Ni Trưởng Thích Nữ Như Huệ – Quản viện chùa Từ Nghiêm

    1248

    (1914 – 1984)

    I. Thân Thế

    Ni trưởng Pháp danh Diệu Ninh, húy Hồng Huệ, Pháp hiệu Như Huệ, thế danh Vương Thị Kiến, sinh năm Giáp  Dần (1914) tại xã Huyền Hội, quận Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh, được sanh ra và lớn lên trong gia đình trung lưu, phúc hậu, nhiều đời có nhân duyên với Phật pháp. Thân phụ là cụ ông Vương Tấn Hưng, Pháp danh Thiện Thạnh, thân mẫu là cụ bà Lê Thị Tẩm, Pháp danh Diệu Phước. Gia đình có chín anh em, Ni trưởng là người con thứ tư, nhưng vì những người trước hữu sinh vô dưỡng, nên Ni trưởng được xem như trưởng nữ.

    II. Thời kỳ xuất gia tu học

    Do ảnh hưởng song thân thấm nhuần Phật pháp, nên Ni trưởng đã sớm có căn duyên thoát tục.

    Khi còn bé, mỗi khi thân phụ cỡi ngựa đi chùa làng, Ni trưởng đều đòi theo để đến chùa lễ Phật. Cụ Tổ Long Hòa là Bổn sư của thân phụ, cụ Tổ chùa Thành Xuân húy Như Nhiêu là Bổn sư của thân mẫu thường lui tới giảng dạy Kinh điển cho thân quyến, sự hiện diện của hai Hòa thượng Trưởng lão đã gợi lên hình ảnh ly trần giải thoát, đối với tuổi thơ thuần khiết của Ni trưởng. Năm 14 tuổi, Ni trưởng thọ Tam quy Ngũ giới với cụ Tổ chùa Long Hòa. Hạt giống Bồ-đề xưa chỉ còn đợi duyên phát triển, Ni trưởng nuôi chí xuất gia mãnh liệt, mặc dù đã nhiều lần xin phép song thân nhưng đều bị từ chối. Năm 16 tuổi, Ni trưởng bỏ nhà trốn sang chùa Thành Xuân ở Tịnh Biên, Châu Đốc, xin phép cụ Tổ Như Nhiêu được xuất gia. Ngày 8 tháng 4 năm 1930, Ni trưởng được chính thức làm lễ thế phát, được Hòa thượng Bổn sư ban Pháp danh Hồng Huệ.

    Bước đầu tu tập nơi ngôi chùa miền núi, gặp lúc chùa đang trùng tu, theo gương hạnh người xưa, bồi công lập đức, giã gạo gánh nước để được phước duyên tu học đạo mầu. Ni trưởng đảm đang nhiều việc công quả nặng nề, vừa nấu cơm cho thầy thợ đông đảo, vừa lên non hái củi, xuống suối gánh nước, vận chuyển gạch đá cho công nhân. Thân tuy lao nhọc nhưng niềm vui được làm công việc, khiến Ni trưởng quên tất cả sự mệt nhọc đời thường.

    Một năm trôi qua, công việc kiến thiết hoàn thành, thân phụ Ni trưởng đến viếng chùa thăm con, thấy con mình chỉ lo công quả mà không được học tập kinh điển. Cụ về thưa chuyện với cụ Tổ Long Hòa hiệu Huệ Quang, cụ Tổ đồng ý, chỉ dạy Ni trưởng nên lên Chợ Lớn tham học với cụ Tổ Từ Phong – một vị cao Tăng thời bấy giờ.

