Thứ Tư, 26 Tháng Một 2022
Phật học Nội hàm cách biên tập pháp số trong kinh Tăng Nhất...

Nội hàm cách biên tập pháp số trong kinh Tăng Nhất A Hàm

Đại hội kết tập kinh điển đầu tiên được tổ chức vào mùa Hạ, khoảng ba tháng sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn, nhằm kết tập lại những lời dạy suốt 45 năm hằng dương Chánh pháp của Đức Thế Tôn. Phần lớn các nguồn tư liệu đều ghi lại rằng, kỳ kết tập kinh điển đầu tiên đã cho ra đời 5 bộ Nikaya của Phật giáo Nam truyền, tương ứng với 4 bộ A Hàm của Phật giáo Bắc truyền. Trong đó, những bài kinh dài được biên tập thành Trường bộ kinh (Trường A Hàm), những bài kinh vừa phải được biên tập thành Trung bộ kinh (Trung A Hàm) và những bài kinh ngắn được biên tập thành Tương Ưng bộ kinh (Tạp A Hàm). Những bài kinh nói về pháp số được biên tập thành một bộ gọi là Tăng Chi bộ kinh (Tăng Nhất A Hàm), tức là những pháp nào thuộc 1 pháp qui nạp vào phần 1 pháp, những pháp nào thuộc 2 pháp qui nạp vào phần 2 pháp, tương tự cho đến 11 pháp. Qua cách biên tập kinh Tăng Nhất A Hàm xuất hiện điểm nghi vấn, khi Đức Phật còn tại thế, Ngài đã nói những bài kinh tương ứng với pháp số 12 như Thập nhị Nhân duyên hay 12 xứ, 18 giới…, nhưng bộ Tăng Nhất A Hàm chỉ biên tập pháp số từ 1 đến 11. Vậy thì, nguyên do vì sao dừng ở pháp số 11 và không tiếp tục biên tập nữa? Đây là vấn đề rất mới và đáng quan tâm mà chưa có nhà nghiên cứu Phật học nào đề cập.

TT. Thích Hạnh Bình khi giảng dạy bộ môn Lịch sử phát triển A-tỳ-đạt-ma đã đưa ra quan điểm: “Phải chăng những người biên tập nêu ra vấn đề tranh luận: Nếu chúng ta cứ tiếp tục biên tập như thế này, thì những lời nào là lời Thế Tôn dạy, lời nào là lời của chúng ta thêm vào? Có lẽ đây chính là lý do các nhà biên tập không tiếp tục biên tập từ pháp số 12 trở về sau, hay nói đúng hơn không biên tập dưới hình thức kinh, bắt đầu biên tập dưới hình thức khác gọi là Abhidhamma”. Quan điểm này lý giải phù hợp cho nhiều vấn đề trong lịch sử Phật giáo được ghi lại qua các nguồn tư liệu, do đó không chỉ thuyết phục mà còn truyền cảm hứng thúc đẩy con chọn đề tài: “Nội hàm cách biên tập pháp số trong kinh Tăng Nhất A Hàm” làm khảo luận nghiên cứu. Dưới dự hướng dẫn của TT. Thích Hạnh Bình, qua khảo luận này con sẽ đưa ra các luận chứng để chứng minh cho quan điểm nêu trên và làm sáng tỏ cách biên tập pháp số được sử dụng trong bộ kinh Tăng Nhất A Hàm (Tăng Chi bộ kinh). Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu sử học, đối chiếu so sánh và phân tích tài liệu để làm sáng tỏ vấn đề mang tính lịch sử.

1. Khái quát quá trình biên tập kinh A Hàm và Nikaya

Hầu hết các nguồn sử liệu đều ghi lại rằng, ba tháng sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn, ngài Ca-diếp đã triệu tập 500 vị Tỳ Kheo A-la-hán mở Đại hội kết tập kinh điển lần thứ nhất. Trong cuộc kết tập, ngài Ca-diếp làm chủ tọa, ngài Ưu-ba-ly trùng tuyên Luật tạng trước, ngài A-nan trùng tuyên Kinh tạng sau. Sau đợt kết tập đã cho ra đời “Pháp” và “Luật”, trong đó “Pháp” gồm 4 bộ A Hàm được Thiện Kiến Luật ghi lại như sau: “Những gì gọi là A Hàm?… Một là “Trường A Hàm” (DighaNikaya); hai là “Trung A Hàm” (MajjhimaNikaya); ba là “Tăng Dục Đa A Hàm” (SamyuttaNikaya); bốn là “Ương Quật Đa La A Hàm” (AguttaraNikaya); năm là “Khuất Đà Già A Hàm” (KhuddakaNikaya)… Đây là nội dung 500 vị A-la-hán kết tập”1. Sự tương quan giữa bốn bộ A Hàm và 5 bộ Nikaya như sau: Trường A Hàm (Trường bộ kinh), Trung A Hàm (Trung bộ kinh), Tạp A Hàm (Tương Ưng bộ kinh), Tăng Nhất A Hàm (Tăng Chi bộ kinh) và Tạp A Hàm (Tiểu bộ kinh).


