Nỗi khổ niềm vui (phần 1)

153

  Kim Hoa lưỡng lự, chưa quyết định có nên đi họp bạn với các cựu học sinh Gia Long ở Florida hay không? Thời đi học nàng có nhiều bạn, sống cuộc đời vui nhộn, trẻ trung. Cái miệng hay cười và những lời mời dai ý của nàng làm bạn bè ai cũng mến. Bây giờ, ngoài bốn mươi rồi, con cái đã lớn, vậy mà máu “tếu” vẫn còn, Hoa thèm gặp lại các bạn cũ để cười giỡn cho đã, như thuở nào còn thơ.

Thanh Tân, cô bạn thân của Hoa, đang là Chủ tịch “Hội Ái hữu cựu nữ sinh Gia Long”, ở tại Florida, đã điện thoại cho nàng mấy lần, lần nào cũng khẩn thiết mời gọi. Thanh Tân kể lại và gửi hình ảnh cả mấy lần họp bạn vào những năm trước. Hoa xúc động, tâng tiu nhìn ngắm mãi các khuôn mặt thân quen ngày cũ, nghe lòng lâng lâng với những kỷ niệm hồn nhiên, thơ mộng của tuổi học trò.

Nhưng kỷ niệm chỉ là những gì thuộc về quá khứ. Hoa biết rằng dù có gặp lại các bạn cũ, Hoa cũng khó cười đùa nhởn nhơ vì tâm hồn Hoa đang chứa đầy mặc cảm tự ti, pha lẫn với sự buồn phiền.
Gia đình Kim Hoa mới sang Mỹ chưa đầy bốn năm, theo diện H.O. Đầu tiên, định cư tại El Paso thuộc tiểu bang Texas, Hoa cảm thấy lạc lõng vì chung quanh nàng không có người Việt Nam. Gia đình nàng sống trong một chung cư rẻ tiền, lẫn lộn với những người Mễ lao động.

Nàng xin được việc làm trong một xưởng may. Chồng nàng, Khánh, nhờ khá tiếng Anh và biết chút đỉnh về kỹ thuật máy móc trong thời gian ở quân đội, được nhận làm cán sự tại hãng sản xuất máy tính điện tử. Lan, con gái lớn bây giờ đã 21 tuổi, quyết định vào Đại học, ngành Dược, thực hiện mộng ước của cô. Riêng thằng con trai của Hoa, thằng Lực, thật là đáng thương. Nó là một đứa bé tật nguyền. Nó 20 tuổi rồi mà đối với Hoa, Lực vẫn là một cậu bé con.

Lực sinh ra cái đầu to hơn mọi đứa trẻ sơ sinh khác. Cái trán vồ, cặp mắt to và lộ, cái mũi thì xẹp lép, môi dưới lại trề ra như mếu. Khánh vào thăm vợ, nhìn đứa con trai của mình, nản lắm nhưng không nói ra sợ vợ buồn. Chàng biết nó sẽ là một thằng lùn mà khi trưởng thành, cao không tới một thước. Nó sẽ không là một con người bình thường như bao người khác. Khánh ác cảm với thằng Lực ngay cái nhìn đầu tiên. Chàng tự hỏi: “Không biết nghiệp chướng oan gia gì mà nó sinh vào gia đình này, làm con của mình?”

Chàng không muốn thấy mặt nó, như muốn chối bỏ một quá khứ xấu xa vào trong tiền kiếp. Khánh thương vợ nhưng vì đứa con dị hình này, chàng bắt đầu la cà nơi quán rượu, vũ trường sau những giờ làm việc. Thiếu tá Khánh bỏ bê gia đình từ đấy.

Sau ngày 30/4, Khánh bị đi học tập cải tạo. Tuy có biết bao nhiêu người bạn sĩ quan cùng chung số phận nhưng trong thâm tâm, Khánh vẫn cho rằng thằng Lực là một điềm gở nên cuộc đời của chàng mới thê thảm như vậy.

Học tập cải tạo xong, Khánh được trở về nhà. Hoa đón chàng bằng đôi tay mở rộng. Lan nhìn cha, ánh mắt lộ vẻ thương xót nhiều hơn tình phụ tử thiêng liêng. Thằng Lực lúc bấy giờ đã 14 tuổi, nó giương “đôi mắt ốc bươu” nhìn “ông già” lạ hoắc này rồi khoanh tay cúi đầu: “Thưa cha mới về”.

