Thứ Bảy, 26 Tháng Mười Một 2022
Luật tạng Phân Tích Giới Tỳ-khưu Ni (Phẩm dù dép)

Phân Tích Giới Tỳ-khưu Ni (Phẩm dù dép)

Phẩm dù dép



1. ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT

  1. Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư sử dụng dù dép. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: – “Tại sao các tỳ khưu ni lại sử dụng dù dép, giống như các cô gái tại gia hưởng dục vậy?” Các tỳ khưu ni đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai.

Các tỳ khưu ni nào ít ham muốn, ―(như trên)― các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: – “Vì sao các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư lại sử dụng dù dép?” ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư sử dụng dù dép, có đúng không vậy?” – “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: ―(như trên)― Này các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư lại sử dụng dù dép vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy:

Vị tỳ khưu ni nào sử dụng dù dép thì phạm tội pācittiya.

Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu ni như thế.

  1. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu ni nọ bị bệnh. Không có dù dép vị ni ấy không được thoải mái. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, ta cho phép dù dép đối với vị tỳ khưu ni bị bệnh. Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy:

Vị tỳ khưu ni nào không bị bệnh sử dụng dù dép thì phạm tội pācittiya.

Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ―(như trên)―

Tỳ khưu ni: ―(như trên)― vị ni này là ‘vị tỳ khưu ni’ được đề cập trong ý nghĩa này.

Không bị bệnh nghĩa là không có dù dép vị ni ấy vẫn thoải mái.

Bị bệnh nghĩa là không có dù dép vị ni ấy không được thoải mái.

 nghĩa là có ba loại dù: dù trắng, dù bằng sậy, dù bằng lá được buộc theo vòng tròn.

Sử dụng: Vị ni sử dụng dầu chỉ một lần (cũng) phạm tội pācittiya.

Không bị bệnh, nhận biết là không bị bệnh, vị ni sử dụng dù dép thì phạm tội pācittiya. Không bị bệnh, có sự hoài nghi, vị ni sử dụng dù dép thì phạm tội pācittiya. Không bị bệnh, (lầm) tưởng là bị bệnh, vị ni sử dụng dù dép thì phạm tội pācittiya.

Vị ni sử dụng dù không (sử dụng) dép thì phạm tội dukkaṭa. Vị ni sử dụng dép không (sử dụng) dù thì phạm tội dukkaṭa. Bị bệnh, (lầm) tưởng là không bị bệnh, phạm tội dukkaṭa. Bị bệnh, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa. Bị bệnh, nhận biết là bị bệnh thì vô tội.

Vị ni bị bệnh, vị ni mang trong tu viện, (mang) trong vùng phụ cận tu viện, trong những lúc có sự cố, vị ni bị điên, ―(như trên)― vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.”

Điều học thứ nhất.

–ooOoo–

4. 9. 2. ĐIỀU HỌC THỨ NHÌ

  1. Duyên khởi ở thành Sāvatthī: Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư di chuyển bằng xe. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: – “Tại sao các tỳ khưu ni lại di chuyển bằng xe, giống như các cô gái tại gia hưởng dục vậy?” Các tỳ khưu ni đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ni nào ít ham muốn, ―(như trên)― các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: – “Vì sao các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư lại di chuyển bằng xe?” ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư di chuyển bằng xe, có đúng không vậy?” – “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: ―(như trên)― Này các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư lại di chuyển bằng xe vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy:

Vị tỳ khưu ni nào di chuyển bằng xe thì phạm tội pācittiya.

Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu ni như thế.

  1. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu ni nọ bị bệnh không thể đi bằng chân. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, ta cho phép xe đối với tỳ khưu ni bị bệnh. Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy:

Vị tỳ khưu ni nào không bị bệnh di chuyển bằng xe thì phạm tội pācittiya.

  1. Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ―(như trên)―

Tỳ khưu ni: ―(như trên)― vị ni này là ‘vị tỳ khưu ni’ được đề cập trong ý nghĩa này.

Không bị bệnh nghĩa là vị ni ấy có thể đi bằng chân.

Bị bệnh nghĩa là vị ni ấy không thể đi bằng chân.

Xe nghĩa là xe bò, xe kéo, xe hàng, xe ngựa, kiệu khiêng, ghế khiêng.

Di chuyển: Vị ni di chuyển (bằng xe) dầu chỉ một lần (cũng) phạm tội pācittiya.

Không bị bệnh, nhận biết là không bị bệnh, vị ni di chuyển bằng xe thì phạm tội pācittiya. Không bị bệnh, có sự hoài nghi, vị ni di chuyển bằng xe thì phạm tội pācittiya. Không bị bệnh, (lầm) tưởng là bị bệnh, vị ni di chuyển bằng xe thì phạm tội pācittiya.

Bị bệnh, (lầm) tưởng là không bị bệnh, phạm tội dukkaṭa. Bị bệnh, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa. Bị bệnh, nhận biết là bị bệnh thì vô tội.

Vị ni bị bệnh, trong những lúc có sự cố, vị ni bị điên, ―(như trên)― vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.”

Điều học thứ nhì.

