Nỗi buồn của lư hương

219

  Nói đến tôi, thật là tiếng tăm lừng lẫy không ai mà không biết, không ai mà không hiểu. Tôi không chỉ là pháp vật trong nhà Phật, mà ngay cả trên gian nhà chính của mỗi gia đình, họ đều sẽ đặt tôi một cách ngay ngắn, chỉnh tề. Tôi có sự phân biệt giữa sứ và ngói, giữa đồng và thiếc… Trên người tôi, được chạm khắc nhiều loại hoa văn khác nhau, tạo thành danh hiệu trong các ngôi tự viện, đến nỗi bọn trẻ con khi nhìn thấy tôi, chúng cũng gọi được tên của tôi.


Nhắc đến tôi, trước hết họ sẽ liên tưởng ngay đến việc thắp nhang lạy Phật, không có tôi nhất định là không được; cúng tế tổ tiên, không có tôi lại càng không xong. Thông thường có người nổi tiếng nào qua đời, khi làm lễ truy điệu, mọi người họ chỉ cần hô to khẩu lệnh “Thượng hương”, thì bất cứ ai cũng im lặng chung quanh không một tiếng động, thái độ của họ rất cung kính, cho đến khi từng cây nhang cắm vào tôi xong, họ mới dám rỉ tai thì thầm, nói cười huyên náo.

Tôi thật may mắn biết bao, mọi người thường ca tụng tôi; đặc biệt là trong các bài tán, bài kệ của người xuất gia, họ mô tả tôi bằng những lời cao quý mà lại thanh nhã. Ví dụ: “Vừa thắp hương trong lò, những làn khói đã xông khắp pháp giới”, hoặc “hương mới đốt, trong đảnh báu khói thơm ngào ngạt”. Xin bạn hãy suy nghĩ hộ tôi, cảnh giới đó làm sao không cho tôi có một cảm giác như đi vào cõi thần tiên? Làn khói thơm đó giống như đám mây thoạt ẩn thoạt hiện trong lò tôi, những khung cảnh kỳ lạ này còn gì có thể đẹp hơn nhỉ?
Khi chư Tăng trong Bảo điện xướng tụng đến “chúng đệ tử kiền thành thắp hương trong lò vàng”, thì luôn có một người đại diện nhiễu quanh đến ngay giữa, đối trước thánh tượng Đức Phật và quỳ trước mặt tôi, cung kính tiếp ba cây nhang cắm vào tôi. Họ mượn tôi để bày tỏ tâm chí thành tha thiết của mình, tôi cũng rất hân hoan làm chiếc cầu nối để giao lưu giữa tâm Phật và tâm người. Đừng xem thường tôi nhé, vật tuy nhỏ bé nhưng nhiệm vụ vô cùng vĩ đại!

Từ xưa đến nay, những lễ phẩm cúng Phật đều dùng mười loại như: hương, hoa, đăng, đồ, quả, trà, thực, bảo, châu, y1, mà hương là ở vị trí đầu tiên trong tất cả các lễ vật. Do đó, thân phận tôi cũng nổi trội lên. Rất nhiều người mua những loại nhang đắt tiền đốt trong lò tôi, tên gọi của nó là Đàn hương, Trầm hương, Mạt hương…, còn có một loại gọi là Kỳ nam tuyến hương, khi thắp lên, mùi thơm thoang thoảng xông vào mũi, khiến tinh thần vui tươi sảng khoái. Ai ngửi qua nó rồi, đều biết mùi hương của các loại kem trang điểm, các loại nước hoa quá vẩn đục. Đúng là bởi vì hương thơm của nhang các tục vật khác không so sánh bằng. Rất nhiều người tin Phật hoặc không tin Phật, trong văn phòng, hay phòng ngủ của họ, đều có một cái lư hương, một cây nhang thơm, họ sử dụng tôi không phải để cúng Phật, mà là cúng cho chính mình. A Di Đà Phật! Sự tham muốn hưởng thụ của mọi người thật là chu đáo đến mức không có một chút nhỏ nhặt nào mà không nghĩ đến ạ!