Trên thực tế, quá trình biên tập 5 bộ Nikaya hết sức phức tạp và trải qua nhiều giai đoạn khác nhau. Trước tiên, qua các nguồn tư liệu đã chứng minh được rằng: Sau kỳ kết tập kinh điển lần thứ nhất, kinh điển vẫn chưa được biên tập thành chữ viết mà lưu hành dưới dạng khẩu truyền. Như HT. Ấn Thuận cho rằng: “Khái niệm “kết tập” ở thời xưa không đồng nghĩa với khái niệm “biên tập” thời nay, vì ở vào thời điểm kết tập đó vẫn chưa có công cụ biên tập ghi chép thành kinh sách. Gọi là “kết tập Phật pháp” chỉ là do các đệ tử ưu tú của Ngài từng nghe Ngài giảng ghi nhớ và khi kết tập đọc lại cho mọi người nghe mà thôi”2. Thật vậy, nếu kinh điển được kết tập từ khi Đức Phật còn tại thế, chắc chắn phải có người chuyên phụ trách về vấn đề này. Như vậy, trong kinh điển không nhiều thì ít cũng sẽ đề cập đến người ghi chép, vì các bài kinh đều nhắc đến bối cảnh, nhân duyên nói kinh, ai là người thuyết, địa điểm thuyết kinh…, nhưng không nhắc đến người ghi chép. Hầu hết các bài kinh chỉ đề cập đến Tôn giả A-nan có trí nhớ phi thường, có thể thuộc lòng tất cả các bài kinh Đức Phật nói ra. Mặt khác, dưới thời Đức Phật Tăng đoàn với đời sống du phương, do đó không thể mang theo đầy đủ dụng cụ để biên chép, cũng như khó có thể bảo tồn lượng kinh điển đồ sộ như thế. Tương tự như vậy, trong kỳ kết tập thứ nhất cũng không có nguồn tư liệu nào đề cập đến sự kiện kinh điển được biên tập thành văn hay ai là người ghi chép lại.

Chính Đại Thiên, nhân vật xuất hiện sau kỳ kết tập thứ hai đã xác nhận kinh điển dưới dạng truyền miệng qua việc “thứ 5” mà ông khởi xướng, đó là “đạo nhân thinh cố khởi”. Theo “Đại Tỳ-bà-sa luận” giải thích, “âm thanh” này là của Đại Thiên, ban đêm khi thấy những tội của mình gây ra quá lớn bèn hối hận nên than “khổ quá”, khi đệ tử hỏi thì ông giải thích rằng, đạo cần than khổ như vậy mới chứng được chánh quả. Cách giải thích này hoàn toàn không hợp lý, một người giỏi như Đại Thiên, được Vua mời vào cung giảng kinh, tinh thông Tam tạng, đồ chúng đông… mà lại giải thích một cách lôi thôi đại khái, thiếu căn cứ và khó lòng chấp nhận. Câu này được hiểu là, đạo lý trong 4 việc trước Đại Thiên đưa ra dựa vào “âm thanh” mà có: “Âm thanh này chính là Agama, tức là chỉ cho kinh A Hàm chưa được kết tập thành văn tự”3. Qua đó, Đại Thiên nhằm nhấn mạnh rằng: Những điều ông nói ra hoàn toàn dựa trên kinh điển thông qua truyền tụng mà ông nghe được, đồng thời cũng chứng minh kinh điển thành văn không thể xuất hiện trước kỳ kết tập thứ hai.

Bên cạnh đó, rất nhiều bài kinh trong Nikaya đề cập đến nhân vật Asoka, như kinh số 604, 641 trong kinh Tạp A Hàm: “Vua A-dục ở trong Chánh pháp Như Lai được niềm tin kính lớn,…, Vua cho dựng tám muôn bốn ngàn tháp Phật, trong các tháp này lại bố thí trăm nghìn vàng, lại mở Đại hội năm trăm”4. Asoka là nhân vật xuất hiện sau khi Đức Phật nhập diệt 200 năm nhưng lại xuất hiện trong các bộ kinh, chứng tỏ sự kiện này được người sau thêm vào. Như vậy, chắc chắn kinh điển không thể biên tập sớm hơn thời đại Vua A-dục.
Như chúng ta đã biết, sau kỳ kết tập kinh điển lần thứ hai, tức sau Phật Niết-bàn 100 năm, Phật giáo chính thức có sự phân chia hệ phái. Dưới triều đại Vua A-dục, các bộ phái tiếp tục phân chia thành nhiều chi phái khác. Trong quá trình phân phái, kinh điển vẫn dưới hình thức truyền miệng, thế thì 4 bộ A hàm và 5 bộ Nikaya là do bộ phái nào biên tập thành văn? Trong khi các bộ phái phân chia vì bất đồng quan điểm, do đó không thể xảy ra sự kiện một bộ phái nào đó biên tập bộ kinh gốc và các bộ phái khác lấy đó làm kinh của mình. Chắc chắn các phái đều độc lập biên tập kinh điển, do đó không thể nói kinh của bộ phái nào là bộ kinh gốc được biên tập ở kỳ kết tập thứ nhất cả. HT. Ấn Thuận chỉ ra rằng: “Quá trình kết tập bắt đầu từ kết tập lần đầu, tái kết tập, rồi dần dần hoàn thành, từ đó mới trở thành Thánh điển được các bộ phái công nhận”5. Như vậy, để trở thành bộ Thánh điển của một bộ phái, kinh điển này đã trải qua nhiều lần gọt giũa, chỉnh sửa. Mặt khác, lưu giữ dưới hình thức khẩu truyền, ghi nhớ bằng trí óc từ người này sang người khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, do đó không sao tránh khỏi tình trạng ghi nhớ thiếu chính xác, hiểu sai lệch ý nghĩa ban đầu. Đồng thời, quan điểm các phái về một số vấn đề không giống nhau, mặt khác do ảnh hưởng phong tục nơi cư trú của mỗi bộ phái, nên trong quá trình biên tập có những quan điểm các phái tự thêm vào. Đó là lý do vì sao Trường bộ có tổng cộng 34 bài kinh, nhưng Trường A Hàm lại có 30 bài kinh, trong đó chỉ có 27 bài kinh giống nhau; Trung A Hàm có đến 222 bài kinh, trong khi kinh Trung bộ chỉ có 152 kinh; tương tự như vậy, Tạp A Hàm và Tương Ưng Bộ kinh cũng không đồng nhất về số lượng. Thế thì, nếu kinh cùng được hình thành trong kỳ kết tập thứ nhất thì tại sao có sự chênh lệch lớn này, do Hán tạng thêm vào hay Pali bớt đi?

