Chủ Nhật, 22 Tháng Năm 2022
Phật học Nghiên cứu Phật giáo Campuchia thời kỳ Pol Pot (Phần 2)

Phật giáo Campuchia thời kỳ Pol Pot (Phần 2)

  Ông muốn thay đổi toàn diện, lấy kinh tế nông thôn nuôi dưỡng thành thị và dân thành thị làm nông dân lao động phục vụ cho sản xuất. “Chúng tôi tiến nhanh, tiến thẳng đến cuộc cách mạng xã hội, mau chóng xây dựng chủ nghĩa xã hội mà không cần thời gian chuyển tiếp.”1 Công cuộc cải cách chỉ chú trọng việc sản xuất kinh tế nông nghiệp mà không quan tâm gì đến các lĩnh vực khác như văn hóa, giáo dục. Chính sách nhanh chóng đưa dân tộc Campuchia vào con đường diệt chủng, nạn đói, bệnh dịch, số người chết lên đến con số báo động, thây người chết nằm la liệt ở các bãi đất. Riêng chiến dịch thanh lọc hàng ngũ đã có đến hơn hai trăm ngàn người thiệt mạng.

Chính sách ảnh hưởng đến sự tồn vong của Phật giáo

Phật giáo luôn song hành cùng vận mệnh của quốc gia, dân tộc. Trong công cuộc cải cách xã hội của Pol Pot, các chính sách của chế độ như một pháp nạn khủng khiếp cho Phật giáo dù chính trị không nhằm mục đích đánh thẳng vào Phật giáo mà chỉ nhằm mục đích cải cách sự phát triển của dân tộc. Trong sáu phương thức tiêu biểu của chủ nghĩa Khmer Đỏ có đến ba vấn đề ảnh hưởng nghiêm trọng đến Phật giáo: Ép buộc di cư, cưỡng chế lao động và chính sách cưỡng hôn.

Chính sách ép buộc di cư được thực hiện khi quân đội Khmer Đỏ chiếm Phnôm Pênh. “Chỉ trong vòng một tuần lễ, dân chúng trong mọi thị trấn, mọi đô thị dưới quyền kiểm soát của Chính phủ Cộng hòa Khmer Đỏ, bắt buộc phải di tản về nông thôn. Trên hai triệu người, đàn ông, đàn bà, trẻ con ở Phnôm Pênh đều phải di chuyển về nông thôn, làm việc trong các hợp tác xã nông nghiệp, đúng theo đường lối chính trị mà cộng sản Campuchia đã học từ Cách mạng văn hóa Trung Hoa.”2 Người dân bị ép buộc ly tán, không được mang theo bất kỳ tài sản nào, những ai chống đối đều bị bắn chết, những người không có khả năng di chuyển thì bị bỏ rơi. Trong vòng ba ngày, thành phố Phnôm Pênh nhộn nhịp trở nên vắng vẻ, rất nhiều người chết trong cuộc di tán lần này. Theo đó, các nhà Sư cũng phải thực hiện di cư, nhiều nhà Sư phải hoàn tục, chùa chiền bị bỏ hoang. Mọi hoạt động tôn giáo đều bị đình chỉ hoạt động một cách triệt để, chùa và các tự viện được cộng sản sở hữu làm nhà kho hoặc nơi chứa vũ khí, tù binh… Điều này được cho là ảnh hưởng nghiêm trọng đến văn hóa tín ngưỡng của dân tộc bởi người dân Campchia vốn có truyền thống kính ngưỡng nơi thờ tự và thần Phật. Chính sách này đã góp phần đẩy Phật giáo vào ngưỡng cửa của sự diệt vong do nhà Sư và các tự viện Phật giáo đều được chính quyền Pol Pot trưng dụng vào mục đích cải cách quốc gia thay vì phát triển hoạt động văn hóa tín ngưỡng tôn giáo.

