Chủ Nhật, 29 Tháng Năm 2022
Phật học Nghiên cứu Phật giáo Campuchia thời kỳ Pol Pot

Phật giáo Campuchia thời kỳ Pol Pot

  Theo dòng lịch sử, Phật giáo không ngừng lan tỏa và nhanh chóng trở thành một tôn giáo có sức ảnh hưởng toàn cầu. Nguồn sử liệu Sri Lanka ghi nhận vào khoảng thế kỷ thứ III trước kỷ nguyên Tây lịch, vua Asoka phái các đoàn truyền giáo đi khắp nơi truyền bá chánh pháp trong chuyến đi này, họ đã đến xứ Suvaṇṇabhūmi, vùng đất được các nhà nghiên cứu gọi là “Vùng Kim địa” thuộc khu vực Đông Nam Á ngày nay. Sự thành tựu của đoàn truyền giáo không thấy ghi nhận cụ thể trong các nguồn sử liệu nhưng ngày nay Phật giáo tại các nước khu vực này rất phát triển. Phật giáo không chỉ hưng thịnh tại Đông Nam Á mà văn hóa Phật giáo đã trở thành nếp sống văn hóa dân tộc tại một số quốc gia trong khu vực như Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam….

Phật giáo là quốc giáo của Campuchia, là một phần của văn hóa bản xứ. Ngày nay khi nói về Campuchia người ta không ngần ngại dùng từ “xứ sở chùa tháp” để miêu tả về một vùng đất linh thiêng khu vực sông Mê-kông. Đạo Phật luôn song hành cùng vận mệnh quốc gia, dân tộc và mỗi giai đoạn lịch sử Phật giáo có những bước thịnh suy khác nhau. Thời kỳ Pol Pot không chỉ là một thời kỳ đánh một dấu mốc quan trọng cho sự chuyển giao quyền lực chính trị mà còn là một thời kỳ đánh dấu cho một giai đoạn “sống còn” của Phật giáo. Chính những nét đặc biệt của Phật giáo trong giai đoạn này, chúng con xin chọn đề tài: “Phật giáo Thời Kỳ Pol Pot” làm nội dung bài khảo luận. Chúng con mong rằng, bài viết của chúng con sẽ là một mảnh ghép cho bức tranh Phật giáo Campuchia.

Khái quát sơ lược quá trình hình thành và phát triển Phật giáo tại Campuchia

Phật giáo hình thành và phát triển tại Campuchia được ghi nhận và đánh giá theo nhiều nguồn tư liệu khác nhau. Theo biên niên sử Sri Lanka vào thế kỷ thứ III trước kỷ nguyên Tây lịch, các đoàn truyền giáo dưới sự bảo trợ của vua Asoka đã đem Phật giáo truyền ra các quốc gia ngoài khu vực Ấn Độ, trong đó có khu vực Suvaṇṇabhūmi do Tỳ kheo Soṇa và Uttara1 lãnh đạo. Tuy nhiên, sự thành tựu của đoàn truyền giáo đến khu vực này không thấy ghi nhận cụ thể và theo các tư liệu nghiên cứu thì vùng đất vàng được cho là các quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á bao gồm các quốc gia như “Miến Điện, Thái Lan, Campuchia và có thể đã đến xứ Phù Nam (Funan) ở châu thổ Sông Cửu Long miền Nam Việt Nam2” và cho đến nay vấn đề “vùng Kim địa” vẫn còn là khu vực bí ẩn của giới nghiên cứu.