Qua đó, ta đi đến hai kết luận: Thứ nhất, kinh điển được kết tập dưới dạng khẩu truyền và thành văn sớm nhất dưới triều đại Vua A-dục. Thứ hai, 4 bộ A Hàm và 5 bộ Nikaya hiện nay chúng ta sử dụng là kinh điển thuộc các bộ phái, không phải bộ kinh gốc được hình thành trong kỳ kết tập đầu tiên.

2. Hình thức biên tập kinh A Hàm và Nikaya

Như trên đã đề cập, sau kỳ kết tập lần thứ nhất đã cho ra đời 4 bộ A Hàm của Phật giáo Bắc truyền tương đương với 5 bộ Nikaya của Phật giáo Nam truyền. Tuy nhiên, không phải vừa trải qua kết tập liền hình thành những bộ kinh có tên gọi như hiện nay chúng ta sử dụng. Từ Nikaya có nghĩa là “bộ”, tức chỉ cho Thánh điển bằng tiếng Pali được một bộ phái tên là Đồng Diệp biên tập tại Tích Lan. Đa số các bộ phái còn lại đều gọi Thánh điển là A Hàm, vì A Hàm ngoài là danh xưng của Thánh điển còn mang ý nghĩa sâu xa khác. A Hàm dịch âm là A-hàm-mộ hoặc A-cấp-ma được Huyền Trang định nghĩa như sau: “Bốn loại như vậy, Thầy trò lần lượt lưu truyền nhau cho đến ngày nay; vì lý do này nên gọi là A-cấp-ma”6. Như vậy, A Hàm nghĩa là “lần lượt truyền lại”, không chỉ trên phương diện thầy trò truyền nhau tiếp nhận câu văn, mà còn mang ý nghĩa trao truyền và tiếp nhận nghĩa đích thực của Phật pháp. Điều này đã được ghi lại trong kinh Trung bộ rằng: “Vị Tỳ Kheo đa văn ấy lưu truyền A Hàm, trì pháp, trì luật và trì bổn mẫu”7. Qua đó, các bộ phái kết tập A Hàm không chỉ là sự hợp nhất của tất cả các kinh thành bốn bộ lớn mà còn là sự truyền thừa giáo nghĩa trong kinh Phật.

Theo Ngũ Phần luật, hình thức biên tập bộ kinh A Hàm như sau: “Những kinh có nội dung dài được kết tập lại thành một bộ có tên là “Trường A Hàm”; những kinh có nội dung không dài, không ngắn được kết tập lại một bộ gọi là “Trung A Hàm”; vì các Tỷ-kheo…, kết tập thành một bộ gọi là “Tạp A Hàm”; những kinh có nội dung từ 1 pháp đến 11 pháp kết tập thành một kinh gọi là “Tăng Nhất A Hàm”; ngoài ra, có nội dung hỗn hợp kết tập thành một bộ, gọi là “Tạp tạng”8. Qua đoạn trích cho thấy, hình thức biên tập kinh tạng dựa trên nội dung dài ngắn mà phân loại. Bên cạnh đó, hình thức biên tập các bộ kinh còn dựa trên nội dung, như Trường A Hàm phần lớn nội dung đề cập đến những vấn đề của ngoại đạo; những kinh chuyên giải thích vấn đề học tập được biên tập vào Trung A Hàm; những kinh trình bày đạo lý tu tập Thiền định biên tập vào Tạp A Hàm; những kinh nội dung mang khuynh hướng tuyên truyền rộng rãi biên tập vào Tăng Nhất A Hàm. Cách biên tập này cốt để cho người sau dễ nhớ và dễ phân biệt giữa các bộ kinh. Đây là hai hình thức biên tập Thánh điển phổ biến nhất và hầu hết các học giả đều chấp thuận.