Nó không đến nỗi đần độn như chàng nghĩ. Nó ngồi bán thuốc lá lẻ trước cửa nhà. Tấm thân bệnh hoạn của Khánh bây giờ trở thành gánh nặng cho gia đình. Trong người chàng đủ thứ bệnh: từ mắt tai mũi họng cho đến bộ đồ lòng; bác sĩ rờ đến đâu là có vấn đề ở đấy. Hoa vất vả hơn và thằng Lực phải bán thuốc lá cả ban đêm. Nó ngồi từ sáng sớm cho đến nửa đêm, trên chiếc ghế xếp, dưới tàng cây. Khách quen, khách lạ, ai cũng thương nên ghé mua giúp; vì vậy trên con đường này nó là người bán chạy nhất.

Hơn hai năm trời thuốc thang tẩm bổ, Khánh bình phục và lấy lại phong độ. Chàng thì trẻ ra còn Hoa cằn cỗi hẳn: mặt nám, da nhăn, bơ phờ, mệt mỏi. Thằng Lực thì chai ngắt, chẳng biết nó có thay đổi gì không? Đôi khi Khánh cũng tội nghiệp và thầm cảm ơn nó nhưng đối với chàng, dị tướng của nó vẫn là một điều xấu hổ.

Ngày đi gặp phái đoàn Mỹ phỏng vấn, Khánh hồi hộp lắm, cứ sợ phái đoàn bác bỏ hồ sơ của chàng vì có thằng Lực tật nguyền trong đó. Nhưng sự thật lại không như thế. Người Mỹ phỏng vấn gia đình chàng vốn là một người có từ tâm. Sau khi tuyên bố hồ sơ của Khánh được chấp nhận, anh ta còn nói thêm về trường hợp của Lực, nó sẽ được lãnh welfare trọn đời.

Đối với Hoa, Lực là “con nhờ con cậy”. Nó siêng năng lễ phép và sẵn sàng giúp đỡ mẹ bất cứ việc gì. Nó lại làm ra tiền phụ mẹ lo cho gia đình trong giai đoạn khó khăn. Sang Mỹ, tiền welfare lãnh ra, nó đưa hết cho mẹ. Nó không có gì riêng cho bản thân.
Hai năm trời ở El Paso, nó lúc thúc trong nhà, không bạn bè, không giao thiệp vì chẳng biết một chữ Yes, No. Hoa để ý thấy con mình ngày càng đờ đẫn, khỏe chẳng ra khỏe, bệnh chẳng ra bệnh.

Nàng nói với chồng:
– Anh à, hay là mình dọn về Houston, ở đó nhiều người Việt cho thằng Lực có bạn bè. Ở đây em thấy nó cô đơn, tội nghiệp quá.
Khánh gạt phắt đi:
– Ở đây có việc làm tốt, tự nhiên bỏ đi à? Về đấy người đông, khó kiếm việc lắm. Từ từ rồi cũng quen mà! Thì biểu nó học Anh văn hay tiếng Spanish gì đó làm quen với mấy thằng Mễ con ở quanh nhà!
– Anh nói nghe dễ quá, anh không chịu nhín thì giờ dạy con thì làm sao nó biết được! Chị nó thì bù đầu với bài vở còn tiếng Anh của em thì dở quá, nói ra chẳng ai hiểu thì làm sao em dám dạy nó?

Hoa cằn nhằn như thế nhưng cũng biết rằng Khánh không muốn ngồi gần thằng nhỏ, nếu không thấy mặt nó lại càng tốt hơn. Thằng Lực biết thân phận mình, nó cam chịu đã quen nên đối với sự ghét bỏ của cha mình, nó coi như điều dĩ nhiên.

Đôi khi Khánh cũng tự thẹn thầm vì thiếu bổn phận đối với Lực. Cái mặc cảm đó làm chàng lại càng bực bội và tìm cách vắng mặt ở nhà. Chàng theo mấy người đồng nghiệp người Mễ đi nhậu nhẹt vào cuối tuần, rồi dần dần, vào ngày thường cũng khuya lơ khuya lắc mới mò về nhà. Một năm sau, Khánh cặp bồ với cô gái Mễ còn trẻ lắm, chỉ trạc tuổi Lan là cùng. Hai người có con với nhau.