“Cưỡng chế lao động” đã tác động mạnh mẽ và làm xáo trộn đời sống của chư Tăng. Theo giới luật Phật giáo Nguyên thủy, các nhà Sư không được tham gia lao động sản xuất nhưng theo chính sách cải cách của lãnh đạo Khmer Đỏ đã buộc các nhà Sư phải vi phạm giới điều. Trong tư tưởng của Pol Pot chỉ có giai cấp nông dân mới xứng đáng là những người làm chủ vận mệnh quốc gia, họ là thành phần chính tạo ra sản phẩm, lương thực cung cấp cho đời sống nhân dân còn những người thuộc thành phần sĩ, công, thương và những nhà tu hành không đóng góp gì cho xã hội, quốc gia thế nên “cưỡng chế lao động” được Pol Pot xem như là chiến dịch cải cách hiệu quả để mang lại sự phát triển cho nền kinh tế Campuchia sau khi chiến tranh kết thúc.

Trong mọi chính sách cải cách của Pol Pot thì “Cưỡng bức hôn nhân” là một trong những chính sách dã man đi ngược lại nhân quyền, bị lên án dữ dội. Không cần biết nguyện vọng của các đôi nam nữ, họ buộc phải kết hôn và sinh con trong vòng 10 đến 15 năm theo sự sắp xếp của tổ chức chính trị Khmer Đỏ. Trong các thanh niên bị bắt ép cưỡng hôn có thành phần là những vị Tăng sĩ trẻ, họ cũng bị bắt thực hiện theo lệnh di dân, cưỡng chế lao động và bắt buộc phải kết hôn. Đối với người dân đây là một cực hình, một sự tồi tệ nhất huống hồ điều này lại xảy ra đối với các Tăng sĩ. Phạm hạnh là điều cần phải được trân trọng đối với một nhà tu hành. Phật giáo rơi vào pháp nạn khủng khiếp nhất từ trước đến nay. Đứng trước những vấn nạn của xã hội đương thời, không phải chỉ riêng con dân Campuchia phải hứng chịu sự đau thương mà Phật giáo cũng phải hứng chịu làng sóng hủy diệt của Khmer. Bởi Khmer Đỏ là “Chế độ tiền tệ, thị trường, chợ búa, trường học, kinh điển Phật giáo tài sản tư hữu, phục sức, tự do di chuyển đều bị hủy hoại.”3 Nếu trong lịch sử văn hóa dân tộc, các tu sĩ là những người được tôn trọng trong xã hội thì trong giai đoạn này, họ phải sống cuộc đời như những tội phạm. Nhưng vì lý tưởng xuất gia, vì sự tồn vong của chánh Pháp họ quyết tâm gìn giữ chiếc áo của người xuất gia và những vị ấy trở thành những trụ cột còn lại của Phật giáo sau những gì mà Pol Pot đã lấy đi4.

Ven. Pen Sen (1896-1984) xuất gia năm 12 tuổi, 21 tuổi thọ cụ túc giới và Hòa thượng có 8 năm du học tại Thái Lan và Ngài trở về nước khi Sư phụ của Ngài viên tịch. Sau năm 1975, các nhà Sư phải làm việc trong các cánh đồng hoặc mang tiếp tế cho binh lính mặt trận bằng xe đạp. Mọi người phải cởi áo, mặc đồng phục áo đen nhưng Ngài quyết tâm giữ màu áo của tu sĩ Phật giáo. Theo truyền thống xưa nay của người Campuchia, hầu hết người dân phải vào chùa tu tập một khoảng thời gian gieo duyên sau đó trở về với đời sống bình thường nếu không muốn tiếp tục tu hành, Ven. Pen Sen vốn là một bậc thầy vĩ đại đối với dân bản xứ nên khi bị nạn, ông được một số lãnh đạo chính trị Khmer Đỏ bảo vệ. Cũng chính sự kiện hy hữu này mà sau khi Khmer Đỏ sụp đổ, Ngài chính là người truyền giới cho các nhà Sư, khôi phục lại Phật giáo sau thời gian chịu pháp nạn.