Nghiên cứu mới đây nhất, TT. Thích Hạnh Bình chỉ ra rằng: “Thực chất 4 bộ A Hàm hoặc 5 bộ Nikaya chỉ có tên gọi khác nhau, nhưng phần lớn nội dung tư tưởng gần giống nhau, tất cả đều dựa vào những bài kinh ngắn (S. Màtrka)trong kinh Tạp A Hàm (kinh Tương Ưng) biên tập thành Trường A Hàm (Trường bộ), Trung A Hàm (Trung bộ), Tăng Nhất A Hàm (Tăng Chi bộ)”9. Ví dụ nội dung Kinh Phạm Động, Kinh Sa Môn Quả trong Trường A Hàm đề cập đến vấn đề tà kiến của ngoại đạo, thực chất là sự kết hợp của các bài kinh ngắn có nội dung tương tự gồm: 154, 155, 156, 157, 158, 159, 162, 163, 164, 165, 559… trong Tạp A Hàm. Kinh Chúng Tập, Kinh Thập Thượng, Kinh Tăng Nhất, Kinh Tam Tụ trong Trường A Hàm nói về sự tăng dần của các pháp số từ một pháp đến mười pháp, đó là sự kết hợp của các bài kinh 485, 486, 487, 488, 489,… trong Tạp A Hàm.

Các bài kinh trong Tạp A Hàm có hình thức giống như cương yếu mà tiếng Phạn gọi là Màtrka, Hoa dịch là “Bổn Mẫu”, nghĩa là bài kinh gốc. Dựa trên những bài kinh gốc có cùng nội dung được kết hợp lại thành bộ kinh dài và xếp vào Trường A Hàm, cách kết hợp này cũng là một hình thức mà Abhidhamma gọi là “Phân Biệt”. Tức kinh Phạm Động, kinh Sa Môn Quả phân biệt, giải thích rộng ra làm rõ về các vấn đề tà kiến của ngoại đạo được ghi ngắn gọn trong các bài kinh từ 154-165 trong Tạp A Hàm. Hay kinh Chúng Tập, kinh Thập Thượng, Kinh Tam Tụ, kinh Tăng Nhất trong Trường A Hàm làm rõ, phân biệt rõ thế nào là một pháp, hai pháp,…, cho đến 10 pháp được đề cập trong các bài kinh mang tính cương yếu từ 485-489 trong Tạp A Hàm. Ngoài ra, chính những bài kinh ngắn gọn nói về pháp số này trong Tạp A Hàm đã phát triển tạo thành kinh Tăng Nhất A Hàm. Đây cũng thuộc một hình thức của Abhidhamma gọi là tổng thuyết, biệt thuyết. Tức lấy một bài kinh ngắn trong Tạp A Hàm làm “Bổn mẫu” gọi là tổng thuyết, sau đó giải thích rộng ra từng khía cạnh được trình bày trong Tăng Nhất A Hàm gọi là biệt thuyết.

Trên thực tế, khi đối chiếu các bản kinh ta thấy rất nhiều bài kinh trong Tạp A Hàm có cùng nội dung được lặp lại trong Trường-Trung và Tăng Nhất A Hàm. Lý giải vấn đề này có thể do Đức Phật thuyết cùng một bài kinh nhưng đối tượng nghe và địa điểm nói khác nhau, nhưng vẫn được các đệ tử ghi nhớ và kết tập lại trong Tạp A Hàm. Sau đó nhận thấy các bài kinh ngắn này có nội dung tương đồng nên kết hợp lại, bài kinh dài xếp vào Trường A Hàm, vừa phải xếp vào Trung A Hàm và bài kinh nói về pháp số biên tập thành Tăng Nhất A Hàm. Như vậy, ta có thể khẳng định Tạp A Hàm hay kinh Tương Ưng là bộ kinh được kết tập sớm nhất. Đây là những bài kinh ngắn gọn dễ ghi nhớ, đầy đủ ý nghĩa, giống như đề cương của một bài luận văn, phù hợp với thời đại của Đức Phật chưa dùng chữ viết lưu truyền, phải dùng đến bộ nhớ của con người. Mặc dù ngắn gọn nhưng mô tả được cốt lõi lời dạy của Đức Phật, đó chính là những Màtrka mà sau này các Luận sư đã sử dụng để tiếp tục biên tập, giải thích và hệ thống hóa thành Abhidhamma (Luận tạng).

Thế thì, chắc chắn Tăng Nhất A Hàm là bộ kinh kết tập sau cùng, do từ hình thức kinh này cho thấy đây là bộ kinh còn đang kết tập chưa hoàn tất. Khi Đức Phật còn tại thế, Ngài đã nói những bài kinh tương ứng với pháp số 12 như Thập nhị nhân duyên hay 12 xứ, 18 giới…, những pháp số 12, 18, 37 cũng được đề cập rất nhiều qua các bài kinh trong Tạp A Hàm, nhưng bộ Tăng Nhất A Hàm chỉ biên tập pháp số từ một đến mười một. Đáng chú ý hơn, trong phần 11 pháp có sự xuất hiện của bài kinh nói về 12 pháp: “Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ Kheo, nay Ta sẽ nói về pháp nhân duyên, nên khéo suy nghĩ ghi nhớ, tu tập hạnh ấy,…, pháp Mười hai Nhân duyên rất sâu xa, không phải là chỗ hiểu của người thường”10. Như vậy, phải chăng việc đưa bài kinh pháp số 12 vào phần 11 pháp và việc dừng lại ở pháp số 11 nhằm biểu thị sự biên tập vẫn còn tiếp tục? Thế thì nguyên do vì sao Tăng Nhất A Hàm dừng lại ở con số này?

