Quách, huyện Hải Khang, phủ Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông, vào thời Đại Thanh, niên hiệu Khang Hy thứ 19 (1680), nhà Minh mất hẳn, do không thuần phục nhà Thanh nên ông cùng đoàn tùy tùng bỏ xứ đến Chân Lạp được vua Chân Lạp tin dùng phong chức Ốc Nha. Sau đó, Mạc Cửu xin vua đến vùng Mang Khảm cho định cư khai phá và tập hợp lực lượng lưu dân khắp nơi về buôn bán “Mạc Cửu sang phương Nam thấy đất này có lái buôn các nước tụ tập, nhân đấy tụ tập dân xiêu tán đến ở các xứ Phú Quốc, Vũng Thơm, Rạch Giá, Cà Mau lập ra bảy xã, tự đứng cai quản. Tương truyền chỗ này thường có Tiên xuất hiện trên sông, do đấy gọi là Hà Tiên”2. Dưới sự quản lý của Mạc Cửu, trấn Hà Tiên dần phát triển và cũng chính vì thế, Hà Tiên thường xuyên bị giặc cướp quấy phá, nhiễu loạn, nhất là quân Xiêm. Theo Gia Định Thành thông chí, năm 1708, Mạc Cửu đã quyết định thuần phục chúa Nguyễn để nhận sự bảo hộ “Tháng 8 mùa thu năm thứ 18, Mậu Tý (1708) (Lê Dụ Tông niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 4, Đại Thanh Khang Hy thứ 47), triều đình phong cho người Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông là Mạc Cửu làm Thống binh Hà Tiên”3. Năm 1711, Mạc Cửu thân hành đến Huế yết kiến chúa Nguyễn Phúc Chu để tỏ lòng kính cẩn của bậc bề tôi, qua đó cũng khẳng định chủ quyền của Đại Việt đối với Hà Tiên. Khi về làm Tổng trấn, Mạc Cửu xây dựng thành quách, lập doanh liêu, phát triển giao thương buôn bán, trấn Hà Tiên trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa phát triển phồn thịnh hơn.
Một trong những dấu ấn đầu tiên Mạc Cửu làm cho Phật giáo đó là ông xây dựng chùa Tam Bảo cho mẹ tu hành. Theo sách Mạc Thị gia phả: “Sau khi Thái công (Mạc Cửu) sang Chân Lạp, Thái Bà Bà vì nhớ con da diết, bèn từ đất Lôi Châu vượt biển sang Chân Lạp để thăm. Thái công nhân đó giữ Bà Bà ở lại để sớm hôm phụng dưỡng. Ít lâu sau, Thái Bà Bà vào điện Tam Bảo để hành lễ, đang ngồi lễ Phật thì tự nhiên qua đời. Thái công bèn cho đúc tượng Thái Bà Bà và xây dựng điện Tam Bảo ở thờ pho tượng ấy đến nay vẫn còn.”4 Theo Gia Định Thành thông chí miêu tả về chùa Tam Bảo như sau: “Chùa Tam Bảo ở sau trấn thự, cảnh chùa rộng rãi, tượng Phật to lớn, chùa do Thống binh Mạc Cửu dựng lên từ buổi đầu.”5

Qua hai nguồn dữ liệu trên cho thấy được giá trị lịch sử hết sức đặc biệt của chùa Tam Bảo (Hà Tiên), là nơi phát tích Phật giáo Bắc truyền đầu tiên nơi vùng đất này. Việc Mạc Cửu xây chùa cho mẹ tu tập không những thể hiện tấm lòng hiếu thảo của mình đối với Thái Bà Bà, mà còn muốn định hướng đời sống tín ngưỡng Phật giáo cho cư dân nơi đây, ngoài xây chùa ông còn tạo tượng, đúc chuông để cho người dân có nơi chiêm bái, tu học. Khi Thái Bà Bà qua đời Mạc Cửu cho đúc kim thân của mẹ để thờ, đúc một Đại hồng chung để cúng và nghe tiếng chuông mà tưởng niệm mẹ. Trong Hà Tiên thập cảnh ngâm khúc của Mạc Thiên Tích, có bài Tiêu Tự thần chung là nói đến tiếng chuông chùa Tam Bảo này:

Tiêu Tự thần chung
Thần phong dao lạc lộ hoa phao
Thiều đệ cô thanh quá thụ sao
Kim thú hoa tàn tinh hải chử
Mộc kình đả lạc nguyệt thôn ao
Vạn gia tỉnh mộng Phật triều khuyết
Bát thủy khai nhan tăng hạ sào
Đãi khấu kham linh thiền diệc hữu
Bất minh, minh đắc thái dương giao.

Dịch nghĩa:

Rừng Thiền suýt soát án ngoài tào
Chuông gióng chùa Tiêu tiếng tiếng cao
Chày thỏ bạt vang muôn khóm sóng
Oai kình tan tác mấy cung sao
Não phiền kẻ nấu sôi như vạc
Trí tuệ người mài sắc tựa dao
Mờ mịt gẫm đường say mới tỉnh
Phù sanh trong một giấc chiêm bao.6

Tổng binh trấn Mạc Cửu còn cung thỉnh Hòa thượng Hoàng Long từ Bình Định vào Hà Tiên truyền đạo. Trong tác phẩm Thiền sư Việt Nam của HT. Thích Thanh Từ biên dịch, khi nói đến tiểu sử của Hòa thượng Hoàng Long ghi rằng: “Hòa thượng Hoàng Long quê ở Bình Định vân du vào Hà Tiên, đến ở phía Bắc núi Vân Sơn 5 dặm lập chùa tu hành (sau gọi là núi Bạch Tháp). Cảnh chùa thanh tịnh, u tịch, thế núi quanh co, có cây cảnh đẹp”.7 Trong sách Gia Định Thành thông chí phần chép về núi sông ở trấn Hà Tiên, khi viết về núi Bạch Tháp, An toàn hầu Trịnh Hoài Đức đã viết như sau: “Ở phía Bắc Vân Sơn năm dặm (núi Bạch Tháp) có thế núi quanh co, cây xanh tươi tốt, có thầy Tăng ở Qui Nhơn (Bình Định) là Đại Hòa thượng Hoàng Long đến lập chùa ở đấy. Đời vua Túc Tông Hiếu Minh hoàng đế năm thứ 13, là năm Đinh Tỵ (1737), Hòa thượng mất, đồ đệ của ông xây tháp bảy tầng để trân tàng cốt xá-lợi. Mỗi khi đến thời tiết Tam nguyên và Phật đản thì có con hạc đen đến chầu, con vượn xanh dâng cúng quả, lưu luyến bồi hồi như có ý muốn tham Thiền thính pháp; đáng gọi là nơi tịnh độ tiêu dao vậy.”8 Như vậy, chùa núi Bạch Tháp cũng được xem là nơi phát tích thứ hai của Phật giáo Hà Tiên nhưng rất tiếc là di tích Chùa núi Bạch Tháp hiện nay không còn. Hòa thượng Hoàng Long được xem như Sơ tổ của vùng đất Hà Tiên, có một chi tiết mà chúng ta cần làm rõ là Hòa thượng Hoàng Long là ai? Ngài tu theo dòng phái nào? Thuộc đời thứ mấy?