Phật giáo du nhập Campuchia vào những thế kỷ đầu trước công nguyên là hoàn toàn có cơ sở. Vua khai sơn vương quốc Phù Nam là người gốc Ấn Độ điều đó cho thấy giữa Ấn Độ và Campuchia thời đó có mối liên hệ với nhau, Mặt khác, các thuyền buôn đến từ Ấn Độ đó là cơ sở mang văn hóa tín ngưỡng trong đó có Phật giáo ảnh hưởng vào Campuchia. Tuy nhiên, vào giai đoạn này Phật giáo chưa được công nhận như một tôn giáo mà chỉ ở vai trò là tín ngưỡng dân gian và chưa có sự phổ cập trong đại đa số quần chúng. Trong một số bia ký được tìm thấy tại vùng Kprat, khu vực Trung Đông Xiêm La viết bằng chữ Sanskrit và cổ ngữ Khmer vào thế kỷ thứ VIII, có đề cập đến vị Sư gốc hoàng tộc, pháp hiệu là Nripatindràdhipativarman, cúng dường 10 ngôi chùa cho Giáo hội, tuy nhiên vai trò của vị Tăng này không được đề cập trong lịch sử Tôn giáo Campuchia3. Thông qua các bia ký được tìm thấy sử dụng ngôn ngữ Sanskrit và Pali cho thấy cả hai truyền thống Phật giáo Đại thừa và Tiểu thừa đã có mặt tại Campuchia4.

Những thế kỷ tiếp theo sau đó, các vị quân vương của vương quốc Campuchia thời cổ đại bắt đầu lớn mạnh và bành trướng lãnh thổ. Điện đài được xây dựng nhằm mục đích phục vụ cho đế chế và tôn thờ các vị thần của Hindu giáo. Đây là giai đoạn phát triển của Hindu và theo sự ghi chép của Nghĩa Tịnh đã từng đến Chân Lạp vào thế kỷ thứ VII như sau:

“Đạo pháp của nhà Phật trước đây thịnh hành và được truyền bá rộng rãi nhưng ngày nay thì nó bị một ông vua tàn bạo hoàn toàn phá hủy đến nỗi trong nước không còn tầng lớp sư sãi nữa5.” Đến thế kỷ thứ VIII, theo các bia ký được tìm thấy ở tỉnh Siem Reap ghi nhận việc xây dựng ngôi tượng Bồ tát Quán Thế Âm, đánh dấu cho sự phát triển của Phật giáo Đại thừa6. Phật giáo trong những giai đoạn này tuy có mặt và đánh dấu sự phát triển nhưng chưa có gì vượt trội. Một phần vì chiến tranh giữa các quốc vương, một phần vì các vị quốc vương nghiêng về ủng hộ và tôn thờ thần Shiva của Hindu giáo. Tuy nhiên, Phật giáo trong giai đoạn này vẫn có một vị trí riêng biệt trong xã hội.
Đế chế Khmer được hình thành dưới thời vua Jayavarman II, ông là người có công thống nhất các vùng lãnh thổ Campuchia, tạo nền tảng cho một đế chế hùng mạnh trong lịch sử dân tộc. Đây là giai đoạn đánh một dấu mốc quan trọng trong lịch sử phát triển của một đế chế hùng mạnh, bành trướng không chỉ về quân sự mà trên tất cả mọi phương diện kinh tế văn hóa và tôn giáo, được ghi nhận như là thời kỳ vàng son của đế chế Khmer, thời kỳ Angkor.

Trong giai đoạn này, Phật giáo bắt đầu vươn mình lớn mạnh, các đời vua tuy tôn thờ các vị thần của Hindu giáo nhưng đồng thời họ cũng ra sức bảo vệ và ủng hộ Phật giáo. Thời vua Yasovarman I đóng vai trò quan trọng trong lịch sử tôn giáo, trong bia ký tìm thấy được ghi bằng ngôn ngữ Sanskrit nói về việc xây dựng nơi thờ tự: “Bramasrama (chùa dành cho đạo sĩ thờ Phạm Thiên) và Saugatsrama (chùa dành cho chư Tăng Phật giáo7).” Vua Jayavarman V, ông là một vị vua có công phát triển Phật giáo trong giai đoạn hậu bán thế kỷ X. Nhiều chỉ thị ghi trong bia ký cho thấy, vua bảo trợ và phát triển Phật giáo đặc biệt là truyền thống Phật giáo Đại Thừa. Trong một bia ký, có đề cập đến sự kiện quan trọng về việc thỉnh Tam tạng kinh điển gồm những bộ luận như Sastra Madhyyavibhaga và Tattavasangraha (Mật giáo) từ nước ngoài8.