Bởi vì lư hương tôi quá phổ biến, nên có một số văn nhân thi rớt không nơi tiêu khiển, tùy theo cảm hứng mà đến nơi họ muốn, viết một số tiểu thuyết phương ngôn tục ngữ, hoặc làm một vài đoạn thơ bảy chữ, câu đầu tiên sẽ nâng tôi lên, ví như: “Thắp hương cắm trong lò tử kim, biểu hiện tiểu sinh là người Lạc Dương.” Anh ta dường như không có cách nào để bắt đầu viết văn chương ngoại trừ tôi, và bạn cũng nên biết chỗ sâu sắc của tôi đã ảnh hưởng đến hầu hết mọi người.

Đôi khi nhàn hạ vô sự, thì tôi lại chú ý đến động tác và tâm trạng của từng người đến chùa thắp nhang, tôi thấy người học Phật nhiều năm, lúc cắm nhang, ông đều dùng tay trái; ngược lại, những người không nghiên cứu quy củ của nhà Phật, họ hoàn toàn sử dụng tay phải. Lúc đầu, tôi cũng cảm thấy quái lạ không hiểu, nhưng sau này nghe nói tay phải tạo nhiều nghiệp chướng nhất, mà tay trái thường thường vô dụng không có cơ hội thi triển tài năng (用武之地), vì vậy những người cẩn thận một chút sẽ dùng tay trái để tấn hương.

Đệ tử Phật thắp hương là thể hiện sự kính trọng của mình với Phật, để giảm bớt phiền não và được giải thoát. Tuy nhiên, có một số người không rõ chân lý này, dựa vào việc thắp hương để cầu danh, hướng về quỷ thần để cầu tài cầu lợi, thậm chí cầu con trai, cầu tình duyên. Có một bài hát rất phổ biến nói về tâm bệnh thông thường của con người: “Miếu Thành Hoàng, miếu đường đường, có bao nhiêu người đi thắp hương, mọi người thắp hương vì cầu phú quý, cô em gái nhỏ thắp hương cầu cái gì? Miếu Thành Hoàng, miếu đường đường, có bao nhiêu người đi thắp hương. Chị dâu thắp hương để cầu con trai, cô em gái nhỏ thắp hương cầu tình lang!” Đây há không phải là chuốc sâu thêm nỗi thống khổ, tự mình đi tìm phiền não hay sao?

Không thể phủ nhận việc sử dụng tôi để thắp nhang được lưu truyền từ trong Phật giáo. Bởi vì mối quan hệ sâu xa giữa Phật giáo với dân gian, nên tôi đã không để mất cơ hội chạy vào từng nhà. Cảm ơn ân Phật bao la rộng lớn, rất nhiều người chẳng những không có cách nào phế bỏ tôi, mà nhiều văn nhân còn tình nguyện tuyên truyền nghĩa vụ thay tôi, giúp tôi khởi xướng. Trong kiệt tác “Tang lễ cải cách” (喪禮改革) của nhà Văn học, Triết học, Tư tưởng, Tiến sĩ Hồ Thích (胡适 1891 – 1962). Ông đã chủ trương bãi bỏ việc đốt giấy tiền vàng bạc, đốt kho giấy. Ông nói truy niệm người quá cố chỉ nên sử dụng một nén nhang để bày tỏ tấm lòng. Thắp nhang không chỉ quan trọng, mà mọi người còn cho rằng hợp lý. Đương nhiên, tôi cũng không cần phải lo lắng cho số phận của mình.