Hoa không hề ghen, tình yêu đã chết trong lòng. Nàng nghĩ dù sao đây cũng là cơ hội để nàng thoát ra và sống cuộc đời sáng sủa hơn cho các con, nhất là thằng Lực. Khánh và Hoa đồng ý li dị.

Hoa và hai con về Houston với sự giúp đỡ của người chị họ. Chị Ngọc chu đáo mướn căn nhà hai phòng, lo sẵn giường nệm, bàn ghế. Căn nhà không mới nhưng rộng rãi, có sân trước sau. Ba mẹ con đều vui vẻ, phấn khởi. Họ giã từ cái nóng ran gay gắt của El Paso không một chút luyến tiếc. Sự đối xử hững hờ của Khánh cũng không lưu lại trong lòng họ nỗi thương nhớ nào.

Ba mẹ con sống cuộc đời mới với nhiều hăng say, thoải mái. Hoa được Ngọc giới thiệu vào làm chung với chị trong hãng điện tử, công việc nhẹ nhàng hơn xưởng may mà lương lại khá hơn. Lan thì ngoài những ngày đi học, làm thêm ở nhà hàng vào cuối tuần. Các con của chị Ngọc tình nguyện dạy Lực học Anh văn. Hoa hài lòng với cuộc sống mới. Nàng vui lòng khi thấy nụ cười bắt đầu nở trên khuôn mặt chai cằn của Lực.

Một tháng sau, chị Ngọc rủ Hoa đi chùa. Chị nói:
– Cuộc sống của chúng ta sẽ nhạt nhẽo và vô nghĩa nếu mình không chú trọng vào việc phát triển tâm linh. Cơ thể cần thức ăn, cái mặc, tinh thần cũng có nhu cầu của nó. Quên đáp ứng nhu cầu của tinh thần con người sẽ trở nên khủng hoảng vì không có sự cân bằng giữa tinh thần và vật chất. Trong xã hội này, người Mỹ quá chú trọng vào việc hưởng thụ vật chất mà quên hẳn phần tâm linh nên có nhiều người bị bệnh hoạn thần kinh làm những chuyện quái dị, gây nhiều tội ác.

Hoa thầm công nhận chị có lý. Thời gian ở El Paso, tuy không dư dả gì nhưng không còn phải lo lắng vấn đề tiền nong cơm áo, đôi khi Hoa có thì giờ để tự hỏi: “Chẳng lẽ con người là một cái máy? Cứ diễn đi diễn lại chừng ấy công việc, chừng ấy động tác. Sáng thức dậy, ăn điểm tâm qua loa rồi hối hả đến sở làm. Chuông reo, nghỉ xả hơi mười phút. Làm tiếp, ăn trưa. Chiều về lo bếp núc. Tối mệt nhoài, lăn ra ngủ để sáng nghe đồng hồ reo lại hối hả thức dậy, bắt đầu một ngày cũng y như thế… Sống như vậy có gì vui? Hạnh phúc đâu phải là một chuỗi lo âu và hấp tấp như vậy? Vội vã quen rồi, cuối tuần ở nhà lại thấy thời gian sao mà thừa thãi, tâm tư trống rỗng, đầu óc bất định, nỗi buồn chán lê thê…”
Hoa dẫn Lực cùng đi chùa với chị Ngọc. Chùa ở ngoại ô. Chùa nhỏ nhưng đất rộng, chung quanh có cây to, tàng che mát rượi.

Chị Ngọc cho biết chùa do “Hội Cư sĩ” lập ra. Trước kia, chùa không có Sư nên nơi này là chỗ tụ họp của một nhóm cư sĩ có chí hướng tu học. Họ ngồi lại với nhau vào cuối tuần để nghe băng giảng, đọc sách, tụng kinh, tọa thiền; đôi khi tổ chức thọ Bát quan trai. Thỉnh thoảng họ rước Thầy về thuyết pháp. Ngày thường chùa đóng cửa.