Dưới thời trị vì của vua Jayavarman (1181- khoảng 1218) là khoảng thời gian ghi dấu sức mạnh lan tỏa của Phật giáo tại Campuchia. Thay vì tôn sùng Hindu như các vị vua đời trước, ông đặc biệt đề cao và tôn thờ Phật giáo Đại thừa9. Nếu Angkor Wat tôn vinh thần Shiva thì Angkor Thom10 được xây dựng trong giai đoạn này là để tôn thờ Phật và chư Thiên với đền Bayon nổi tiếng. Thấm nhuần tư tưởng giáo lý Phật Đà, vua Jayavarma VII được xem như “Asoka của vương quốc Campuchia”. Ông cho xây dựng nhiều hệ thống bệnh viện khắp cả nước trong đó có bốn bệnh viện lớn. Sự tận tâm vì đời sống của con dân trong quốc gia xuất phát từ tấm lòng từ bi của người con Phật. Ông đau khổ vì những thống khổ của thần dân, nỗi khắc khoải về điều đó đã thôi thúc ông phát lên ước nguyện cứu vớt chúng sanh ra khỏi biển khổ trần tục. Cụ thể trong một văn bản có chép rằng: “Chính là vì muốn giải thoát loài người ra khỏi biển khổ mà trẫm có ý định trở thành Phật11.” Campuchia trong giai đoạn này được ghi nhận là đỉnh cao của sự hưng thịnh đồng thời Phật giáo cũng có cơ hội lan tỏa trong xã hội Campuchia. Tuy nhiên, vị vua kế nhiệm lại là tín đồ của Hindu và có dấu hiệu phục hưng Ấn giáo, chính vì vậy Phật giáo có cơ hội phát triển chưa lâu thì bị gián đoạn, một phần vì không được sự ủng hộ của hoàng gia một phần khác do bị Thái Lan đem quân sang xâm lược. Khu vực Angkor bị quân đội Thái Lan tàn phá và đi đến trình trạng hoang phế dần dần những điện đài hùng dũng một thời của đế chế Khmer đi vào trong quên lãng và cho đến ngày nay khi nói đến sự vĩ đại của các điện đài người dân Campuchia không tin đây là do tổ tiên của họ đã xây dựng mà họ cho rằng đây là do sự sáng tạo của thần linh12.

Vào khoảng thế kỷ XIII đến thế kỷ XIV, Campuhia rơi vào trình trạng chiến tranh và bắt đầu thời kỳ suy thoái. Mặc dù chiến tranh liên miên nhưng Campuchia vẫn xây chùa, đúc tượng. Những ngôi chùa bị tàn phá được trùng tu, bia ký năm 1579 ghi nhận “Để phổ cập giáo lý Phật Đà, Satha (1576- 1594) con và kẻ thừa kế Barom Reachea, trùng tu những ngôi đền lớn ở Angkor Wat, xây dựng đỉnh trám vàng13.” Đặc biệt, đền Angkor Wat trước đây xây dựng thờ thần Vishnu, sau khi trùng tu trở thành ngôi chùa Phật giáo. Đây là giai đoạn đánh dấu cho sự chuyển tiếp sự phát triển của Phật giáo Theravada14. Sự kiện vua Javavarman VIII (1243 – 1295) xuất gia theo Phật góp phần làm phục hồi sức sống cho Phật giáo Nguyên Thủy. Một bia kí tìm thấy được dựng vào năm 1307 do vua viết bằng tiếng Pali, ngôn ngữ phổ cập của Phật giáo Theravāda. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của học giả Trần Quang Thuận ghi nhận vị vua này không ủng hộ Phật pháp mà còn phá hủy Phật giáo. Phật giáo Theravāda phát triển và hưng thịnh trở lại nhờ vào sự kết nối thân tình giữa Campuchia và các nước, đặc biệt là Tích Lan15. Đây là sự kiện quan trọng cần được làm rõ trong tương lai bởi vấn đề này có liên quan trong chuỗi dài phát triển của Phật giáo Campuchia.