Tuy nói như vậy, nhưng đôi khi không tránh khỏi bị người sử dụng tôi ở những nơi quái đản. Có một nhóm ngoại đạo, họ cầu khấn cái gì gọi là “Kê đồng” (乩童: Lên đồng, cầu hồn), có khi họ lấy nhang đốt vào da thịt, cầm “Đề lư” (提炉: loại lư hương có dây), rồi dùng dây sắt xuyên qua thịt mình nhảy múa một cách điên cuồng, nói rằng có một vị thần tướng trên trời nhập vào họ nên không cảm thấy đau đớn chút nào. Tôi xem những tình huống này không khỏi thở dài thương cho những chúng sanh thật là ngu xuẩn, họ không theo con đường đúng đắn để tu trì mà kiên quyết làm hảo hán, phát bệnh thần kinh để thân thể chịu đựng cái khổ. Đáng tiếc, tôi không có bản lĩnh phi thường cũng không có cách nào để cảm hóa những loại tà ma ngoại đạo này!

Các trai chủ khi làm công đức Phật sự, thỉnh chúng Tăng trong các tự viện tụng kinh lễ sám cho họ, những môn đồ (có đủ tứ chúng) này bảo các trai chủ quỳ phía sau, tay cầm “Thủ Lư”2 nâng cao, có lẽ vì trai chủ không biết tụng kinh, quỳ phía sau cô đơn và buồn chán, cho nên sử dụng tôi để làm bạn với họ, đây là cách mà bốn chúng đệ tử chiêu đãi trai chủ, thật sự các Thầy chiếu cố họ rất tỉ mỉ và chu đáo vậy!

Còn có nhiều điều kỳ lạ khiến tôi trông thấy mà buồn cười. Thường thường nếu có hai người bắt đầu tranh chấp, những người khác hòa giải không xong, thì mỗi người họ tay cầm một nén nhang, cắm vào tôi, quỳ xuống thề thốt. Một người nói: “Bồ tát ở trên, đệ tử là Trương Tam, nếu ăn cắp tiền của Lý Tứ, con sẽ mắc bệnh cấp tính mà chết!” Lý Tứ nói: “Nếu đệ tử nói oan Trương Tam, con cũng chết bất đắc kỳ tử.” Tôi để cho họ nhiễu loạn một trận, ai phải ai quấy chỉ có tự họ biết. Bồ tát và tôi, không phải là thẩm phán trong pháp viện để phán xét họ!

Thỉnh thoảng tôi lại thấy nếu trong gia đình có ai bị bệnh, thì người thân đến thắp nhang cắm vào tôi, sau đó, họ dùng giấy bao muội khói trong lò tôi mang về nhà làm thuốc uống, nói là uống “linh đan”. Kẻ ngu muội cũng phục vụ sở thích của người khác, họ dùng giấy màu vàng nhỏ gói tro trong lò tôi thành hàng trăm hàng ngàn để trong điện Phật, rồi đọc vài câu: “Om Mani Padme Hum”, (嘛嘛呢叭弥吽 Án Ma Ni Bát Di Hồng) còn nói câu thần chú này là tiên dược có thể chữa bách bệnh. Than ôi, một ngôi Phật tự thanh tịnh lại kiêm luôn “cửa hàng thuốc”!

Đây thật sự là thời đại “pháp nhược ma cường”, tôi được ở trong những ngôi chùa Phật giáo cao lớn và trang nghiêm, rất ít người đến thắp nhang trong lò tôi, mà những ngôi miếu Thần Đạo, ngược lại khách hành hương rất đông; không phải tôi muốn mọi người tâng bốc tôi, mà tôi muốn làm cho mọi người phân rõ chánh tà, để cho tất cả chúng sanh đỡ phải bàng hoàng trên con đường mê muội. Tà pháp không diệt, thì Chánh pháp làm sao có thể hưng long? Mong các vị trong Phật giáo chú ý nhiều hơn về điều này!