Ven. Nut (1900-1986) là một nhà Sư được cho là có mối liên hệ với Ven. Pen Sen. Khi bị bắt buộc làm phải làm việc trên cánh đồng, ông vì sợ phạm giới nên đã bỏ trốn, nhờ sự cưu mang của những người Phật tử thuần thành Ngài đã thoát chết và giữ được chiếc áo của người xuất gia bằng cách trốn vào trong quan tài. Sau khi hòa bình trở lại, Ven. Pen Sen xác nhận rằng Ven. Nut vẫn giữ y phục Phật giáo và giấy chứng nhận xuất gia.

Ven. Nil Monv (sinh năm 1922). Vào năm 1976, ông bị Khmer Đỏ buộc cởi bỏ áo Cà sa. Sau khi chế độ Pol Pot sụp đổ, ông quyết định trở lại đời sống người xuất gia. Ngày 7 tháng 4 năm 1979 ông xuất gia tại Sansam Kosol, Phnôm Pênh một tu viện mà trước đây Ngài từng là Trụ trì. Sau đó Hòa thượng đã truyền giới cho ít nhất 500 nhà Sư khác trong đó có Ven. Nuon Nget, người sau này nắm giữ chức vụ quan trọng trong hệ thống phân cấp Giáo hội quốc gia ở Wat Sansam Kosol và tại một số tỉnh.

Lok Ta Prey Tauch là một nhà Sư nổi tiếng, Ngài có khả năng dùng định lực tu tập của mình để chóng lại sức mạnh Khmer Đỏ. Khi quân đội Pol Pot tấn công vào các tự viện để cưỡng chế các nhà Sư, Ngài đã ngồi bất động và sức mạnh của quân diệt chủng cũng bất lực trước sự “hóa đá” của Ngài.

Đại lão Hòa thượng Tep Vong sinh vào ngày 12 tháng 01 năm 1932. Ngài từng được theo học với nhiều danh Sư nổi tiếng. Dưới thời Pol Pot, Ngài bị chúng bắt buộc hoàn tục và tra khảo nặng nề. Năm 48 tuổi, Ngài xuất gia và thọ giới lần hai vào ngày 19 tháng 9 năm 1979 với Hòa thượng Thit Silo tịa chùa Ounalon, Phnôm Pênh. Sau khi thọ giới Ngài được Hòa thượng Bổn sư tuyên bố trước Hội đồng chư Tôn đức rằng “Tep Vong được thăng cấp Chủ tịch Hội đồng Kỷ luật”. Ngài là nhân chứng lịch sử trong phiên tòa xét sử tội ác của Khmer Đỏ khi chúng hành quyết 57 nhà Sư.

Sự máu lạnh của quân đội Pol Pot đã càng quét văn hóa của dân tộc. Sau chế độ Pol Pot, Campuchia kiệt quệ về nhân lực lẫn kinh tế, văn hóa; tôn giáo bị phá hoại nặng nề. Trước đây, Campuchia lấy Phật giáo làm căn bản đạo đức xã hội, hơn 2500 ngôi chùa và hơn 82.000 sư sãi, sau chế độ Pol Pot ước tính 95% văn hóa Phật giáo bị Khmer Đỏ phá hủy5. Sau chế độ Dân chủ Khmer Đỏ, bóng dáng nhà Sư dường như không còn trên đất Campuchia. Thế nhưng rất may nắm vẫn còn những nhà Sư đầy quyết tâm và lòng kiên định, các Ngài là những vị Thánh giả tiên phong phục hưng lại Phật giáo Campuchia sau pháp nạn khủng khiếp nhất trong lịch sử.

Pol Pot chỉ trong 4 năm đã đưa Campuchia trở về với con số 0 trong khi đó dưới thời thuộc Pháp kéo dài hơn một thế kỷ nỗ lực giáo dục người Campuchia cải đạo, họ bất lực trước sự kiên định văn hóa tín ngưỡng của người dân bản xứ. Phật giáo sau giai đoạn này bắt đầu đi vào củng cố và phát triển trở lại. Dù trong giai đoạn đầu khôi phục còn rất nhiều khó khăn và trở ngại nhưng Phật giáo luôn được sự ủng hộ của quần chúng và hoàng gia Campuchia, đó là một trong những thuận lợi căn bản cho sự phục hưng Phật giáo.