Khi Pháp bắt đầu đặt ách thống trị lên toàn cõi Đông Dương, họ thấy Phật giáo tại Campuchia đã được phân thành hai phái: Phái Mahanikaya (Đại Phái) và Dhamayutika (Chân Phái), đại đa số chùa và chư Tăng theo phái thứ nhất, Phái thứ hai được du nhập từ Thái Lan. Tuy chùa, tượng Phật bị tàn phá và thiệt hại sau các cuộc chiến tranh nhưng các vị vua vẫn ra sức tái thiết lại nhằm giữ nét văn hóa đặc thù của người Campuchia.
Mong muốn thoát khỏi sự thống trị của thực dân, Saloth Sar lãnh đạo tối cao của chế độ Pol Pot, một nhà chính trị với tư duy cải cách đã xuất hiện với mong muốn tìm ra con đường giải phóng Campuchia ra khỏi sự nô lệ của các thế lực xâm lược. Thế nhưng, thật không may cho vương quốc Campuchia, nhà cải cách chính trị này tháo “gông” nô lệ nhưng chính chế độ do ông cầm quyền lại đeo “cùm” diệt chủng cho dân tộc. Đây là giai đoạn Campuchia bước vào thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử dân tộc và Phật giáo trong giai đoạn này đứng trước nguy cơ diệt vong.
Phật giáo Campuchia thời kỳ Pol Pot

Đôi nét về con người và chính sách cai trị của Pol Pot- Khmer Đỏ

Khi nói về Pol Pot hay Khmer Đỏ người ta không khỏi rùng mình ghê sợ bởi sự bạo tàn trong chính sách cai trị không chỉ đối với chính con dân của nước mình mà ngay cả với Việt Nam thì Pol Pot vẫn là nỗi ám ảnh dai dẳng nhiều năm qua.

Pol Pot tên thật là Saloth Sar. Ông sinh vào ngày 19 tháng 5 năm 1925, là con trai thứ hai trong một gia đình nông dân trung lưu thời kỳ thuộc Pháp16. Năm 9 tuổi, ông được gia đình gửi lên Phnom Penh học tập. Trong trường, ông được học hết tất cả những gì đáng tự hào trong quá khứ của dân tộc và ông cũng hiểu rằng thế lực ngoại bang đã giày xéo lên nền văn hóa của dân tộc ra sao. Trong lòng Pol Pot coi sự suy sụp của quốc gia chính là sự đô hộ của người Pháp. Pol Pot được sống, học tập trong lòng đất nước quê hương nhưng văn hóa dân tộc đã được thay thế bằng văn minh phương Tây, điều này đã làm khơi dậy lòng tự tôn dân tộc. Ông nuôi ý chí giải phóng nước nhà khỏi sự thống trị của ngoại bang.

Được học tại một trường danh tiếng tại thủ đô Phnom Penh, ông và người bạn thân Ieng Sary là một trong những số ít học sinh may mắn được du học tại Pháp. Trong thời gian du học, Ông cùng với một số bạn bè cùng thảo luận tìm ra con đường giải phóng Campuchia và con đường mà họ tin tưởng là lý tưởng Cộng sản. Năm 1953, ông trở về Campuchia và tham gia quân đội du kích của Chủ tịch Hồ Chí Minh và bắt đầu hoạt động cách mạng.
Khi Campuchia được độc lập nhưng chính quyền không về tay của Cộng sản Khmer mà thuộc về Sihanouk. Sihanouk cho phép quân đội Việt Nam được đóng quân trên đất Campuchia và truy lùng những người theo Pol Pot. Pol Pot trốn chạy khỏi sự truy bắt của Chính phủ, vào ở ẩn trong rừng sâu. Trong thời gian trốn chạy, ông được sự cưu mang của những nông dân nghèo. Khi bị quân đội Việt Nam phát hiện nơi ẩn nấp, Pol Pot đã trốn chạy sang Trung Hoa và trong thời gian ấy ông ảnh hưởng tư tưởng cải cách quốc gia của Mao Trạch Đông.


Thoát khỏi sự kìm kẹp của các thế lực, Pol Pot tiếp tục hoạt động, lực lượng ngày càng lớn mạnh. Sau khi lật đổ chính quyền Sihanouk và quân đội Mỹ, quân đội Pol Pot chiếm được thủ đô Phnom Penh vào tháng 4 năm 1975, Đài Phát thanh của họ đã loan báo “Phnom Penh được giải phóng. Trên hai nghìn năm lịch sử của Campuchia đã chấm dứt17.” Lời thông báo như một lời tiên tri cho vận mệnh quốc gia, Campuchia rơi vào trình trạng diệt vong, đúng nghĩa với hai từ “chấm dứt” trong lời loan báo.

