4 C
London
Chủ Nhật, Tháng Mười Một 28, 2021

Nữ giới qua lăng kính người xưa

- Advertisement -
- Advertisement -

Tham luận trong buổi tọa đàm chủ đề “Ni giới Đồng Nai đồng hành cùng dân tộc”
Ngày 21/3/2018, TP. Biên Hòa, Đồng Nai

《HĐ》Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam mô Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Như Lai tác đại chứng minh,
Ngưỡng bạch chư Tôn Hòa thượng chứng minh,
Kính bạch chư Tôn đức Tăng Già Nhị Bộ,
Kính thưa chư vị khách quý, quý nhân hào trí thức, nam nữ Phật tử gần xa,
Kính thưa quý liệt vị,

Nhận lời mời của Ban Tổ chức tham dự Lễ Tưởng niệm Thánh Tổ Ni Đại Ái Đạo, lời đầu tiên chúng con kính nguyện chư Tôn Hòa thượng Chứng minh, chư Tôn đức Tăng già nhị bộ pháp lạc vô biên, hóa duyên vô ngại. Hằng nguyện chư vị khách quý, thân hào nhân sĩ, cùng các nam nữ Phật tử gần xa an lạc trong cuộc sống, thành đạt trong sự nghiệp. Kính chúc Lễ Tưởng niệm thành công tốt đẹp.

Thời hừng đông của nhân loại kể từ khi:
“Âu Cơ địu nắng theo chồng,
Bế trăm tiếng khóc qua sông sóng cồn
Bánh chưng vuông, bánh giày tròn
Tay nâng, tay bọc nước non bao đời.”
Là ý thức hệ của giới phụ nữ đẩy đà cho dốc sinh tồn của họ ngày càng đạt đỉnh cao về mọi mặt trong cuộc sống đời thường. Xa xưa, biết bao nữ tướng cân quốc anh hùng, đã phơi giọt máu đào cho lịch sử mãi lưu danh từng thế hệ. Phạm Thị Trinh, Võ Thị Sáu đã vang lời thơ giữ nước an dân:

“Tấm thân phó thác cùng mưa nắng
Tấc dạ xin thề với nước dân
Tay trắng quyết giương cờ xã hội
Máu đào nguyện rửa sạch non sông.”

Ngược dòng thời gian, chúng ta đã và đang lắng nghe lại âm thanh của dòng “sông Hát”, một ngày u buồn đã cuốn trôi thân xác nhị vị Trưng Vương. Chiến công kia, hình ảnh này mãi đậm tô khí phách liệt nữ, cho giới nữ lưu soi gương tiến bước.
Đến với Đồng Nai, mừng Đại lễ Tưởng niệm Đức Thánh Tổ Ni Kiều Đàm của hơn hai ngàn năm về trước, chúng ta nên gợi lại chút hương lòng kính trọng đức Tổ Nguyên Thiều và công chúa Ngọc Vạn mở cờ ba trăm năm khai quật mảnh đất Đồng Nai vươn mình theo nắng ấm.

“Vói tay khơi nhẹ hương ngày cũ
Mường tượng như mình gặp cố nhân.”