3. Nội hàm cách biên tập pháp số trong kinh Tăng Nhất A hàm.

Như trên đã phân tích, Tăng Nhất A Hàm là bộ kinh biên tập muộn nhất trong bốn bộ A Hàm. Về mặt hình thức và nội dung trình bày theo pháp số, cũng giống như kinh Tam Tụ, kinh Chúng Tập, kinh Thập Thượng và kinh Tăng Nhất trong Trường A Hàm: “Tức là bắt đầu từ một pháp, hai pháp rồi tăng dần cho đến mười một pháp; cứ hết một pháp lại tăng thêm một pháp nên gọi là Tăng Nhất”11. Đồng thời, nội dung của mỗi bài kinh, mỗi phẩm, mỗi pháp của Tăng Nhất A Hàm cũng tùy thuộc vào con số mỗi pháp. Giống như phần một pháp trình bày một vấn đề: “Hãy tu hành một pháp, sẽ thành tựu được thần thông, loại bỏ các loạn tưởng, một pháp ấy là gì? Đó là Niệm Phật”12; phần hai pháp trình bày hai vấn đề: “Này các Tỳ Kheo, có hai sự bố thí, thế nào là hai? Đó là pháp thí và tài thí”13,…., phần mười một pháp trình bày mười một vấn đề: “Có mười một pháp hành như là Khế Kinh, Kỳ-dạ, Thọ ký, Nhân duyên, Bổn sự, Thí dụ, Bổn sanh, Phương đẳng, Vị tằng hữu, Tự thuyết, Luận nghị. Người ấy tụng đọc rồi, lại hiểu sâu ý nghĩa, thuận theo lời dạy không sai trái, do nhân duyên này dần dần đến Niết-bàn”14. Như vậy, các pháp số được biên tập từ một đến mười một và vì sao không biên tập tiếp, TT. Thích Hạnh Bình lý giải rằng: “Phải chăng những người biên tập nêu ra vấn đề tranh luận: Nếu chúng ta cứ tiếp tục biên tập như thế này, thì những lời nào là lời Thế Tôn dạy, lời nào là lời của chúng ta thêm vào? Có lẽ đây chính là lý do các nhà biên tập không tiếp tục biên tập từ pháp số 12 trở về sau, hay nói đúng hơn không biên tập dưới hình thức kinh, bắt đầu biên tập dưới hình thức khác gọi là Abhidhamma”15. Quan điểm này lý giải cho nhiều vấn đề trong lịch sử của Phật giáo và làm sáng tỏ sự tách rời độc lập của Luận tạng ra khỏi Kinh và Luật.

Khảo cứu qua nguồn tư liệu trong A Hàm và Nikaya, không chỉ ở thời kỳ Bộ phái đệ tử của Đức Phật mới có sự bất đồng về quan điểm, mà khi Đức Thế Tôn còn tại thế Ngài đã đề cập rất nhiều đến vấn đề này. Trước hết, Đức Phật thuyết một bài pháp tùy theo căn cơ chúng sanh mà hiểu khác nhau, như kinh Đại thừa đề cập: “Đức Phật dùng một âm thanh mà thuyết pháp, chúng sanh tùy theo chủng loại mà được hiểu”16. Những người có trí tuệ như ngài Xá-lợi-phất, A-nan,…, có thể hiểu đúng và thay thế Đức Phật thuyết pháp, cũng có những vị hiểu tám chín phần, nhưng cũng có người hiểu sai lời Phật dạy. Như trong Tạp A Hàm, Tỳ Kheo Phá-quần hiểu sai lời dạy của Đức Phật: “Con nghe Thế Tôn dạy rằng: Người nào làm hạnh dâm tội ấy không đáng kể”17. Do đó, ông thường xuyên giao thiệp với các Tỳ Kheo Ni, làm cho Tăng đoàn chịu tiếng xấu. Đức Phật sau khi biết chuyện đã quở Tỳ Kheo Phá-quần là kẻ ngu si, Chánh pháp nói thành phi pháp, phi pháp nói là Chánh pháp. Tỳ Kheo Phá-quần chỉ là một trong số rất nhiều Tỳ Kheo trong Tăng đoàn hiểu sai pháp của Phật, chính Đức Phật cũng lường trước việc này nên Ngài dạy các Tỳ Kheo rằng: “Nếu có ai nói rằng tôi được nghe pháp này từ Đức Phật hay bất cứ ai thì không nên vội tin, cũng không nên bài bác. Hãy nương theo Kinh mà xét chỗ hư thật, nương theo Pháp, nương theo Luật mà xét rõ gốc ngọn”18. Qua đó có thể nhận định rằng: Giáo lý Đức Phật được tiếp nhận bởi nhiều căn cơ chúng sanh, vì vậy khi nghe pháp phải trải qua quá trình “Văn – Tư – Tu” để hiểu đúng, thực hành đúng mới mong được sự giác ngộ, giải thoát. Ngài Xá-lợi-phất cũng khuyên răn các Tỳ Kheo: “Hiện Thế Tôn đang còn tại thế, chúng ta nên hòa hợp kết tập Tỳ-nại-da, chớ để xảy ra tình trạng sau khi Thế Tôn nhập Niết-bàn rồi, các đệ tử của Thế Tôn tranh cãi chống đối lẫn nhau”19. Như vậy, hiện tượng cùng nghe một lời dạy nhưng cách lý giải khác nhau, ý kiến cũng trái ngược nhau dẫn đến tranh luận, đây là tình trạng rất phổ biến giữa người nói và người nghe. Chính Đức Phật và Tôn giả Xá-lợi-phất đã nhận rõ được vấn đề nên đưa ra lời khuyên cho chúng đệ tử nhằm ngăn chặn phần nào sự hỗn độn trong Chánh pháp.