–ooOoo–

4. 9. 3. ĐIỀU HỌC THỨ BA

  1. Duyên khởi ở thành Sāvatthī: Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu ni nọ thường lui tới với gia đình của người đàn bà nọ. Khi ấy, người đàn bà ấy đã nói với vị tỳ khưu ni ấy điều này: – “Thưa ni sư, xin hãy trao vật trang sức ở hông này cho người đàn bà tên này.” Khi ấy, vị tỳ khưu ni ấy (nghĩ rằng): “Nếu ta dùng bình bát đựng rồi đi thì ta sẽ không nhớ” nên đã buộc vào rồi đi. Khi cô ni ấy ở trên đường lộ, sợi chỉ bị đứt khiến (các vật kết vào) bị văng tung toé. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: – “Tại sao các tỳ khưu ni lại mang vật trang sức ở hông, giống như các cô gái tại gia hưởng dục vậy?” Vị tỳ khưu ni ấy trong khi bị những người ấy chế giễu đã xấu hổ. Sau đó, vị tỳ khưu ni ấy đã đi về chỗ ngụ và kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu ni. Các tỳ khưu ni ít ham muốn, ―(như trên)―, các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: – “Vì sao tỳ khưu ni lại mang vật trang sức ở hông?” ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, nghe nói vị tỳ khưu ni mang vật trang sức ở hông, có đúng không vậy?” – “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: ―(như trên)― Này các tỳ khưu, vì sao tỳ khưu ni lại mang vật trang sức ở hông vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy:

Vị tỳ khưu ni nào mang vật trang sức ở hông thì phạm tội pācittiya.

  1. Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ―(như trên)―

Tỳ khưu ni: ―(như trên)― vị ni này là ‘vị tỳ khưu ni’ được đề cập trong ý nghĩa này.

Vật trang sức ở hông nghĩa là bất cứ loại gì quàng ở hông.

Mang: Vị ni mang vào dầu chỉ một lần (cũng) phạm tội pācittiya.

Do nguyên nhân bị bệnh, vị ni mang băng vải buộc ở hông, vị ni bị điên, ―(như trên)― vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.”

Điều học thứ ba.

–ooOoo–

4. 9. 4. ĐIỀU HỌC THỨ TƯ

  1. Duyên khởi ở thành Sāvatthī: Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu ni nhóm Lục Sư đeo đồ trang sức của phụ nữ. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: – “Tại sao các tỳ khưu ni lại đeo đồ trang sức của phụ nữ, giống như các cô gái tại gia hưởng dục vậy?” Các tỳ khưu ni đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ni nào ít ham muốn, ―(như trên)― các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: – “Vì sao các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư lại đeo đồ trang sức của phụ nữ?” ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư đeo đồ trang sức của phụ nữ, có đúng không vậy?” – “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: ―(như trên)― Này các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư lại đeo đồ trang sức của phụ nữ vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy:

Vị tỳ khưu ni nào đeo đồ trang sức của phụ nữ thì phạm tội pācittiya.

  1. Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ―(như trên)―

Tỳ khưu ni: ―(như trên)― vị ni này là ‘vị tỳ khưu ni’ được đề cập trong ý nghĩa này.

Đồ trang sức của phụ nữ nghĩa là vật đeo ở đầu, vật đeo ở cổ, vật đeo ở cánh tay, vật đeo ở bàn chân, vật đeo ở hông.

Đeo: Vị ni đeo vào dầu chỉ một lần (cũng) phạm tội pācittiya.

Do nguyên nhân bị bệnh, vị ni bị điên, ―(như trên)― vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.”

Điều học thứ tư.

–ooOoo–

4. 9. 5. ĐIỀU HỌC THỨ NĂM

  1. Duyên khởi ở thành Sāvatthī: Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư tắm bằng vật thơm có màu sắc. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: – “Tại sao các tỳ khưu ni lại tắm bằng vật thơm có màu sắc, giống như các cô gái tại gia hưởng dục vậy?” Các tỳ khưu ni đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ni nào ít ham muốn, ―(như trên)― các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: – “Vì sao các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư lại tắm bằng vật thơm có màu sắc?” ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư tắm bằng vật thơm có màu sắc, có đúng không vậy?” – “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: ―(như trên)― Này các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư lại tắm bằng vật thơm có màu sắc vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy:

Vị tỳ khưu ni nào tắm bằng vật thơm có màu sắc thì phạm tội pācittiya.

  1. Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ―(như trên)―

Tỳ khưu ni: ―(như trên)― vị ni này là ‘vị tỳ khưu ni’ được đề cập trong ý nghĩa này.

Vật thơm nghĩa là bất cứ vật gì có mùi thơm.

(Vật) có màu sắc nghĩa là bất cứ vật gì có màu sắc.

Tắm: Vị ni tắm, trong lúc tiến hành thì phạm tội dukkaṭa. Khi hoàn tất việc tắm phạm tội pācittiya.

Do nguyên nhân bị bệnh, vị ni bị điên, ―(như trên)― vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.”

Điều học thứ năm.

–ooOoo–

4. 9. 6. ĐIỀU HỌC THỨ SÁU

  1. Duyên khởi ở thành Sāvatthī: Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư tắm bằng bã dầu mè có tẩm hương. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: – “Tại sao các tỳ khưu ni lại tắm bằng bã dầu mè có tẩm hương, giống như các cô gái tại gia hưởng dục vậy?” Các tỳ khưu ni đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ni nào ít ham muốn, ―(như trên)― các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: – “Vì sao các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư lại tắm bằng bã dầu mè có tẩm hương?” ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư tắm bằng bã dầu mè có tẩm hương, có đúng không vậy?” – “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: ―(như trên)― Này các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư lại tắm bằng bã dầu mè có tẩm hương vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy:

Vị tỳ khưu ni nào tắm bằng bã dầu mè có tẩm hương thì phạm tội pācittiya.