Ngày nay, chế độ Pol Pot đã đi vào quá khứ nhưng những gì mà họ đã tạo ra cho đất nước Campuchia thật không thể tưởng tượng. Pol Pol nuôi trong mình với một chí nguyện lớn lao nhưng thực thi lại đi vào sai lầm nghiêm trọng. Sai lầm của chế độ Pol Pot đã ghi nhận bằng những trang sử đẫm máu. Campuchia từng là một đất nước có nền văn minh phát triển mạnh mẽ nhưng giờ đây đất nước ấy phải oằn mình đứng dậy khôi phục lại cơ đồ như một đứa con sinh sau đẻ muộn so với các nước trong khu vực.

Kết luận

Phật giáo từ khi lan tỏa ra ngoài khu vực Ấn Độ đi đến quốc gia nào cũng để lại dấu ấn trong văn hóa tôn giáo, tín ngưỡng của dân tộc. Phật giáo tại Campuchia ngày nay đang trở thành một trong nét văn hóa tín ngưỡng tiêu biểu của vương quốc.

Phật giáo thời kỳ Pol Pot là một giai đoạn đáng nhớ nhất trong lịch sử phát triển của Phật giáo khi nền văn hóa tín ngưỡng dân tộc bị chính những đứa con của quốc gia đưa vào con đường của sự gủy diệt. Thế nhưng tinh thần và ý chí, sự tôn thờ thần Phật chưa bao giờ bị bôi xóa trong lòng của người dân Campuchia. Phật giáo trở thành điểm tựa tâm linh bất diệt trong lòng dân tộc nên sau khi Pol Pot bị lật đổ Phật giáo bắt đầu ngay sự khôi phục trở lại để đáp ứng cho nhu cầu tín ngưỡng nương tựa tâm linh cho dân tộc.

Qua tiến trình Phật giáo Campuchia thời kỳ Pol Pot không chỉ thấy sự tàn ác của một chế độ diệt chủng mà qua đó thấy được tinh thần kiên định của các bậc danh Tăng, quyết lòng vì sự tu tập và hơn hết vì sự tồn vong của Chánh pháp. Vì hơn hết chư Tăng chính là nền tảng của Giáo hội và người kế thừa gia tài của Phật và nhận trách nhiệm trọng đại xiển dương giáo pháp ở đời. Các Ngài luôn là tấm gương bất diệt cho hàng hậu học tin tưởng và học tập. Chúng con xin niệm ân Ni sư giảng viên đã cho chúng con những khoảnh khắc quý giá khi nhìn về Phật giáo trong quá khứ và trong tương lai. Đối với chúng con đó là những bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu cho chúng con trong sự tu học và đóng góp cho Phật giáo trong tương lai.

Dung Từ



  1. Trần Quang Thuận, “Phật giáo trong dòng văn hóa lịch sử Campuchia”, NXB. Hồng Đức, 2016, tr. 310.
  2. Trần Quang Thuận, “Phật giáo trong dòng lịch sử văn hóa Campuchia”, NXB. Hồng Đức, 2016, tr. 289.
  3. Trần Quang Thuận, “Phật giáo trong dòng văn hóa lịch sử Campuchia”, NXB. Hồng Đức, 2016, tr. 307.
  4. Tham khảo tư liệu của Ni sư Thích Huệ Khánh, giảng viên khoa Lịch sử Phật giáo, môn “Lịch sử Phật giáo Đông Nam Á”, khóa XIII, 2021.
  5. Trần Quang Thuận, “Phật giáo trong dòng lịch sử văn hóa Campuchia”, NXB. Hồng Đức, 2016, tr. 238.

Tin khác

Cùng chuyên mục

error: Nội dung được bảo mật !!