Khi nghiên cứu về Hòa thượng Hoàng Long, ngoài tác phẩm Thiền sư Việt Nam, chúng ta thấy rất hiếm nguồn dữ liệu đề cập đến. Nhưng hữu duyên người viết đọc được tác phẩm Lịch sử chùa Sắc tứ Tam Bảo (Hà Tiên) có nhiều chi tiết mới giúp ta đối chiếu về lý lịch của Ngài. Trong sách Lịch sử chùa Sắc tứ Tam Bảo (Hà Tiên) có đoạn: “Tương truyền, một đêm mẹ của Mạc Cửu nằm mộng thấy con Rồng vàng ngậm cành hoa sen, quấn quanh cột buồm của một chiếc ghe thương hồ, từ hướng Bắc đến. Sáng ngày, Bà thuật lại điềm mộng trên cho Mạc Cửu nghe. Ít lâu sau, có một vị tu sĩ tướng mạo phương phi đến xin diện kiến. Khi tiếp duyên hỏi ra mới biết vị tu sĩ ấy trước là một danh tướng của Minh triều rời tổ quốc đến quy phục Nam triều. Ngài chán cảnh thế nhân xuất gia theo Phật, đó đây vân du giáo hóa pháp hiệu là Ấn Trừng, đạo hiệu là Huỳnh Long ứng với điềm mộng của Thái Bà Bà là Rồng vàng và Chư vị tiền bối kế thừa được thờ tại Tổ đình Tam Bảo như sau: Thứ nhất là Lâm Tế chánh tông đời thứ 35 Hòa thượng thượng Ấn hạ Trừng Thiền sư (đạo hiệu Huỳnh Long).”9

Từ dữ kiện này người viết có một số nhận định mới về Hòa thượng Hoàng Long như sau:
Trước tiên, hai chữ Hoàng Long hay Huỳnh Long viết theo âm Hán 黄龍 giống nhau nghĩa Rồng vàng nên tên Hoàng Long được dùng trong Thiền sư Việt Nam hay Huỳnh Long trong sách Lịch sử chùa Sắc tứ Tam Bảo là tên một người.

Thứ hai, Hoàng Long không phải là Pháp danh của Hòa thượng mà chỉ là đạo hiệu do ứng với điềm mộng của Thái Bà Bà “đạo hiệu là Huỳnh Long ứng với điềm mộng của Thái Bà Bà là Rồng Vàng”. Còn pháp danh chính thức của Ngài là Ấn Trừng thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 35.

Thứ ba, nguồn gốc gia tộc của Hòa thượng Hoàng Long là người Minh triều đến định cư ở Bình Định xuất gia tu học tại nước ta: “Khi tiếp duyên hỏi ra mới biết vị tu sĩ ấy trước là một danh tướng của Minh triều rời tổ quốc đến quy phục Nam triều”.

Nhờ những dữ kiện này mà chúng ta hiểu rõ hơn về nguồn gốc Hòa thượng Hoàng Long, vị Tăng (Bắc Tông) đầu tiên đến hành đạo, tu tập tại trấn Hà Tiên. Ngài cũng là người đầu tiên truyền dòng Thiền Lâm Tế đến vùng đất này.

Tiếp nối Hòa thượng Hoàng Long còn có Hòa thượng Ấn Đàm, dựa vào di chỉ khảo cổ là ngôi tháp cổ 07 tầng khoảng 300 năm tuổi trên núi Đề Liêm, ngay trước cửa tháp vẫn còn một bia đá chạm khắc dòng chữ Hán: “Lâm Tế tam thập lục thế. Ấn Đàm Lão Hòa thượng chi tháp” (Tháp mộ của Lão Hòa thượng Ấn Đàm, dòng Lâm Tế đời thứ 36) và một tấm biển có khắc chữ Việt: “Lâm Tế/1662/tháp 7 tầng/Ấn Đàm/Lão Hòa thượng” (Lão Hòa thượng viên tịch năm 1662, thuộc dòng Thiền Lâm Tế).

Qua hai tấm bia ký này, chúng ta biết được dòng Thiền Lâm Tế vẫn được tiếp nối ở Hà Tiên với Hòa thượng Ấn Đàm đời thứ 36, nếu tấm bia chữ Việt đúng là ghi năm tịch của Ngài 1662, ta có thể kết luận rằng Hòa thượng sống cùng thời với Sư nữ Phù Cừ vì Sư nữ tịch năm 1661 và có chăng Sư nữ đã từng tiếp xúc và hỏi đạo lý nơi Hòa thượng Ấn Đàm. Vấn đề này cần nhiều nguồn tư liệu khảo cứu để làm sáng tỏ hơn.