  1. Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ―(như trên)―

Tỳ khưu ni: ―(như trên)― vị ni này là ‘vị tỳ khưu ni’ được đề cập trong ý nghĩa này.

Có tẩm hương nghĩa là bất cứ vật gì có tẩm hương thơm.

Bã dầu mè nghĩa là xác hạt mè được đề cập đến.

Tắm: Vị ni tắm, trong lúc tiến hành thì phạm tội dukkaṭa. Khi hoàn tất việc tắm thì phạm tội pācittiya.

Do nguyên nhân bị bệnh, vị ni tắm bằng bã dầu mè loại bình thường, vị ni bị điên, ―(như trên)― vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.”

Điều học thứ sáu.

–ooOoo–

4. 9. 7. ĐIỀU HỌC THỨ BẢY

  1. Duyên khởi ở thành Sāvatthī: Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni bảo tỳ khưu ni xoa bóp và chà xát (cơ thể). Dân chúng trong khi đi dạo quanh các trú xá nhìn thấy rồi phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: – “Tại sao các tỳ khưu ni lại bảo tỳ khưu ni xoa bóp và chà xát (cơ thể), giống như các cô gái tại gia hưởng dục vậy?” Các tỳ khưu ni đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ni nào ít ham muốn, ―(như trên)― các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: – “Vì sao các tỳ khưu ni lại bảo tỳ khưu ni xoa bóp và chà xát (cơ thể)?” ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni bảo tỳ khưu ni xoa bóp và chà xát (cơ thể), có đúng không vậy?” – “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: ―(như trên)― Này các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni lại bảo tỳ khưu ni xoa bóp và chà xát (cơ thể), vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy:

Vị tỳ khưu ni nào bảo tỳ khưu ni xoa bóp và chà xát (cơ thể) thì phạm tội pācittiya.

  1. Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ―(như trên)―

Tỳ khưu ni: ―(như trên)― vị ni này là ‘vị tỳ khưu ni’ được đề cập trong ý nghĩa này.

(Bởi) vị tỳ khưu ni: (bởi) vị tỳ khưu ni khác.

Bảo xoa bóp: Vị ni bảo xoa bóp thì phạm tội pācittiya.

Bảo chà xát: Vị ni bảo thoa dầu (toàn thân) thì phạm tội pācittiya.

Vị ni bị bệnh, trong những lúc có sự cố, vị ni bị điên, ―(như trên)― vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.”

Điều học thứ bảy.

–ooOoo–

4. 9. 8-10. ĐIỀU HỌC THỨ TÁM-CHÍN-MƯỜI

  1. Duyên khởi ở thành Sāvatthī: Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni bảo cô ni tu tập sự xoa bóp và chà xát (cơ thể). ―(như trên)― bảo sa di ni xoa bóp và chà xát (cơ thể). ―(như trên)― bảo người nữ tại gia xoa bóp và chà xát (cơ thể). Dân chúng trong khi đi dạo quanh các trú xá nhìn thấy rồi phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: – “Tại sao các tỳ khưu ni lại bảo người nữ tại gia xoa bóp và chà xát (cơ thể), giống như các cô gái tại gia hưởng dục vậy?” Các tỳ khưu ni đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ni nào ít ham muốn, ―(như trên)― các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: – “Vì sao các tỳ khưu ni lại bảo người nữ tại gia xoa bóp và chà xát (cơ thể)?” ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni bảo người nữ tại gia xoa bóp và chà xát (cơ thể), có đúng không vậy?” – “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: ―(như trên)― Này các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni lại bảo người nữ tại gia xoa bóp và chà xát (cơ thể) vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy:

Vị tỳ khưu ni nào bảo người nữ tại gia xoa bóp và chà xát (cơ thể) thì phạm tội pācittiya.

  1. Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ―(như trên)―

Tỳ khưu ni: ―(như trên)― vị ni này là ‘vị tỳ khưu ni’ được đề cập trong ý nghĩa này.

Cô ni tu tập sự nghĩa là người nữ thực hành việc học tập về sáu pháp trong hai năm.

Sa di ni nghĩa là người nữ có liên quan đến mười điều học.

Người nữ tại gia nghĩa là đề cập đến người nữ ở gia đình.

Bảo xoa bóp: Vị ni bảo xoa bóp thì phạm tội pācittiya.

Bảo chà xát: Vị ni bảo thoa dầu (toàn thân) thì phạm tội pācittiya.

Vì nguyên nhân bệnh, trong những lúc có sự cố, vị ni bị điên, ―(như trên)― vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.”

Các điều học thứ tám-chín-mười.