    Năm 17 tuổi (1931), Ni trưởng lên Chợ Lớn vào chùa Giác Hải đảnh lễ Tổ Từ Phong xin nhập chúng tu học. Tại đây, Ni trưởng chuyên tâm trau giồi Kinh – Luật – Luận. Hai năm trôi qua, đến năm 1933, phong trào chấn hưng Phật giáo được Sư cụ Tuyên Linh chủ xướng và vang dội khắp cả miền Nam. Tại tỉnh Trà Vinh quý cụ Tổ của hai dòng sông Tiền, sông Hậu đã vận động thành lập trường Lưỡng Xuyên Phật Học Viện, do ngài Huệ Quang làm Chánh Tổng lý, ngài Từ Phong làm đại Đạo sư, ngài Khánh Hòa làm Đốc học, nhằm mục đích đào tạo Tăng tài, thắp lên ngọn đèn Chánh pháp. Với tinh thần cầu tiến học hỏi để lợi mình lợi người, Ni trưởng lại xin nhập học tại Phật học đường Lưỡng Xuyên, tại đây Ni trưởng được thọ Sa-di-Ni giới, đây là ngôi trường Phật học lịch sử của miền Nam. Rồi hai năm sau (1935) được thọ Cụ túc giới tại Giới đàn Lưỡng Xuyên do cụ Tổ Tuyên Linh hiệu Khánh Hòa làm Hòa thượng Đàn đầu. Ni trưởng cũng xin y chỉ với cụ Tổ làm Thân giáo sư để được dìu dắt thêm phần tấn tu đạo nghiệp.

    Năm 1938, Ni trưởng học hết chương trình gia giáo Phật pháp tại Phật học đường Lưỡng Xuyên. Sau 05 năm nỗ lực học tập, trên được quý cụ Tổ chỉ dạy, dưới cùng bạn đạo kết làm pháp lữ, với tính đức khiêm cung hòa nhã, Ni trưởng vẫn thường đãi lao mọi công tác hằng ngày nên rất được các vị đồng học quý mến.

    Tại quận Mỏ Cày tỉnh Bến Tre, có hai Phật tử là Hội đồng Tỉnh và Hội đồng Hoài dâng cúng cho cụ Tổ Tuyên Linh một ngôi chùa, cụ Tổ đặt tên là “Vĩnh Bửu Ni Viện”, mở trường đào tạo Ni lưu. Rời Phật học đường Lưỡng Xuyên, Ni trưởng theo cụ Tổ về Vĩnh Bửu Ni viện thọ học, đồng thời có quý Ni trưởng như : Ni trưởng Từ Nguyên, Hải Huệ, Như Trí đương kiêm Giám viện chùa Từ Nghiêm, Ni trưởng Phổ Đức, Giác Nhẫn, Ni sư Tịnh Đắc…, quý sư cô như: Sư cô Diệu Minh, Diệu Bổn, Diệu Phúc, Diệu Hạnh… cùng câu hội về đó. Ở đây, ngoài những giờ tham học Phật pháp, Ni trưởng còn chấp lao phục dịch rất riêng năng và hoan hỷ, bởi đức tánh ôn hòa sẵn có và tinh thần hy sinh hành đường công quả để cúng dường thời gian cho chư Ni ôn tầm kinh điển.

    III. Thời  kỳ hành đạo

    Năm 1940, cụ Tổ nhận thấy Ni trưởng có đầy đủ năng lực đủ sức đảm nhiệm chức vụ trụ trì nên cụ Tổ đã giao ngôi Vĩnh Bửu Ni viện lại cho Ni trưởng để trở về Tuyên Linh an dưỡng, năm ấy Ni trưởng vừa tròn 26 tuổi. Sau khi thọ lãnh tâm pháp của cụ Tổ Tuyên Linh với pháp phái: “Từ Lâm Tế Chánh Tông, tứ thập thế húy Như Huệ, thượng Diệu hạ Ninh, Ni trưởng đã kế nghiệp cụ Tổ làm trụ trì chùa Vĩnh Bửu để chăm lo Phật sự , tiếp tục hoằng truyền Chánh pháp.

    Bước chân vào đường hoằng khai Thích chủng, Ni trưởng đã tỏ ra xứng đáng với trọng trách của chư Tổ giao phó và theo hạnh nguyện của Bồ-tát. Ni trưởng một mặt lo phần giáo dục cho Ni chúng, một mặt lo công tác xã hội giúp đỡ đồng bào nghèo, bởi hóa đạo độ sanh vốn là việc xưa cũ.

    Năm 1942, mở lớp học Sơ cấp miễn phí cho các em quanh vùng và lập nhà Bảo sanh giúp đỡ các sản phụ thiếu phương tiện, đó là một việc làm hữu ích cho dân làng tại vùng quê hẻo lánh.