Do chúng sanh hưởng thọ không đồng, nên Đức Phật lại tùy theo căn cơ chúng sanh mà nói pháp, tức tùy theo đối tượng và thời điểm thích hợp mà Ngài có cách giáo hóa khác nhau: “Điển hình như, khi trưởng giả Hốt-khởi dâng cúng, Ngài ngăn các Tỳ Kheo không được phép ăn sáng; khi được người trong thôn làng mời, Thế Tôn lại cho phép ăn cơm cá thịt; khi người ở thôn Tần Phú thỉnh, lại không cho phép ăn cơm, mà chỉ ăn cháo loãng; khi được Vua Tần-bà-sa-la thỉnh, lại cho phép ăn cơm no; khi được Xiển-đà-sư-lợi mời, lại cho phép ăn nhiều lần ở nhiều nhà, nhưng không được ăn no”20. Điều này chứng tỏ, Đức Phật thuyết pháp giáo hóa không cứng nhắc trong một khuôn khổ nào, Ngài linh động tùy theo đối tượng và hoàn cảnh, làm sao để giáo pháp được triển khai hữu hiệu nhất. Cũng thế, Đức Phật chế định Giới Luật nhằm bảo vệ nếp sống thanh tịnh của Tăng đoàn. Ví như điều giới: “Không được ăn rồi lại ngồi ăn nữa”, thiết nghĩ vấn đề ăn ở nhiều nhà và ăn quá no dẫn đến hôn trầm, tăng trưởng lòng tham. Nên Đức Phật chế thành giới để ngăn ngừa nhằm đưa đến an lạc cho sự tu tập của chúng đệ tử, nhưng khi Xiển-đà-sư-lợi mời, có thể do đặc thù của tình huống lúc đó mà Đức Phật cho phép ăn nhiều nhà, nhưng Ngài vẫn căn dặn: “Không được ăn quá no”. Như vậy, rõ ràng giáo pháp của Đức Phật cũng theo lý duyên khởi, các pháp ở thế gian hội đủ nhân duyên thì thành, nhân duyên tan rã thì mất đi. Thế nhưng đệ tử của Ngài lại chấp vào đó quy định rằng: “Những gì Phật đã chế không được bỏ, chưa chế không được thêm vào”21. Như vậy, trường hợp khi Xiển-đà-sư-lợi mời chẳng phải Đức Phật đã phạm luật sao?

Trong Đại hội kết tập kinh điển lần thứ nhất, những tuyên bố của ngài Ca-diếp có vị chấp thuận, có vị không đồng thuận. Ngài Phú-lâu-na tỏ thái độ phản đối ngài Ca-diếp một cách rõ ràng rằng: “Pháp và Luật đã được các vị Trưởng lão trùng tụng một cách tốt đẹp. Tuy nhiên, tôi chỉ ghi nhận chính những gì tôi đã nghe từ miệng và đã được lãnh thọ từ miệng của Đức Thế Tôn thôi”22, còn có số đông không đồng thuận đã cử hành cuộc kiết tập khác ngoài hang Thất-diệp: “Sau khi Đức Phật nhập diệt, các Thánh đệ tử vân tập trong núi Kỳ-xà-quật tiến hành kết tập Tam tạng, lúc bấy giờ đã có tên cả hai bộ phái: Một, là Thượng tọa bộ do ngài Ca-diếp lãnh đạo chỉ có 500 vị Thánh A-la-hán. Hai, là Đại chúng bộ tức là đại chúng bên ngoài (kết tập ngoài hang), với số lượng hơn vạn người, do A-la-hán Bà-sư-bà lãnh đạo, đây là những vị đến kết tập sau nhưng ngài Ca-diếp không cho họ tham dự”23. Qua đó, ta thấy sự bất đồng tư tưởng và tranh luận giữa chúng đệ tử vì quan điểm khác nhau đã nhen nhúm từ khi Đức Phật còn tại thế và xảy ra ngay sau khi Ngài nhập Niết-bàn. Tư tưởng bảo thủ và trọng Luật của ngài Ca-diếp vẫn tiếp tục được kế thừa, hình thành nên khuynh hướng: “Trong chúng Tỳ Kheo, những vị tụng kinh cùng nhau họ ở chung một chỗ24; những vị trì Luật cùng nhau họ ở chung một chỗ; những vị luận bàn giáo pháp cùng nhau họ ở chung một chỗ”. Qua đó, ta thấy các vị Tỳ kheo có sự phân chia thành từng nhóm theo sở trường của mình, có người chuyên trì Kinh, có người chuyên trì Luật. Chắc chắn khi bàn luận một vấn đề họ sẽ đưa quan điểm của mình lên trên, nếu vấn đề đó thuộc kinh, các vị trì Kinh sẽ ra sức bảo vệ quan điểm của mình. Họ cho rằng: Mình là người trì Kinh nên sẽ hiểu biết những vấn đề trong Kinh hơn người trì Luật, và ngược lại, bên nhóm trì Luật hay nhóm chuyên bàn luận giáo pháp cũng sẽ có tư tưởng như vậy. Trong khi đó, các vị trì Luật chắc chắn tư tưởng sẽ bảo thủ và cứng nhắc hơn, do đó không thể nào không xảy ra bất đồng và tranh luận trong nội bộ Tăng chúng.