–ooOoo–

4. 9. 11. ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI MỘT

  1. Duyên khởi ở thành Sāvatthī: Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni ngồi xuống trên chỗ ngồi ở phía trước vị tỳ khưu khi chưa hỏi ý. Các tỳ khưu phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: – “Vì sao các tỳ khưu ni lại ngồi xuống trên chỗ ngồi ở phía trước vị tỳ khưu khi chưa hỏi ý?” ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni ngồi xuống trên chỗ ngồi ở phía trước vị tỳ khưu khi chưa hỏi ý, có đúng không vậy?” – “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: ―(như trên)― Này các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni lại ngồi xuống trên chỗ ngồi ở phía trước vị tỳ khưu khi chưa hỏi ý vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy:

Vị tỳ khưu ni nào ngồi xuống trên chỗ ngồi ở phía trước vị tỳ khưu khi chưa hỏi ý thì phạm tội pācittiya.

  1. Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ―(như trên)―

Tỳ khưu ni: ―(như trên)― vị ni này là ‘vị tỳ khưu ni’ được đề cập trong ý nghĩa này.

Phía trước vị tỳ khưu: Phía trước người nam đã tu lên bậc trên.

Khi chưa hỏi ý: sau khi không xin phép.

Ngồi xuống trên chỗ ngồi: vị ni ngồi xuống cho dầu ở trên mặt đất cũng phạm tội pācittiya.

Khi chưa được hỏi ý, nhận biết là chưa được hỏi ý, vị ni ngồi xuống trên chỗ ngồi thì phạm tội pācittiya. Khi chưa được hỏi ý, có sự hoài nghi, vị ni ngồi xuống trên chỗ ngồi thì phạm tội pācittiya. Khi chưa được hỏi ý, (lầm) tưởng là đã được hỏi ý, vị ni ngồi xuống trên chỗ ngồi thì phạm tội pācittiya.

Khi đã được hỏi ý, (lầm) tưởng là chưa được hỏi ý, phạm tội dukkaṭa. Khi đã được hỏi ý, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa. Khi đã được hỏi ý, nhận biết là đã được hỏi ý thì vô tội.

Vị ni hỏi ý rồi ngồi xuống trên chỗ ngồi, vị ni bị bệnh, trong những lúc có sự cố, vị ni bị điên, ―(như trên)― vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.”

Điều học thứ mười một.

–ooOoo–

4. 9. 12. ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI HAI

  1. Duyên khởi ở thành Sāvatthī: Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni hỏi câu hỏi đến vị tỳ khưu chưa được thỉnh ý trước. Các tỳ khưu phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: – “Tại sao các tỳ khưu ni lại hỏi câu hỏi ở vị tỳ khưu chưa được thỉnh ý trước?” ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni hỏi câu hỏi ở vị tỳ khưu chưa được thỉnh ý trước, có đúng không vậy?” – “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: ―(như trên)― Này các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni lại hỏi câu hỏi ở vị tỳ khưu chưa được thỉnh ý trước vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy:

Vị tỳ khưu ni nào hỏi câu hỏi ở vị tỳ khưu chưa được thỉnh ý trước thì phạm tội pācittiya.

  1. Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ―(như trên)―

Tỳ khưu ni: ―(như trên)― vị ni này là ‘vị tỳ khưu ni’ được đề cập trong ý nghĩa này.

Chưa được thỉnh ý: không có hỏi ý.

Vị tỳ khưu: người nam đã tu lên bậc trên.

Hỏi câu hỏi: Sau khi đã thỉnh ý trước về Kinh, vị ni hỏi Luật hoặc Vi Diệu Pháp thì phạm tội pācittiya. Sau khi đã thỉnh ý trước về Luật, vị ni hỏi Kinh hoặc Vi Diệu Pháp thì phạm tội pācittiya. Sau khi đã thỉnh ý trước về Vi Diệu Pháp, vị ni hỏi Luật hoặc Kinh thì phạm tội pācittiya.

Khi chưa hỏi ý, nhận biết là chưa hỏi ý, vị ni hỏi câu hỏi thì phạm tội pācittiya. Khi chưa hỏi ý, có sự hoài nghi, vị ni hỏi câu hỏi thì phạm tội pācittiya. Khi chưa hỏi ý, (lầm) tưởng là đã hỏi ý, vị ni hỏi câu hỏi thì phạm tội pācittiya.

Khi đã hỏi ý, (lầm) tưởng là chưa hỏi ý, phạm tội dukkaṭa. Khi đã hỏi ý, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa. Khi đã hỏi ý, nhận biết là đã hỏi ý thì vô tội.

Vị ni hỏi sau khi đã thỉnh ý, vị ni hỏi bất cứ phạm vi nào sau khi đã thỉnh ý không giới hạn (phạm vi câu hỏi), vị ni bị điên, ―(như trên)― vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.”

Điều học thứ mười hai.

–ooOoo–

4. 9. 13. ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI BA

  1. Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu ni nọ không mặc áo lót[3]đã đi vào làng khất thực. Khi vị ni ấy đang ở trên đường lộ, các cơn gió xoáy đã hất tung y hai lớp lên. Dân chúng đã la lớn lên rằng: – “Ngực và bụng của ni sư đẹp!” Vị tỳ khưu ni ấy trong khi bị dân chúng chế giễu đã xấu hổ. Sau đó, vị tỳ khưu ni ấy đã đi về chỗ ngụ và kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu ni. Các tỳ khưu ni nào ít ham muốn, ―(như trên)― các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: – “Vì sao tỳ khưu ni không mặc áo lót lại đi vào làng?” ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, nghe nói vị tỳ khưu ni không mặc áo lót đi vào làng, có đúng không vậy?” – “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: ―(như trên)― Này các tỳ khưu, vì sao tỳ khưu ni không mặc áo lót lại đi vào làng vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy:

Vị tỳ khưu ni nào không mặc áo lót đi vào làng thì phạm tội pācittiya.