Điều mà tôi thấy thường xuyên và nhiều nhất chính là những lời cầu nguyện, phát nguyện, sám hối của mọi người trước Đức Phật, thái độ chí thành khẩn thiết của họ cũng đôi khi làm cho tôi xúc động một cách sâu sắc. Tôi nhớ một lần, vào lúc đêm hôm khuya khoắt, có một thanh niên Phật tử đến chùa, anh thắp ba cây nhang cắm vào tôi, quỳ xuống dưới bảo tòa nơi đặt tôi, đối trước Đức Phật phát ra mười điều đại nguyện. Nỗi lòng đau xót này của anh, ngoài tôi ra, còn ai có thể đồng cảm? Lời nguyện của anh như sau:

Nguyện thứ nhất: Mười phương thế giới, tất cả quốc độ, tất cả chúng sinh, xa lìa biển khổ.
Nguyện thứ hai: Thế giới Ta Bà, Nam Thiệm Bộ Châu, cao Tăng cửu trụ, Chánh pháp xương minh.
Nguyện thứ ba: Quốc gia xã hội, mỗi tỉnh mỗi huyện, quan văn quan võ, ủng hộ Phật pháp.
Nguyện thứ tư: Tam bảo già lam, bảy chúng đệ tử, đồng tâm liệp lực, vì pháp vì người.
Nguyện thứ năm: Cha mẹ nhiều đời, oan thân nhiều kiếp, nương ánh sáng Phật, đốn siêu Cực Lạc.
Nguyện thứ sáu: Trưởng lão nông cạn, Tăng đồ ngoan cố, nhận rõ thời đại, làm nhiều Phật sự.
Nguyện thứ bảy: Ngụy trang cư sĩ, giả làm tín nữ, sớm nên sám hối, tránh đọa địa ngục.
Nguyện thứ tám: Thanh niên có chí, chúng Tăng hoằng pháp, chớ tranh nhân ngã, Phật giáo đổi mới.
Nguyện thứ chín: Tiên Thiên Long Hoa3, quỷ ma ngoại đạo, cải tà về chánh, bỏ tối theo sáng.
Nguyện thứ mười: Tăng mặc âu phục, chúng Ni để tóc, mãi làm Tăng bảo, tránh làm trùng sư. (獅蟲: Trùng trong thân sư tử).

Nguyên văn:
一願:十方世界,所有國土,一切眾生,悉離苦海。
二願:娑婆世界,南贍部洲,高僧久住,正法永昌。
三願:國家社會,各省各縣,文武長官,擁護佛法。
四願:三寶門中,七眾弟子,同心協力,為法為人。
五願:生生父母,歷代冤親,仗佛光明,頓超極樂。
六願:冬烘長老,頑固僧閥,認清時代,多作佛事。
七願:偽裝居士,假扮信女,早日懺悔,免墮地獄。
八願:有志青年,弘法僧眾,莫爭人我,革新佛教。
九願:先天龍華,外道魔子,改邪歸正,棄暗投明。
十願:西裝僧侶,帶髮尼眾,永作僧寶,免做獅蟲。

Phiên âm:
Nhất nguyện: Thập phương thế giới, sở hữu quốc độ, nhất thiết chúng sanh, tất ly khổ hải.
Nhị nguyện: Ta Bà thế giới, Nam Thiệm Bộ Châu, cao Tăng cửu trụ, Chánh pháp vĩnh xương.
Tam nguyện: Quốc gia xã hội, các tỉnh các huyện, văn võ trưởng quan, ủng hộ Phật pháp.
Tứ nguyện: Tam bảo môn trung, thất chúng đệ tử, đồng tâm hiệp lực, vị pháp vị nhân.
Ngũ nguyện: Sanh sanh phụ mẫu, lịch đại oan thân, trượng Phật quang minh, đốn siêu Cực Lạc.
Lục nguyện: Đông hống trưởng lão, ngoan cố tăng phiệt, nhận thanh thời đại, đa tác Phật sự.
Thất nguyện: Ngụy trang cư sĩ, giả phân tín nữ, tảo nhật sám hối, miễn đọa địa ngục.
Bát nguyện: Hữu chí thanh niên, hoằng pháp Tăng chúng, mạc tranh nhân ngã, cách tân Phật giáo.
Cửu nguyện: Tiên thiên long hoa, ngoại đạo ma tử, cải tà quy chánh, khí ám đầu minh.
Thập nguyện: Tây trang Tăng lữ, đới phát Ni chúng, vĩnh tác Tăng bảo, miễn tố sư trùng.
Sau khi anh phát mười nguyện lớn này, những giọt nước mắt thành khẩn mà thống thiết lã chã tuôn rơi. Tôi cũng cầu cho anh sở nguyện đều thành tựu.