Từ vương triều quý tộc đến mệnh phụ phu nhân và lan tỏa chốn thị thành dân quê chất phác, tất cả tuy có khác nhau về dáng vẻ bên ngoài, nhưng trong sâu thẳm của tâm linh, qua ý niệm “nước mắt cùng mặn và dòng máu cùng đỏ” là mẫu số chung của muôn loài theo lời Phật dạy.
a) Giáo điển
Phật thuyết Long Thí Nữ Kinh, Đạo Hành Bát Nhã Kinh, Duy Ma Kinh, Thuận Quyền Phương Tiện Kinh, A Xà Thế Vương A Thuật Đạt Bồ Tát Kinh, Đại Tịnh Pháp môn Kinh, Bảo Nữ Sở Vấn Kinh, Tu Ma Đề Bồ Tát và Kinh Phật Thuyết Vô Cấu Hiền Bồ Tát đều chung chủ đích cho rằng làm người nữ là vinh hạnh, vì tín tâm đầy đủ, thế nên việc chuyển nữ thành nam cần có nhiều nghiên cứu và suy nghĩ, để mỗi người, mỗi giới trong tu chứng đều đạt đến đỉnh hạnh phúc tối thượng.
b) Quả vị tu chứng
Tinh thần bình đẳng thời Phật là cơ bản cho nữ giới niềm tin son sắt. Xét rằng quả vị A la hán không phân biệt nam nữ và đồng tu học Phật pháp, miên mật Giới luật, người nam có thể làm Phật được đương nhiên người nữ cũng không ngoại lệ.
Song đứng từ góc độ tâm lí và sinh lí của người nữ quán sát, chúng ta không thể phủ nhận: nữ giới nói chung là có nhiều yếu đuối, do dự và có tính ỷ lại nặng hơn nam giới. Cho nên, vì để bảo hộ cuộc sống của người nữ an toàn, khích lệ người nữ trở thành “Long chủng” trong Phật môn, người nữ khi gia nhập Tăng đoàn, phải luôn vâng giữ Bát Kỉnh Pháp để tôn vinh khoảng cách và niềm kính ngưỡng đối với chư Tăng.
c) Thời phong kiến
Một số thành kiến xã hội căn cứ theo những thần thoại, con trai được giới thiệu là con của Thượng Đế, ngược lại nữ giới chưa bao giờ được ban cho địa vị là con gái của Thượng Đế. Từ đó, họ không có quyền lợi nào cơ bản trong sinh hoạt đời thường, người nữ gần như trở thành một nhân vật bị động và thừa thãi trong gia đình, thậm chí họ không được đến những nơi lễ bái, thừa hưởng gia tài của cha mẹ và trong hôn nhân tiên quyết là phải sanh được một nam nhi, nếu không, địa vị làm vợ của họ sẽ bị thay đổi thẳng thừng, không thương tiếc.
Đức Phật, qua nét nhìn cơ bản “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh, nhất thiết chúng sanh giai kham tác Phật”, Ngài là người đầu tiên giải phóng sự kỳ thị cho Nữ giới, và đưa họ lên đỉnh cao của văn hóa.
d) Thời cận đại
Susan B Anthony, người nữ Hoa Kỳ đã tiên phong tranh đấu cho Nữ giới từ năm 1848. Sau đó, Hội Quốc Liên nhỏ bé rồi đến Liên Hiệp Quốc lớn mạnh đã xác lập và khẳng định người nữ có một vai trò khả thi, trong tinh thần đoàn kết cùng phái nam góp phần xây dựng xã hội, tôn giáo tốt đẹp, một quốc gia văn minh, dân tộc hào cường lịch lãm.
Đến với tỉnh Đồng Nai, qua ba trăm năm khai quật đời sống cho dân tộc, chúng ta không thể quên được Công chúa Ngọc Vạn là người tiêu biểu cho nữ giới luôn ưu thời mẫn thế. Nàng là con của Chúa sãi Nguyễn Phước Nguyên cai trị Đàng Trong (từ năm 1613 – 1620), Chúa đã hợp hôn Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp Chey Chetta II, sau đó, Vương phi Ngọc Vạn xin vua cho người Việt được phép khai quật và làm ăn sinh sống ở vùng đất thuộc lưu vực sông Đồng Nai.
Nhờ công chúa Ngọc Vạn mà người Việt đến sống ở vùng đất lưu vực sông Đồng Nai ngày càng đông đảo, phát triển và thịnh vượng. Đến năm 1698, Chúa Nguyễn Phước Châu (1691 – 1728) mới chính thức xác nhập vùng đất này vào lãnh thổ Đàng Trong, khi Chúa sai Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh Kinh lược vùng đất Đồng Nai, lập thành phủ Gia Định.
Trong giai đoạn này, Đồng Nai còn quá nhiều hoang sơ, rừng thiêng nước độc, rất khó khăn cho người dân sinh sống, qua câu ca dao của người xưa: “Dưới sông đỉa lội, trên bờ cọp um”, đã hình thành sự gian khổ, vượt khó để xây dựng tỉnh Đồng Nai hoành tráng như hôm nay. Chắc chắn, qua tinh thần “mái chùa che chở hồn dân tộc”, tiếng chuông đồng vọng, lời Kinh ngân nga làm ấm lòng bao người dân nghèo khổ, nhiều chư Ni nổi danh được sử sách xưa kể lại như: Ni sư Lượng trụ trì ở núi Châu Thới, Ni cô Lê Thị Nữ tu ở núi Thị Vải, Ni cô Tống Thị Liên ở Hà Tiên, Ni cô Vân Dương ở Huế… Còn rất nhiều nữ tu sĩ Phật giáo vừa tu hành vừa an ủi giúp dân vững tin cuộc sống ruộng lúa nương khoai.
Đặc biệt ở đây, mảnh đất Đồng Nai có thể tri ân đến Ni sư Lượng, người đã lập Am “Vân Tĩnh” bên cạnh núi Châu Thới thuộc thành phố Biên Hòa tỉnh Đồng Nai và công chúa Ngọc Anh, người con gái thứ ba của Gia Long Nguyễn Ánh. Vì sự hưng vong của đất nước, công chúa Ngọc Anh đã lập lời nguyện: Nếu Nguyễn vương thắng được Tây sơn, khôi phục cơ đồ nhà Nguyễn thì nàng sẽ xuống tóc xuất gia. Lời cầu nguyện linh ứng này đã đưa cô công chúa lá ngọc cành vàng rũ bỏ mái tóc xanh tại chùa Đại Giác vào năm 1802 sau khi vua Gia Long lên ngôi và chính công chúa Ngọc Anh là vị Ni đầu tiên trùng tu lại chùa Đại Giác.
Nhìn từng góc độ xưa và nay, chúng ta không thể nắm bắt được trọn vẹn những nét đẹp tuyệt vời, những gương hy sinh đầy gian khổ. Tuy không sánh bằng những bước chân hóa đạo của Tổ ni Kiều Đàm và các Thánh chúng Ni ngày xưa trên đất Ấn, nhưng qua Ni sư Lượng, công chúa Ngọc Vạn… cho nữ giới nói chung niềm kiêu hãnh tuyệt vời, một sự dấn thân âm thầm, dù bàn tay bé bỏng, phận gái tơ đào, vẫn góp phần không nhỏ cho việc dựng nước và giữ nước từ ngàn xưa đến ngàn sau.
Bằng niềm tin và lòng trân trọng tri ân đến các bậc Tổ Sư, xin toàn thể chư Ni tỉnh Đồng Nai và những người con gái của Đức Phật nói chung luôn vững tiến, nâng tầm trí tuệ và từ bi trong mọi lĩnh vực để ranh giới không còn dị biệt, qua phân. Chỉ ngần ấy thôi Kiều Đàm Tổ Ni ngày xưa và chư Ni ngày nay đồng chan hòa sức sống.

Di mẫu Ca Tỳ từng vang tiếng
Xuất gia tu học vẹn đời Ni
Bát Kỉnh hằng tôn vương ánh Đạo
Lưu nghìn thế kỷ vạn người soi.

Chân thành cảm ơn chư Tôn đức và quý vị đã chú ý lắng nghe.
Nam mô Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Như Lai tác đại chứng minh.

TKN. Như Như

- Advertisement -
Latest news
- Advertisement -
Related news
- Advertisement -