  1. Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ―(như trên)―

Tỳ khưu ni: ―(như trên)― vị ni này là ‘vị tỳ khưu ni’ được đề cập trong ý nghĩa này.

Không mặc áo lót: thiếu đi áo lót.

Áo lót nghĩa là nhằm mục đích che kín phần dưới xương đòn (ở cổ) và phần trên lỗ rún.

Đi vào làng: Vị ni trong lúc vượt qua hàng rào của làng được rào lại thì phạm tội pācittiya. Vị ni trong lúc đi vào vùng phụ cận của làng không được rào lại thì phạm tội pācittiya.

Vị ni có y bị cướp đoạt, vị ni có y bị hư hỏng, vị ni bị bệnh, khi bị thất niệm, trong lúc không biết, trong những lúc có sự cố, vị ni bị điên, ―(như trên)― vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.”

Điều học thứ mười ba.

Phẩm Dù Dép là thứ chín.

–ooOoo–

Bạch chư đại đức ni, một trăm sáu mươi sáu điều pācittiya đã được đọc tụng xong.[4] Trong các điều ấy, tôi hỏi các đại đức ni rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Đến lần thứ nhì, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Đến lần thứ ba, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Chư đại đức ni được thanh tịnh nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.

–ooOoo–

TÓM LƯỢC PHẨM NÀY

Dù, và xe, vật trang sức ở hông, đồ nữ trang, vật thơm, bã dầu mè, vị tỳ khưu ni, cô ni tu tập sự, và vị sa di ni, với người nữ tại gia, khi chưa hỏi ý, việc thỉnh ý trước, với vị không mặc áo lót là mười ba.”

–ooOoo–

TÓM LƯỢC CÁC PHẨM

Tỏi, và bóng tối, lõa thể, và liên quan việc nằm chung, (nhà) triển lãm, tu viện, và sản phụ, thiếu nữ, dù và dép.

Dứt phần nhỏ nhặt.

–ooOoo–

5. CÁC ĐIỀU PĀṬIDESANĪYA

Bạch chư đại đức ni, tám điều pāṭidesanīya này được đưa ra đọc tụng.

5. 1. ĐIỀU HỌC PĀṬIDESANĪYA THỨ NHẤT

  1. Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư yêu cầu bơ lỏng rồi thọ dụng. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: – “Vì sao các tỳ khưu ni lại yêu cầu bơ lỏng rồi thọ dụng? Khi được đầy đủ ai mà không vừa ý? Đồ ngon ngọt ai lại không thích thú?” Các tỳ khưu ni đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai.

  1. Các tỳ khưu ni nào ít ham muốn, ―(như trên)― các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: – “Vì sao các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư lại yêu cầu bơ lỏng rồi thọ dụng?” ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni yêu cầu bơ lỏng rồi thọ dụng, có đúng không vậy?” – “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: ―(như trên)― Này các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư lại yêu cầu bơ lỏng rồi thọ dụng vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy:

“Vị tỳ khưu ni nào yêu cầu bơ lỏng rồi thọ dụng, vị tỳ khưu ni ấy nên thú nhận rằng: ‘Bạch chư đại đức ni, tôi đã vi phạm tội đáng chê trách, không có ích lợi, cần phải thú nhận; tôi xin thú nhận tội ấy.’”

Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu ni như thế.

  1. Vào lúc bấy giờ, có các tỳ khưu ni bị bệnh. Các tỳ khưu ni thăm hỏi bệnh tình đã nói với các tỳ khưu ni bị bệnh điều này: – “Này các ni sư, sức khoẻ có khá không? Mọi việc có được thuận tiện không?” – “Này các ni sư, trước đây chúng tôi yêu cầu bơ lỏng rồi thọ dụng, nhờ thế chúng tôi được thoải mái. Giờ đây, (nghĩ rằng): ‘Đức Thế Tôn đã cấm đoán,’ trong lúc ngần ngại nên không yêu cầu, vì thế chúng tôi không được thoải mái.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu ni bị bệnh được yêu cầu bơ lỏng rồi thọ dụng. Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy:

“Vị tỳ khưu ni nào không bị bệnh yêu cầu bơ lỏng rồi thọ dụng, vị tỳ khưu ni ấy nên thú nhận rằng: ‘Bạch chư đại đức ni, tôi đã vi phạm tội đáng chê trách, không có ích lợi, cần phải thú nhận; tôi xin thú nhận tội ấy.’”

  1. Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ―(như trên)―

Tỳ khưu ni: ―(như trên)― vị ni này là ‘vị tỳ khưu ni’ được đề cập trong ý nghĩa này.

Không bị bệnh nghĩa là vị có được sự thoải mái khi không có bơ lỏng.

Bị bệnh nghĩa là vị không có sự thoải mái khi không có bơ lỏng.