Phần bổ sung:

Lư hương là vật pháp khí thường trực trên bàn Phật, là lò đốt hương cúng trước Phật, cùng với bình hoa và chân đèn, gọi chung là “tam cụ túc” (三具足). Khi thượng hương, nhang được cắm trong lò này chính là chiếc cầu nối giữa tâm người với tâm Phật. Công dụng của lư hương chủ yếu là để thắp nhang và chứa tàn tro, xem như một khí cụ, đồng thời cũng có thể trang nghiêm điện đường. Thắp nhang lâu dài giống như niệm niệm Bồ tát tương tục, tinh thần phấn chấn không mệt mỏi.
Vật liệu làm lư hương có nhiều loại, bao gồm các sản phẩm kim loại khác nhau như vàng, bạc, đồng, đồng vàng, đồng trắng, đồng đỏ, đồng xanh… và các loại bằng gốm sứ, lưu ly, ngà voi, gỗ tử đàn… Chủng loại lư hương đại khái có thể chia làm 3:
– Một là lư hương đặt trên bàn, gọi là cung lư, tòa lư, gồm có Lập hương lư (lư thắp nhang đứng), Ngọa hương lư (lư thắp nhang nằm), Đàn hương lư (lư thắp đàn hương).
– Hai là Bính hương lư, lư có tay cầm, cũng chính là “Thủ lư” theo cách gọi thông thường, chủ yếu được sử dụng trong các trường hợp nghênh đón.
– Ba là Đảnh hương lư, lư có ba chân và hai bên có hai tai, đa số là đặt đứng trên mặt đất. Đảnh hương lư không tai còn gọi là Tam túc hương lư. Có rất nhiều loại lư hương, cách thức thượng hương và hương được sử dụng cũng tùy theo từng chủng loại lư hương mà có nơi khác nhau.

Đại sư Tinh Vân – Thanh Như dịch


  1. Thập cúng dường: Nhang, hoa, đèn, đồ (nước), trái cây, trà, thực phẩm, báu vật, châu ngọc (十供養:香,花,燈,塗,菓,茶,食,寶,珠,衣): Mỗi thứ đều có công đức và ý nghĩa tượng trưng khác nhau. Thập cúng dường có nguồn gốc từ “Lương Hoàng Bảo Sám” (梁皇宝忏) còn gọi là “Từ Bi Đạo Tràng Sám Pháp” (慈悲道场忏法)
  2. Thủ Lư (手爐): Một loại nghi trượng, chư Tăng hoặc thị giả khi làm công tác Phật sự cầm lư hương đưa ngang trán.
  3. Tiên Thiên Long Hoa (先天龍華): Đạo Thiên Tiên còn gọi đạo Kim Đan, thời Ung Chính nhà Thanh (1723 – 1735) ông Hoàng Đức Huy, người Nhiêu Châu Phủ, Giang Tây đã sáng lập. Ông tín ngưỡng Long Hoa Tam Hội và Lão Mẫu trời sinh, nhấn mạnh sự kết thúc của ba kỳ (quá khứ, hiện tại, vị lai), lấy phổ độ chúng sanh phản quy chân không làm mục đích. Chủ yếu kinh quyển có “Hoàng Cực Kim Đan Cửu Liên Chánh Tín Quy Chơn Hoàn Hương Bảo Quyển”, được lưu truyền đầu tiên ở các nơi như Giang Tây, Tứ Xuyên, Vân Nam, Quý Châu, về sau lan rộng trên cả nước.