Như vậy, dưới thời Mạc Cửu, Phật giáo Bắc tông bắt đầu hình thành và phát triển, với sự bảo trợ của Tổng trấn, việc xây chùa, đúc chuông, tạo tượng, độ Tăng của Phật giáo có nhiều khởi sắc, đặc biệt là sự quy tụ tín đồ quy y theo Phật. Ngoài gia tộc họ Mạc có niềm tin Phật pháp, chúng ta nghĩ rằng sẽ còn rất nhiều cư dân quy y theo Phật, vì hệ tín ngưỡng chính trong vùng này vẫn là Phật giáo. Tuy nhiên, số lượng tín đồ, đạo tràng, phương pháp tu tập cụ thể của Phật giáo nơi xứ Hà Tiên xưa không thấy ghi chép nhiều. Có lẽ một phần do chiến tranh loạn lạc, một phần cũng thiếu người ghi chép nên chỉ còn thấy lưu lại một số sách ít ỏi như Mạc Thị gia phả, Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí, Gia Định Thành thông chí hay Lịch sử các ngôi chùa cổ ở Hà Tiên.

Dấu ấn của Tổng trấn Mạc Cửu đối với Phật giáo Hà Tiên không quá nổi bật như vua Trần Thái Tông hay chúa Nguyễn Phúc Chu nhưng đó là viên gạch đầu tiên đặt nền móng cho Phật giáo Hà Tiên và khu vực Tây Nam Bộ sau này phát triển. Năm 1735, Mạc Cửu qua đời sau 27 năm khai phá xây dựng đất Hà Tiên. Ông được các chúa Nguyễn phong tặng thụy hiệu “Khai trấn Thượng trụ quốc Đại tướng quân Vũ nghị công”.

Sau khi Mạc Cửu qua đời, con là Mạc Thiên Tích (1718 – 1780) được chúa Nguyễn Phúc Chú (1725 – 1738) cho kế vị chức Tổng binh trấn và cai quản Hà Tiên. Dưới sự ủng hộ, giúp đỡ của các chúa Nguyễn, tính kế thừa sự nghiêp của Cha và qua tài trí của Mạc Thiên Tích, vùng đất Hà Tiên trải qua những năm tháng phát triển hoàng kim với nhiều thành tựu to lớn về kinh tế, văn hóa, quân sự. Giống như Cha và Bà của mình, Mạc Thiên Tích cũng là người tin Phật. Một trong những dấu ấn của Mạc Thiên Tích đối với Phật giáo là ông cho xây dựng chùa Phù Dung vào năm 1750 cho nàng ái cơ tên Phù Cừ (1720-1761) làm nơi tu hành. Theo lời Thượng tọa trụ trì Thích Nhật Quang, trong chùa Phù Dung hiện nay còn lưu giữ hai pho tượng quý giá được Mạc Thiên Tích thỉnh từ Trung Hoa về thờ. Một pho tượng Phật Thích Ca bằng đồng thờ tại chính điện được thỉnh về năm 1758 và một tượng Ngọc Hoàng bằng chất liệu sườn tre lắp vôi thỉnh về năm 1752. Chùa Phù Dung ngày nay không những hấp dẫn mọi người bởi vẻ đẹp cổ kính mà còn nhiều câu chuyện bí ẩn về người ái cơ Phù Cừ.