Bơ lỏng nghĩa là bơ lỏng từ loài bò, hoặc là bơ lỏng từ loài dê, hoặc là bơ lỏng từ loài trâu, hoặc bơ lỏng từ các loài thú nào có thịt được phép (thọ dụng).[5]

Vị ni không bị bệnh yêu cầu cho nhu cầu của bản thân, trong lúc tiến hành thì phạm tội dukkaṭa. (Nghĩ rằng): “Với sự đạt được, ta sẽ thọ dụng” rồi thọ lãnh thì phạm tội dukkaṭa. Mỗi lần nuốt xuống thì phạm tội pāṭidesanīya.

Không bị bệnh, nhận biết là không bị bệnh, vị ni yêu cầu bơ lỏng rồi thọ dụng thì phạm tội pāṭidesanīya. Không bị bệnh, có sự hoài nghi, vị ni yêu cầu bơ lỏng rồi thọ dụng thì phạm tội pāṭidesanīya. Không bị bệnh, (lầm) tưởng là bị bệnh, vị ni yêu cầu bơ lỏng rồi thọ dụng thì phạm tội pāṭidesanīya.

Bị bệnh, (lầm) tưởng là không bị bệnh, phạm tội dukkaṭa. Bị bệnh, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa. Bị bệnh, nhận biết là bị bệnh thì vô tội.

Vị ni bị bệnh, sau khi bị bệnh rồi yêu cầu thì hết bệnh và thọ dụng, vị ni thọ dụng phần còn lại của vị ni bị bệnh, của các thân quyến, của những người nói lời thỉnh cầu, vì nhu cầu của vị khác, bằng vật sở hữu của bản thân, vị ni bị điên, ―(như trên)― vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.”

Điều học Pāṭidesanīya thứ nhất.

–ooOoo–

5. 2-8. ĐIỀU HỌC PĀṬIDESANĪYA THỨ HAI – THỨ TÁM

  1. Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư yêu cầu dầu ăn rồi thọ dụng. ―(như trên)― yêu cầu mật ong rồi thọ dụng. ―(như trên)― yêu cầu đường mía rồi thọ dụng. ―(như trên)― yêu cầu cá rồi thọ dụng. ―(như trên)― yêu cầu thịt rồi thọ dụng. ―(như trên)― yêu cầu sữa tươi rồi thọ dụng. ―(như trên)― yêu cầu sữa đông rồi thọ dụng. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: – “Vì sao các tỳ khưu ni lại yêu cầu sữa đông rồi thọ dụng? Khi được đầy đủ ai mà không vừa ý? Đồ ngon ngọt ai lại không thích thú?” Các tỳ khưu ni đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai.

  1. Các tỳ khưu ni nào ít ham muốn, ―(như trên)― các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: – “Vì sao các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư lại yêu cầu sữa đông rồi thọ dụng?” ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni yêu cầu sữa đông rồi thọ dụng, có đúng không vậy?” – “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: ―(như trên)― Này các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư lại yêu cầu sữa đông rồi thọ dụng vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy:

 “Vị tỳ khưu ni nào yêu cầu sữa đông rồi thọ dụng, vị tỳ khưu ni ấy nên thú nhận rằng: ‘Bạch chư đại đức ni, tôi đã vi phạm tội đáng chê trách, không có ích lợi, cần phải thú nhận; tôi xin thú nhận tội ấy.’”

Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu ni như thế.

  1. Vào lúc bấy giờ, có các tỳ khưu ni bị bệnh. Các tỳ khưu ni thăm hỏi bệnh tình đã nói với các tỳ khưu ni bị bệnh điều này: – “Này các ni sư, sức khoẻ có khá không? Mọi việc có được thuận tiện không?” – “Này các ni sư, trước đây chúng tôi yêu cầu sữa đông rồi thọ dụng, nhờ thế chúng tôi được thoải mái. Giờ đây, (nghĩ rằng): ‘Đức Thế Tôn đã cấm đoán,’ trong lúc ngần ngại nên không yêu cầu, vì thế chúng tôi không được thoải mái.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu ni bị bệnh được yêu cầu sữa đông rồi thọ dụng. Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy:

“Vị tỳ khưu ni nào không bị bệnh yêu cầu sữa đông rồi thọ dụng, vị tỳ khưu ni ấy nên thú nhận rằng: ‘Bạch chư đại đức ni, tôi đã vi phạm tội đáng chê trách, không có ích lợi, cần phải thú nhận; tôi xin thú nhận tội ấy.’”

  1. Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ―(như trên)―

Tỳ khưu ni: ―(như trên)― vị ni này là ‘vị tỳ khưu ni’ được đề cập trong ý nghĩa này.

Không bị bệnh nghĩa là vị có được sự thoải mái khi không có sữa đông. Bị bệnh nghĩa là vị không có sự thoải mái khi không có sữa đông. Dầu ăn nghĩa là dầu mè, dầu hạt mù tạt, dầu có chứa mật ong, dầu cây eraṇḍa, dầu từ mỡ thú. Mật ong nghĩa là mật của loài ong. Đường mía nghĩa là được sản xuất từ cây mía.  nghĩa là loài di chuyển trong nước được đề cập đến. Thịt nghĩa là thịt của các loài thú nào có thịt được phép (thọ dụng). Sữa tươi nghĩa là sữa tươi từ loài bò, hoặc là sữa tươi từ loài dê, hoặc là sữa tươi từ loài trâu, hoặc là sữa tươi từ các loài thú nào có thịt được phép (thọ dụng). Sữa đông nghĩa là sữa đông của chính các loài thú ấy.