    Vào những năm chiến tranh, do điều kiện an ninh nên các hoạt động Phật sự ở các tỉnh miền Nam đều bị ngưng trệ, chùa Vĩnh Bửu cũng trải qua những dấu tích khói lửa chiến tranh, mặc dù đã một lần tái thiết vào năm 1948, tình thế vẫn không sáng sủa hơn.

    Năm 1954, Ni trưởng nhận thấy không thể làm gì hơn trong bối cảnh đất nước bị phân chia hai miền Nam Bắc, nên rời chùa Tổ lên Sài Gòn nhập Hạ tại chùa Huê Lâm, nhằm lúc đang có cuộc vận động thành lập Ni bộ, vì Ni giới bổ xứ mỗi người một nơi cần phải hợp thành đoàn thể để chung lo Phật sự. Tinh thần phục vụ đoàn thể, chí nguyện lợi tha của Ni trưởng đã gặp môi trường thích hợp, Ni trưởng cùng với Sư trưởng Huê Lâm và các Ni trưởng khác đã cùng bàn việc thành lập Ni bộ, hướng tới việc tổ chúc cơ sở Ni lưu, có quy luật, kỷ cương để tiếp nối và hoằng truyền sự nghiệp của ngài Kiều Đàm Di Mẫu – bậc tiền bối đầu tiên của Ni giới.

    Năm 1957, Ni bộ Phật giáo Việt Nam được thành lập, sau Đại hội tại chùa Huê Lâm, Ni trưởng được cử làm Phó ban kiêm Thủ bổn ban Quản trị Ni bộ Trung ương. Trong thời gian này, Ni trưởng giao phó quyền trụ trì chùa Vĩnh Bửu cho hai Ni sư là Tịnh Đức và Như Tâm để có thời gian lo việc Phật sự chung. Cũng vào năm 1957, Giáo hội Tăng già Nam Việt mở khóa Huấn luyện trụ trì cho Ni giới tại chùa Dược Sư, Ni trưởng cũng tham dự và được giao phó nhiệm vụ quản lý Ni trường Dược Sư.

    Năm 1959, trụ sở Ni bộ đặt tại chùa Từ Nghiêm, Ni trưởng được Ni bộ mời về giữ chức quản lý. Buổi đầu chùa Từ Nghiêm là một ngôi chùa đơn sơ, trên vùng đất ẩm thấp, mái ngói hư dột, tường vách đổ xiêu. Về đây, Ni trưởng đem hết tâm lực và chí nguyện của mình, hợp với quý Ni trưởng trong Ban kiến thiết vận động tài chánh để kiến tạo thành chốn đạo tràng nghiêm tịnh, vừa là trụ sở Trung ương cho Ni bộ vừa làm Tổ đình của toàn thể Ni chúng miền Nam và cũng là nơi có cơ sở khang trang rộng rải để cho Phật tử hướng về chiêm bái.

    Trọn ba năm ròng rã lao nhọc, sớm đi tối về, quên ăn bỏ ngủ, tất cả ngày tháng và ý niệm đều tập trung ở Từ Nghiêm, Ni trưởng đã cáng đáng phần lớn công tác mà chư Tôn đức Ni giao phó, vừa đắp được cái nền thì lo tiền dựng cột, cất xong chánh điện thì lo vật liệu để làm Ni xá, việc kiến thiết tiến dần như tầm ăn dâu.

    Năm 1962, trụ sở Ni bộ chùa Từ Nghiêm đã hoàn thành một cách trang nghiêm được mọi người hoan hỷ, nơi đây cũng là Phật học Ni trường để chư Ni tấn tu đạo nghiệp. Vốn là người có suy nghĩ thực tế, Ni trưởng mở thêm xưởng dệt ở Phú Lâm để làm cơ sở tự túc cho Ni chúng, nhưng không bao lâu xưởng dệt phải đóng cửa vì không có người đầy đủ kinh nghiệm trông coi.

    Từ nhân duyên thành lập xưởng dệt, Ni trưởng có dịp tiếp xúc với người nước ngoài và mong có cơ hội giao lưu trao đổi cách tổ chức. Năm 1964, Ni trưởng tháp tùng phái đoàn của Giáo hội Tăng già Nam Việt sang Ấn Độ chiêm bái Phật tích và cung nghinh linh cốt cụ Tổ Huệ Quang về nước. Cũng năm này, Ni trưởng cùng với chư tôn Hòa thượng, Thượng tọa vận động thành lập ban Bảo trợ Đại học Vạn Hạnh, trụ sở đặt tại chùa Pháp Hội.