Vùng đất Hà Tiên còn là nơi hội tụ của nhiều cộng đồng dân tộc anh em, trong đó ba dân tộc chiếm số lượng đông nhất là Kinh, Khmer và Hoa cùng cộng cư. Do vậy, ta thấy có sự giao thoa văn hóa của các cộng đồng dân tộc về lễ hội, kiến trúc, tín ngưỡng nếp sống tâm linh, đã tạo cho Hà Tiên nhiều di sản văn hóa giá trị, như Tao đàn Chiêu Anh Các của Mạc Thiên Tích, Tao đàn Chiêu Anh Các vừa mang giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể mang bản sắc đặc thù của hàng ngũ tri thức Hà Tiên. Chùa Tam Bảo (Hà Tiên), chùa Phù Dung được xem là những công trình văn hóa Phật giáo tiêu biểu cho sự du nhập và phát triển Phật giáo Hà Tiên, cần được giữ gìn và phát huy làm nền tảng cho việc phát triển văn hóa. Chúng ta biết rằng văn hóa là cái hồn của dân tộc, văn hóa bị mất hay bị đồng hóa cũng đồng nghĩa mất nước. Việc nhận định rõ về nguồn gốc văn hóa Phật giáo Hà Tiên vừa thể hiện bản sắc tín ngưỡng, vừa thể hiện chủ quyền dân tộc.

Tóm lại, dòng dõi họ Mạc là những người đã góp công lớn trong việc mở mang bờ cõi Đại Việt ở Hà Tiên. Phật giáo dưới dòng họ Mạc cũng phát triển rực rỡ, đóng góp tích cực trong việc hộ trì Phật pháp, xây dựng nhiều công trình thờ tự làm nơi sinh hoạt tâm linh cho các cư dân nơi này như chùa Tam Bảo, chùa Phù Dung, cung thỉnh nhiều chư Tăng đến đây truyền bá Phật pháp như Hòa thượng Hoàng Long và các Hòa thượng như Ấn Đàm, Bửu Châu, Minh Đường đến đây tu tập hành đạo. Có thể nói, từ nơi phát tích này Phật giáo Hà Tiên đã có những ảnh hưởng nhất định đến khu vực xung quanh. Nghiên cứu Phật giáo Hà Tiên dưới thời Mạc Cửu không những là việc làm mang tính khoa học mà còn mang những giá trị thực tiễn sâu sắc, cho ta cái nhìn cụ thể hơn về Phật giáo Nam Bộ, trong những ngày đầu bình minh của Phật giáo xứ phương Nam.

Chú thích:
1 Trương Minh Đạt (2008), Nghiên cứu Hà Tiên, NXB. Trẻ, TP.HCM, tr.06.
2 Quốc Sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam nhất thống chí, Tập 5, NXB. Thuận Hóa, tr.06.
3 Trịnh Hoài Đức (2010), Gia Định Thành thông chí, Quyển III, Cương vực chí, Lý Việt Dũng dịch và chú, TS. Huỳnh Văn Tới hiệu đính và giới thiệu, NXB. Tổng hợp Đồng Nai, tr.05.
4 Vũ Thế Dinh (2006), Mạc Thị gia phả, Nguyễn Khắc Thuần dịch, NXB. Giáo dục Việt Nam, tr.18.
5 Trịnh Hoài Đức (2010), Gia Định Thành thông chí, Quyển VI, Thành Trì chí, Lý Việt Dũng dịch và chú, TS. Huỳnh Văn Tới hiệu đính và giới thiệu, NXB. Tổng hợp Đồng Nai, tr.24.
6 Nhiều tác giả (2013), Lịch sử chùa Sắc tứ Tam Bảo, NXB. Văn hóa – Văn nghệ, tr.06.
7 Thích ThaTừ biên dịch (2010), Thiền sư Việt Nam, NXB. Tôn giáo, Hà Nội, tr.606.
8 Sđd, tr.607.
9 Nhiều tác giả (2013), Lịch sử chùa Sắc tứ Tam Bảo, NXB. Văn hóa – Văn nghệ, tr. 06-07.

Tin khác

Cùng chuyên mục

error: Nội dung được bảo mật !!