Vị ni không bị bệnh yêu cầu cho nhu cầu của bản thân, trong lúc tiến hành thì phạm tội dukkaṭa. (Nghĩ rằng): “Với sự đạt được, ta sẽ thọ dụng” rồi thọ lãnh thì phạm tội dukkaṭa. Mỗi lần nuốt xuống thì phạm tội pāṭidesanīya.

Không bị bệnh, nhận biết là không bị bệnh, vị ni yêu cầu sữa đông rồi thọ dụng thì phạm tội pāṭidesanīya. Không bị bệnh, có sự hoài nghi, vị ni yêu cầu sữa đông rồi thọ dụng thì phạm tội pāṭidesanīya. Không bị bệnh, (lầm) tưởng là bị bệnh, vị ni yêu cầu sữa đông rồi thọ dụng thì phạm tội pāṭidesanīya.

Bị bệnh, (lầm) tưởng là không bị bệnh, phạm tội dukkaṭa. Bị bệnh, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa. Bị bệnh, nhận biết là bị bệnh thì vô tội.

Vị ni bị bệnh, sau khi bị bệnh rồi yêu cầu thì hết bệnh và thọ dụng, vị ni thọ dụng phần còn lại của vị ni bị bệnh, của các thân quyến, của những người nói lời thỉnh cầu, vì nhu cầu của vị khác, bằng vật sở hữu của bản thân, vị ni bị điên, ―(như trên)― vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.”

Điều học Pāṭidesanīya thứ tám.

–ooOoo–

  1. Bạch chư đại đức ni, tám điềupāṭidesanīyađã được đọc tụng xong. Trong các điều ấy, tôi hỏi các đại đức ni rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Đến lần thứ nhì, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Đến lần thứ ba, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Chư đại đức ni được thanh tịnh nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.

Dứt các điều Pāṭidesanīya.

–ooOoo–

6. CÁC ĐIỀU SEKHIYA

Bạch chư đại đức ni, các pháp sekhiyā này được đưa ra đọc tụng.

  1. Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư quấn y (nội) lòng thòng phía trước và phía sau. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: – “Tại sao các tỳ khưu ni lại quấn y (nội) lòng thòng phía trước và phía sau giống như các cô gái tại gia hưởng dục vậy?” Các tỳ khưu ni đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai.

  1. Các tỳ khưu ni nào ít ham muốn, ―(như trên)― các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: – “Vì sao các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư lại quấn y (nội) lòng thòng phía trước và phía sau?” ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư quấn y (nội) lòng thòng phía trước và phía sau, có đúng không vậy?” – “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: ―(như trên)― Này các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư lại quấn y (nội) lòng thòng phía trước và phía sau vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy:

“‘Ta sẽ mặc y (nội) tròn đều’ là việc học tập nên được thực hành.”

  1. Nên mặc y nội cho tròn đều với việc che kín ở vòng bụng nơi lỗ rún và vòng đầu gối. Vị ni nào mặc y nội lòng thòng ở phía trước hoặc phía sau do không có sự tôn trọng thì phạm tộidukkaṭa.

Vị ni không cố ý, khi thất niệm, vị ni không biết, vị ni bị bệnh, trong những lúc có sự cố, vị ni bị điên, ―(như trên)― vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.”

  1. Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư đại tiện, tiểu tiện, và khạc nhổ ở trong nước. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: – “Tại sao các tỳ khưu ni lại đại tiện, tiểu tiện, và khạc nhổ ở trong nước giống như các cô gái tại gia hưởng dục vậy?” Các tỳ khưu ni đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai.

  1. Các tỳ khưu ni nào ít ham muốn, ―(như trên)― các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: – “Vì sao các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư lại đại tiện, tiểu tiện, và khạc nhổ ở trong nước?” Khi ấy, các tỳ khưu ni ấy đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

  1. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã hỏi các tỳ khưu rằng: – “Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư đại tiện, tiểu tiện, và khạc nhổ ở trong nước, có đúng không vậy?” – “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: ―(như trên)― Này các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni lại đại tiện, tiểu tiện, và khạc nhổ ở trong nước vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy:

“‘Ta sẽ không đại tiện hoặc tiểu tiện hoặc khạc nhổ ở trong nước’ là việc học tập nên được thực hành.”

Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu ni như thế.

  1. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni bị bệnh ngần ngại khi đại tiện, tiểu tiện, và khạc nhổ ở trong nước. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – “Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu ni bị bệnh được đại tiện, tiểu tiện, và khạc nhổ ở trong nước. Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy:

“‘Ta sẽ không đại tiện hoặc tiểu tiện hoặc khạc nhổ ở trong nước khi không bị bệnh’ là việc học tập nên được thực hành.”

  1. Vị ni không bệnh không nên đại tiện hoặc tiểu tiện hoặc khạc nhổ ở trong nước. Vị ni nào không bị bệnh đại tiện hoặc tiểu tiện hoặc khạc nhổ ở trong nước do không có sự tôn trọng thì phạm tộidukkaṭa.

Vị ni không cố ý, khi thất niệm, vị ni không biết, vị ni bị bệnh, sau khi thực hiện trên đất rồi xối nước, trong những lúc có sự cố, vị ni bị điên, vị ni có tâm bị rối loạn, vị ni bị thọ khổ hành hạ, vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.”