Tình trạng này kéo dài trong ba năm. Dần dần họ cảm thấy mái chùa sao lạnh lẽo, tối tăm như ngôi nhà vắng chủ. Họ tìm thỉnh một vị Sư về trụ trì. Nhưng ở đất Mỹ người xuất gia hiếm hoi, dễ gì kiếm được. Sau cùng, nhân duyên đưa đẩy thế nào mà họ bảo lãnh được một nhà Sư ở đảo Bidong về.

Lần đầu tiên nhìn thấy vị sư, Hoa rất kinh ngạc. Ông Thầy trẻ lắm, lùn xịt, mập tròn. Đầu cạo không nhẵn nên tóc ông lốm đốm đen.

Thấy chị Ngọc chắp tay cúi đầu chào Thầy, Hoa cũng làm theo nhưng trong lòng nàng không có chút gì cung kính. Đối với nàng, vị Sư phải là người cao niên, đạo mạo, uy nghiêm, cốt cách phi phàm; còn ông Sư này trông tầm thường quá. Tuy vậy, nàng không nói ra ý nghĩ của mình, sợ phật lòng chị Ngọc.

Các cư sĩ khác đã lần lượt kéo đến, mỗi người lo một việc, chuẩn bị cho ngày tu Tịnh độ.
Chị Ngọc giải thích:
– Thầy Minh Nghiêm chia ra như vầy: Thứ Bảy hướng dẫn tu Tịnh độ, Chủ nhật tu Thiền. Ai thích pháp môn nào thì đi ngày nấy. Đi cả hai ngày càng tốt vì Thiền và Tịnh độ không có gì đối nghịch nhau về cứu cánh. Mọi pháp môn chỉ là phương tiện mà thôi.

Hoa vốn chưa hề biết gì về Phật pháp. Đạo Phật đối với nàng không khác gì đạo thờ ông bà nên nghe chị Ngọc nói, nàng chẳng hiểu ất giáp gì.

Thằng Lực thì trái lại, nó mến nhà Sư ngay vì ở Thầy nó như thấy được một cái gì đó rất bình dị nhưng cũng rất phi thường. Lần đầu Thầy gặp Lực, ánh mắt Thầy không biểu lộ sự thương hại như ánh mắt bao người chung quanh nó. Thầy nhìn Lực một cách bình thường như Thầy nhìn dì Ngọc, nhìn mẹ nó. Nó không cảm thấy mình bị tàn tật trong đôi mắt sáng long lanh của Thầy. Và ở cạnh Thầy, nó như được hưởng lây cái hạnh phúc rạng rỡ của Thầy từ giọng nói, tiếng cười. Cả những lúc Thầy im lặng, con người Thầy cũng tỏa ra niềm vui sống yêu đời.

Có lần được ở đêm lại chùa vào tối thứ Bảy để chờ tham dự ngày tu Thiền vào hôm sau, nó tò mò hỏi Thầy:
– Sao con thấy lúc nào Thầy cũng vui?
– Đâu có ai sinh ra để buồn!
Lực cãi lại:
– Dạ có chứ, những người ra đời dưới vì sao xấu!
Thầy cất tiếng cười giòn, chậm rãi bước ra mái hiên. Thầy ngẩng mặt nhìn bầu trời vằng vặc trăng sao rồi hỏi:
– Đạo hữu chỉ cho tôi coi sao nào xấu đâu? Tôi thấy cái nào cũng vậy.
Lực biết Thầy đùa, nó cười theo nhưng không chịu bỏ qua:
– Sao con nói là sao chiếu mệnh kìa, không phải sao trên trời!
– Căn cứ vào đâu mà có sao chiếu mệnh?
– Dạ, tử vi căn cứ trên ngày sinh.
Thầy lắc đầu:
– Tôi không biết lãnh vực đó nên không dám lạm bàn. Nhưng nếu căn cứ trên ngày sinh thì bây giờ khoa học tiến bộ, người ta có thể chọn năm để sinh, thậm chí có thể cho đứa bé ra đời sớm hay trễ… Những trường hợp đó, tử vi còn đúng không? Số mệnh do con người sắp đặt à?
Lực lúng túng:
– Dạ con không biết!
Thầy ngồi xuống cái đôn bằng sành, chỉ Lực ngồi trên cái ghế thấp mà tự tay Thầy đã đóng cho nó.
– Đạo hữu đi chùa cả năm nay rồi, phải nên thấm nhuần Phật pháp, người Phật tử hiểu sâu luật nhân quả, nhìn thấy việc gì, sự gì cũng bình thường cả. Con người sinh ra, có kẻ nghèo người giàu, có kẻ thông minh người ngu đần, có kẻ xấu người đẹp nhưng không phải vì số mệnh đã định sẵn như vậy. Kinh nói rằng: “Muốn biết kiếp trước mình đã làm gì, hãy nhìn cái quả hiện tại mình đang thọ lãnh. Muốn biết kiếp sau mình sẽ như thế nào, hãy xem những gì mình đang gây tạo”.