Khi lên nắm chính quyền, Pol Pot bắt tay ngay vào việc cải cách xã hội. Ông thực hiện sáu chính sách mà theo ông là con đường đưa Campuchia phát triển trở lại sau những tháng năm vùi mình trong bom đạn của chiến tranh. Sáu hình thức cải cách đưa đến sự diệt chủng của dân tộc Campuchia18: 1. Ép buộc di cư; 2. Thanh toán chính trị; 3. Cưỡng chế lao động; 4. Thanh trừng nội bộ; 5. Chính sách cưỡng hôn; 6. Trại tập trung S-21- thanh trừ tù chính trị.

(còn tiếp)

Dung Từ


  1. Tỳ-khưu Indacanda. (dịch), (2010). “Sử liệu về đảo Laṅkā”, NXB. Tôn giáo, tr.111.
  2. Trần Trúc Lâm. (2007). “Những Hộ Pháp Vương của Phật giáo trong lịch sử Ấn Độ”, NXB. Phương Đông, tr.33.
  3. Trần Quang Thuận. (2016). “Phật giáo trong dòng lịch sử văn hóa Campuchia”, NXB. Hồng Đức, tr.91-92.
  4. Trần Quang Thuận. (2008). “Phật giáo Nam Tông tại Đông Nam Á”, NXB. Tôn Giáo, tr.140.
  5. GS. Lương Minh. (2018). “Đông Nam Á từ Nguyên thủy đến ngày nay”, NXB. Chính trị Quốc gia Sự thật, tr.138.
  6. Trần Quang Thuận. sđd, tr.98.
  7. Trần Quang Thuận, sđd, tr.142.
  8. Sđd, tr.143.
  9. Trần Quang Thuận. Sđd, tr.110.
  10. Angkor Thom nghĩa là thành lớn, là kinh đô dài nhất của đế chế Angkor được vua Jayavarman xây dựng vào cuối thế kỷ XII. Angkor Thom rộng 3km chung quanh có hồ rộng 100m bao bọc, chính giữa là đền Bayon được kiến thiết theo mô hình Mandala. Đền Bayon có một tháp lớn ở chính giữa xung quanh có 16 tháp nhỏ, mỗi bảo tháp có bốn mặt, mỗi mặt là tôn tượng Đức Quan Thế Âm. Đây là một trong những quần thể điện đài được tổ chức Di sản Thế giới và Chính phủ Campuchia đưa vào danh sách cần được bảo tồn. Tham khảo tư liệu môn “Lịch sử Phật giáo Đông Nam Á” của Ni sư Thích Huệ Khánh, giảng viên khoa Lịch sử Phật giáo, khóa XIII, năm 2021.
  11. Tham khảo tư liệu môn “Lịch sử Phật giáo Đông Nam Á” của Ni sư Thích Huệ Khánh, Giảng viên khoa Lịch sử Phật giáo, khóa XIII, năm 2021.
  12. Trần Quang Thuận. Sđd, tr.12.
  13. Trần Quang Thuận. Sđd, tr.218.
  14. Trương Sỹ Hùng. (2017). “Bốn tôn giáo lớn ở Đông Nam Á”, NXB. Chính trị Quốc gia Sự thật, tr.87.
  15. Trần Quang Thuận. Sđd, tr.193-196.
  16. Theo tư liệu của Giáo sư Trần Quang Thuận ghi nhận “Saloth Sar sinh vào tháng 3 năm 1925, là đứa con thứ năm trong số chín người con trong gia đình”, trong “Phật giáo trong dòng văn hóa dân tộc Campuchia”, xuất bản năm 2016, tr.260.
  17. Trần Quang Thuận. Sđd, tr.289.
  18. Tham khảo tư liệu của Ni sư Thích Huệ Khánh, giảng viên môn “Lịch sử Phật giáo Đông Nam Á”, khóa XIII, năm 2021.

Tin khác

Cùng chuyên mục

error: Nội dung được bảo mật !!