Như vậy, trong quá trình kinh điển truyền miệng từ Đức Phật đến khi A-nan trùng tuyên lại, chưa hẳn đã hoàn toàn chính xác. Lại trải qua quá trình truyền miệng cho đến khi kết tập thành văn, từ người này sang người khác, thế hệ này sang thế hệ khác, vùng này sang vùng khác, từ sự ghi nhớ thiếu chính xác cho đến bất cập ngôn ngữ, là các yếu tố làm cho kinh điển có sự sai khác. Như Đức Phật đã dạy trong kinh Diệu Pháp Hỗn Loạn: “Các Tỳ Kheo không cẩn trọng nghe pháp, không cẩn trọng thọ trì pháp, không cẩn trọng học thuộc lòng pháp, không cẩn trọng thực hành pháp…, đó là nguyên nhân làm cho diệu pháp hỗn loạn, biến mất”25. Mặt khác, sự bất đồng quan điểm giữa các vị Tỳ Kheo như trên đã đề cập làm cho kinh điển sai khác nhiều hơn. Đồng thời, trong quá trình truyền thừa Agama, chắc chắn các phái sẽ ưu tiên và thêm thắt tư tưởng của bộ phái mình vào Thánh điển, do đó tất yếu dẫn đến không thống nhất về tư tưởng giữa các nhà biên tập. Như trong Tam luận Huyền Nghĩa đề cập: “Đại Thiên chọn lấy các bản kinh Đại thừa đưa vào trong Tam tạng giải thích, mà khi các vị A-la-hán kết tập đã loại bỏ đi ý nghĩa trong các bản kinh này, nhưng Đại thừa sử dụng ý nghĩa này, ngược lại Thượng tọa bộ không chấp thuận”26. Chính vì sự bất đồng và tranh luận của các nhà biên tập như thế, cho nên, “các nhà biên tập không tiếp tục biên tập từ pháp số 12 trở về sau, hay nói đúng hơn không biên tập dưới hình thức Kinh, bắt đầu biên tập dưới hình thức khác gọi là Abhidhamma”27, nhằm phân biệt đâu là kinh Đức Phật nói, đâu là phần do người biên tập thêm vào. Như vậy, bắt đầu từ đây không còn biên tập dưới hình thức Kinh nữa mà bắt đầu chuyển sang hình thức Luận (Abhidhamma), tức phân tích làm rõ nội dung các bài kinh và giải thích cụ thể quan điểm của các bộ phái. Mặc dù, trước đó trong kinh cũng xuất hiện hình thức Abhidhamma, nhưng bước ngoặt này đánh dấu sự tách rời độc lập của Luận, hình thành nên Tam tạng Thánh điển Kinh, Luật, Luận của Phật giáo.

Tóm lại, trên mặt lý thuyết, chắc hẳn chúng ta ai cũng biết Thánh điển Phật giáo gồm đầy đủ ba tạng Kinh, Luật, Luận và mỗi bộ phái có một bộ Luận làm chủ đạo cho tư tưởng bộ phái mình. Rất nhiều ngộ nhận vẫn cho rằng Kinh, Luật và Luận là ba tạng riêng biệt được hình thành từ sau Đại hội kết tập kinh điển lần đầu tiên. Rất ít người đồng tình và nhận ra hình thức Luận thực chất đã có từ các bài kinh trong A Hàm và Nikaya.

Đề tài nghiên cứu về nội hàm cách biên tập pháp số trong kinh Tăng Nhất A Hàm nói trên đã làm sáng tỏ rất nhiều vấn đề. Trong đó thấy rõ quá trình hình thành Abhidhamma thông qua hình thức biên tập các bộ kinh A Hàm, đồng thời cũng chứng minh được Abhidhamma đã có từ trong kinh tạng, không phải sau các kỳ kiết tập mới có. Mặt khác, qua hình thức biên tập Tăng Nhất A Hàm làm sáng tỏ quá trình Abhidhamma tách ra khỏi Kinh tạng, tự hình thành một tạng độc lập, trở thành một trong ba tạng quan trọng của Thánh điển Phật giáo. Được sự dẫn dắt và chỉ dạy của giáo thọ bộ môn, con đã hoàn thành đề tài nghiên cứu với kiến thức thiển cạn và hạn chế về nguồn tư liệu. Nên không sao tránh khỏi những bất cập trong khi phân tích, diễn đạt các vấn đề. Tuy nhiên, đây là ý tưởng nghiên cứu mới được truyền cảm hứng từ giáo thọ, trước tiên con xin tri ân trên TT. Thích Hạnh Bình đã truyền cảm hứng để con mạnh dạn nghiên cứu, bên cạnh đó con rất mong nhận được sự chỉ dạy của Thượng tọa để con hoàn thiện được những nhận định còn thiếu sót của mình.