Điều học thứ mười lăm.

–ooOoo–

Bạch chư đại đức ni, các pháp sekhiya đã được đọc tụng xong. Trong các điều ấy, tôi hỏi các đại đức ni rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Đến lần thứ nhì, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Đến lần thứ ba, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Chư đại đức ni được thanh tịnh nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.

Dứt Các Điều Sekhiya.

–ooOoo–

7. CÁC PHÁP DÀN XẾP TRANH TỤNG

Bạch chư đại đức ni, bảy pháp dàn xếp tranh tụng này được đưa ra đọc tụng.

  1. Nhằm đưa đến sự dàn xếp, nhằm đưa đến sự giải quyết các sự tranh tụng đã sanh khởi hoặc chưa sanh khởi, nên áp dụng cách hành xử Luật với sự hiện diện, nên áp dụng cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, nên áp dụng cách hành xử Luật khi không điên cuồng, nên phán xử theo sự thừa nhận, thuận theo số đông, theo tội của vị ấy, cách dùng cỏ che lấp.

  1. Bạch chư đại đức ni, bảy pháp dàn xếp tranh tụng đã được đọc tụng xong. Trong các điều ấy, tôi hỏi các đại đức ni rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Đến lần thứ nhì, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Đến lần thứ ba, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Chư đại đức ni được thanh tịnh nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.

Dứt các Pháp Dàn Xếp Tranh Tụng.

–ooOoo–

  1. Bạch chư đại đức ni, phần mở đầu đã được đọc tụng, tám điềupārājikađã được đọc tụng, mười bảy điều saṅghādisesa đã được đọc tụng, ba mươi điều nissaggiya pācittiya đã được đọc tụng, một trăm sáu mươi sáu điều pācittiya đã được đọc tụng, tám điều pāṭidesanīya đã được đọc tụng, các pháp sekhiyā đã được đọc tụng, bảy pháp dàn xếp tranh tụng đã được đọc tụng. Bấy nhiêu của đức Thế Tôn ấy đã được truyền lại trong giới bổn, đã được đầy đủ trong giới bổn, được đưa ra đọc tụng vào mỗi nửa tháng. Chính tất cả (chư đại đức ni) nên học tập các điều học ấy với sự hợp nhất, thân thiện, không cãi cọ.

Phân Tích Giới Tỳ Khưu Ni được chấm dứt.

BỘ PĀCITTIYAPĀḶI ĐƯỢC CHẤM DỨT.

–ooOoo–

[1] Các vị tỳ khưu có tên ở trên có liên quan đến tội saṅghādisesa thứ 10 và 11 của tỳ khưu về việc chia rẽ hội chúng và xu hướng theo kẻ đã chia rẽ hội chúng (ND).

[2] Tổng hợp điều học này và điều học trước thì hai năm chỉ có thể tiếp độ một người (ND).

[3] Áo lót là một trong năm thứ y của tỳ khưu ni: Y hai lớp (saṅghāṭi), thượng y (uttarāsaṅgo), y nội (antaravāsako), áo lót (saṅkaccikaṃ), vải choàng tắm (udakasāṭikā). Năm thứ y này cần phải có khi tu lên bậc trên (Cullavagga – Tiểu Phẩm tập 2, TTPV tập 07, chương X, trang 515).

[4] Lời giải thích của ngài Buddhaghosa về 166 điều học pācittiya của tỳ khưu ni được tóm lược như sau: Tổng số giới pācittiya của tỳ khưu ni là 166 điều, và đã được trình bày ở đây là 96 điều và 70 điều còn lại là những điều đã quy định chung cho tỳ khưu và tỳ khưu ni được trình bày ở Bhikkhuvibhaṅga – Phân Tich Giới Tỳ khưu. Trong số 92 điều ưng đối trị của tỳ khưu, thay vì tìm 70 điều là phần quy định chung, chúng ta sẽ bớt đi 22 điều quy định riêng cho tỳ khưu gồm có: 10 điều thuộc phần giáo giới (21-30), 4 điều thuộc phần vật thực: Trường hợp vật thực thỉnh sau (33), thọ thực thức ăn không phải là đồ thừa (35), mời thức ăn không phải là đồ thừa rồi buộc tội (36), yêu cầu các loại vật thực thượng hạng (39); thêm vào 8 điều nữa là: Bố thí đến tu sĩ ngoại đạo (41), che giấu tội xấu xa (64), cho tu lên bậc trên người chưa đủ hai mươi tuổi (65), hẹn hò rồi đi chung đường xa với người nữ (67), đi vào hậu cung của đức vua (83), vào làng lúc sái thời chưa thông báo vị tỳ khưu hiện diện (85), tọa cụ (89), y choàng tắm mưa (92). Tổng cộng là 22 điều (VinA, iv, 947-948).

[5] Thịt của mười loài thú vị tỳ khưu không được dùng gồm có: thịt người, thịt voi, thịt ngựa, thịt chó, thịt rắn, thịt sư tử, thịt hổ, thịt beo, thịt gấu, thịt chó sói (Mahāvagga – Đại Phẩm tập 2, TTPV 05, chương VI, trang 37-42).

 

 

Tin khác

Cùng chuyên mục

error: Nội dung được bảo mật !!