Số mệnh, nghiệp chướng, họa, phúc đều do mình tạo tác. Trồng dưa được dưa, trồng lúa được lúa, có gì khó hiểu đâu!

Lực thẳng thắn bày tỏ:
– Thưa Thầy, nói chuyện kiếp trước kiếp sau, kiếp này kiếp nọ, con thấy xa xôi quá! Con chỉ xin Thầy dạy cho con bí quyết nào để sống vui trong mọi hoàn cảnh. Như Thầy đây, sống ở chùa có một mình trong chỗ quạnh hiu vắng vẻ, ăn uống thanh đạm, làm việc cả ngày mà sao con thấy Thầy lúc nào cũng vui?
Thầy Minh Nghiêm mỉm cười:
– Thì tôi đã nói rồi, có ai sinh ra để buồn đâu! Sống, hít thở, ăn uống, đi đứng, làm việc, nói năng, mỗi việc đối với tôi đều là một sự nhiệm mầu. Mỗi hơi thở của tôi, tôi thấy hạnh phúc nhẹ nhàng đi ra đi vào. Nâng một bát cơm đầy, tôi thấy mình tiếp xúc với thế giới vô cùng tận ở chung quanh. Mỗi bước chân đi, tôi thấy mình đang làm phép lạ, mỗi lời nói ra đều là tiếng niệm Phật. Tôi không có thì giờ để buồn. Tâm tôi không có khoảng trống nào để cái buồn chen vào.

Lực nhìn Thầy. Dưới ánh trăng, cái đầu nhẵn bóng của Thầy như tỏa hào quang. Tự nhiên Lực phát sinh ra lòng kính ngưỡng. Ở gần Thầy, nó như được bao phủ bởi sự an ổn, dịu dàng.

Hoa không có sự nhạy bén như Lực. Nàng không thấy ở ông Thầy trẻ này có cái gì đặc biệt nếu không nói là quá tầm thường. Những lời Thầy dạy trong các ngày tu Tịnh Độ cũng không có gì cao siêu. Lúc nào gặp Hoa, Thầy cũng nói: “Đạo hữu nhớ niệm Phật”.

Hoa sống hơn nửa đời người, khổ nhiều hơn vui nên nàng cũng ước mong về cõi Cực Lạc để khỏi khổ sầu nhưng cái cõi đó, đối với nàng cũng mơ hồ mờ mịt nên tín tâm chẳng mạnh mẽ gì. Nàng đi chùa, làm lễ, tụng kinh, niệm Phật như một cái máy. Tuy nhiên, nàng cũng vui khi thấy Lực tươi tắn nói cười từ ngày nó được đi chùa. Nó như một cây khô bắt đầu hồi sinh…

Sau cả tuần lễ phân vân, cuối cùng thấy khó chối từ trước tấm lòng của bè bạn vì Thanh Tân đã gửi vé máy bay cho mình. Hoa hỏi con gái:
– Nếu mẹ vắng nhà trong một tuần lễ con có sợ gì không?
Lan cười:
– Mẹ à, con sắp tốt nghiệp Đại học rồi, con lớn rồi, mẹ không nhớ sao?
Lực chen vào:
– Có con ở nhà với chỉ, mẹ đừng lo!
Câu nói đầy tự tin làm Lực mắc cỡ, nó nói sửa lại:
– Con lo cơm nước được mà!