Uyển Tường


  1. Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng kinh, Số 1.462, Luật Thiện Kiến Tỳ Bà Sa quyển 1, Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc xuất bản, tr.228.
  2. 印順著,(原始佛教聖典之集成),台北,正聞出版社,民國83年, 頁15.
  3. Thích Hạnh Bình (2014), Nghiên Cứu Về 5 Việc của Đại Thiên, Nxb Phương Đông, tr.186.
  4. HT. Thích Thiện Siêu, HT. Thích Thanh Từ (dịch 1994), kinh Tạp A Hàm, Viện NCPHVN ấn hành, tr.619-620.
  5. HT. Ấn Thuận, HT. Thích Phước Sơn và TT. Thích Hạnh Bình (dịch 2015), Lịch sử Biên tập Thánh điển Phật giáo Nguyên Thủy, Nxb Phương Đông, tr.115.
  6. HT. Ấn Thuận, HT. Thích Phước Sơn và TT. Thích Hạnh Bình (dịch 2015), Lịch sử Biên tập Thánh Điển Phật giáo Nguyên Thủy, Nxb Phương Đông, tr.706.
  7. HT. Thích Minh Châu, kinh Trung bộ tập I, Đại kinh Mục Ngưu Giả, Nxb Tôn giáo, tr.276.
  8. Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng kinh, Số 1.421, Luật Di Sa Tắc Bộ Hòa Hê Ngũ Phần quyển 30, Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc xuất bản, tr.640.
  9. TT. Thích Hạnh Bình, tài liệu giảng dạy môn Lịch sử phát triển A-tỳ-đạt-ma, khóa XIII.
  10. HT. Thích Thiện Siêu, HT. Thích Thanh Từ (1994), kinh Tăng Nhất A Hàm, Viện NCPHVN ấn hành, tr.116-119
  11. TT. Thích Hạnh Bình, bài giảng môn Lịch sử phát triển A-tỳ-đạt-ma, khóa XIII.
  12. HT. Thích Thiện Siêu, HT. Thích Thanh Từ (1994), Kinh Tăng Nhất A Hàm, Viện NCPHVN ấn hành, tr.36.
  13. Sđd, tr. 194.
  14. Sđd, tr. 521.
  15. TT. Thích Hạnh Bình, tài liệu giảng dạy môn Lịch sử phát triển A-tỳđạt-ma, khóa XIII.
  16. HT. Thích Tuệ Sỹ (dịch 2017), Duy-ma-cật Sở Thuyết, Phẩm Quốc Độ Phật, Nxb Tôn giáo, tr.74-75.
  17. HT. Thích Thiện Siêu, HT. Thích Thanh Từ (1994), kinh Tăng Nhất A Hàm, Viện NCPHVN ấn hành, tr. 521.
  18. HT. Thích Thiện Siêu, HT. Thích Thanh Từ (dịch 1994), kinh Trường A Hàm, Viện NCPHVN ấn hành, tr.138-142.
  19. Sđd, tr.387.
  20. Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng kinh, kinh Xá-lợi-phất vấn, số 1465, Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc xuất bản, tr.7-10.
  21. Thích Hạnh Bình (2019), Nghiên cứu Khái niệm A-la-hán trong Lịch sử Phật giáo Ấn Độ, Nxb Hồng Đức, tr.42.
  22. Tỳ-kheo Indacanda (dịch 2017), Tiểu Phẩm tập 2, Nxb Tôn giáo, tr.407.
  23. Thích Hạnh Bình-Thích Huệ Hải (dịch 2019), Bộ phái Phật giáo và A-tỳ-đạt-ma, Nxb Hồng Đức, tr.192-193.
  24. HT. Ấn Thuận, Thích Phước Sơn và Thích Hạnh Bình (dịch 2015), Lịch sử Biên Tập Thánh Điển Phật giáo Nguyên Thủy, Nxb Phương Đông, tr.53.
  25. HT. Thích Minh Châu, Tăng Chi bộ kinh, kinh Diệu Pháp Hỗn Loạn, Nxb Tôn giáo, tr. 764.
  26. TT. Thích Hạnh Bình-Thích Huệ Hải (dịch 2019), Bộ Phái Phật giáo và A-tỳ-đạt-ma, Nxb Hồng Đức, tr.195.
  27. TT. Thích Hạnh Bình-Thích Huệ Hải (dịch 2019), Bộ Phái Phật giáo và A-tỳ-đạt-ma, Nxb Hồng Đức, tr.195.

Tin khác

Cùng chuyên mục

error: Nội dung được bảo mật !!