Khi Hoa đặt chân đến phi trường Florida lúc 8 giờ tối, cả gia đình Thanh Tân đều có mặt: hai vợ chồng, ba đứa con. Sự đón tiếp thân tình này làm ấm cả lòng nàng. Thanh Tân còn trẻ quá, như mới ngoài 30, vẫn đẹp như xưa. Thằng con trai lớn chắc cũng trạc tuổi Lan, nó cao lêu nghêu; cô gái thì có vẻ đẹp tươi mát, hao hao giống mẹ, cậu trai út trông đạo mạo, nghiêm trang.

Cả gia đình Thanh Tân đều ăn mặc rất giản dị. Sự đơn giản của họ làm Hoa ngạc nhiên vì Hoa biết Thanh Tân giàu lắm. Họ qua Mỹ đã lâu và Tâm – chồng của Thanh Tân là một bác sĩ giải phẫu nổi tiếng.
Tâm vui vẻ chào hỏi Hoa, chờ nàng lấy hành lý xong xuôi, đưa cả nhà ra xe rồi từ giã đi làm.

Thanh Tân nói:
– Tối nay ảnh trực, chị em mình tha hồ tâm sự.

Rồi Thanh Tân ríu rít kể cho Hoa nghe về các bạn, về cuộc sống, hoàn cảnh của mỗi người. Tân vẫn có lỗi nói chuyện lôi cuốn như xưa. Người nghe không cần phải hỏi han gì cả, vì chuyện kể có lớp lang, thứ tự hết hồi nọ tới hồi kia. Thuở đi học, Tân có biệt danh là “Tân nhà báo”. Có những chuyện ai cũng biết mà khi tân kể lại, chúng bạn vẫn thích thú nghe và nhìn cái miệng duyên dáng của nàng.

Chẳng mấy chốc xe đã đến nhà. Ngôi biệt thự đồ sộ với hàng rào sắt chung quanh có bảng đề “Beware of dog” chứng tỏ chủ nhân thuộc hàng khá giả.
Bên trong trang hoàng đơn giản nhưng sang lắm. Những tấm màn vốn màu kem dịu dàng rủ xuống làm nổi bật mấy tấm thảm Thổ Nhĩ Kỳ màu huyết dụ. Bàn ghế toàn bộ bằng gỗ nâu đỏ bóng loáng. Một bình hoa huệ trắng muốt giữa bàn ăn là nét chấm phá xinh xắn. Căn nhà trải ra sự đầm ấm, hạnh phúc.

Thanh Tân dành cho Hoa một phòng riêng. Chờ cho Hoa nghỉ ngơi xong, Thanh Tân mời nàng ra ăn cháo. Khi hai người vừa ngồi xuống, cô con gái bưng ra một cái mâm nhỏ, trên đó có hai tô cháo nóng còn bốc khói.

Cậu trai cả bước tới hỏi:
– Thưa dì uống chi?
Hoa vừa đáp: “Cho dì tách trà nóng” vừa xuống giọng hỏi Tân:
– Sao các cháu ngoan quá vậy?
Thanh Tân cười, để lộ hàm răng trắng bóng:
– Gia đình em cái gì cũng chung cả, bạn của ba mẹ là bạn của các con, bạn của các con là bạn của ba mẹ. Thôi mời chị dùng cháo. Cháo chay chị ạ, chúng em ăn chay trường cả nhà. Con gái em nấu cháo thập cẩm chay ngon lắm, chị ăn thử xem!
Hoa im lặng dùng cháo. Quả ngon thật! Nàng ngẫm nghĩ: “Người ta bảo giàu thì khó tu vì mãi lo hưởng thụ, gia đình này thật hiếm có!”

Ăn xong, hai người bước ra phòng khách. Hoa có dịp kể cho Thanh Tân nghe về cuộc đời của mình, về người chồng đã ly dị, về đứa con trai tật nguyền.

Thanh Tân mủi lòng thương bạn, nước mắt đầm đìa.
Hoa kết luận:
– Mỗi người có một số mệnh riêng, tôi nghĩ vậy nên cũng không thấy buồn. Bây giờ thì ổn rồi. Qua đây thấy gia đình Thanh Tân hạnh phúc lại có đạo đức, tôi mừng cho Tân. Anh Tâm trông hiền lành, Phúc hậu quá, Thanh Tân có phước lớn lắm đó!

{còn tiếp}

Diệu Nga