    Năm 1966, làm Trưởng ban Cứu trợ nạn nhân bão lụt tại Châu Đốc.

    Năm 1967, hướng dẫn phái đoàn chư Ni sang hành hương tại các nước Á Đông như Nhật Bản, Đài Loan. Qua một vòng hành hương, Ni trưởng nhận thấy rằng mọi công tác Phật sự nơi quê nhà như thế cũng tạm hoàn thành, đây là lúc cần tham học thêm về môn “giáo ngoại biệt tuyền” để tăng tấn phương diện giáo hoá.

    Năm 1969, Ni trưởng sang Nhật vừa chiêm lễ các ngôi Già lam danh tiếng và tham học Thiền tại chùa Tổng Trì thuộc tông Tào Động. Trong hai năm, Ni trưởng tham dự cả thảy ba kỳ Thiền hội, mỗi khóa thiền trụ một tuần lễ để minh chứng sự tu tập của hành giả. So với những người tham dự, Ni trưởng là người cao niên nhất nên rất tinh tấn và được vị Pháp chủ tông Tào Động chùa Tổng Trì khen ngợi, ấn khả…

    Trước khi xuất ngoại, Ni trưởng được ông bà Tân Vinh cúng dường một ngôi phố lầu tại Phú Định, sau khi sửa sang thành một ngôi chùa, Ni trưởng đặt tên là Thiền Đức Ni Tự (nay là quận 6, TP.HCM), giao cho Ni trưởng Thanh Lương trông nom. Hiện nay, Thiền Đức Ni Tự tuy đặt trong phạm vi nhỏ hẹp nhưng không kém phần tôn nghiêm mỹ lệ, và do niềm đức hóa, nên dân cư trong vùng đã quy tụ đông đúc chiêm bái hành thiện.

    Năm 1971, Ni trưởng về nước tiếp tục trụ trì chùa Thiền Đức và trùng tu Tổ đình Vĩnh Bửu.

    Năm 1972, thành lập Ký nhi viện Huệ Quang tại đường Hậu Giang, Chợ Lớn để giúp đỡ trẻ em nghèo.

    Năm 1973, Thượng tọa Thanh Từ – Viện chủ tu viện Chơn Không – Vũng Tàu, đại khai pháp tịch để chuyên giảng về Thiền tông, theo quá trình mỗi tháng một tuần lễ. Ni trưởng xin vào pháp tịch này để tiếp tục học hỏi về môn giáo ngoại biệt truyền mà những năm ở Nhật Bản đã được hành trì. Với chí nguyện đến nơi nào trang nghiêm nơi đó, Ni trưởng thành lập Thiền Viện Bát Nhã tại Vũng Tàu để chư Ni có chỗ tu học.

    Năm 1974, giữ chức vụ Giám viện Phật học Ni viện Dược Sư.

    Năm 1978, giữ chức Quản viện Phật học viện Từ Nghiêm cho đến ngày viên tịch.

    Ngoài ra, Ni trưởng còn ủng hộ về phần vật chất cũng như tinh thần cho các Thiền viện Ni như : Viên Chiếu, Huệ Chiếu, Linh Chiếu, Phổ Chiếu.

    Ni trưởng là một trong các vị Tôn đức của Ni giới miền Nam, góp phần xây dựng và lãnh đạo Ni chúng từ thuở ban sơ cho đến ngày nay. Khi còn ở gia đình là một người con hiếu hạnh, khi xuất gia Ni trưởng rất xứng đáng đảm đang trọng trách, trang nghiêm Phật sự do chư Tôn đức giao phó.

    Cuộc đời của Ni trưởng hòa nhịp song song với những biến chuyển của Phật giáo miền Nam. Từ thuở niên thiếu nhập học tại Lưỡng Xuyên, ôn tầm kinh văn, cho đến khi ra làm Phật sự, cộng tác thành lập Ni bộ, cống hiến cả chí nguyện và đạo hạnh của mình cho đoàn thể Ni lưu, làm nhân duyên cho Phật tử quy ngưỡng, gắn liền công đức và tâm tư với mái chùa Từ Nghiêm, vỗ về an ủi không biết bao nhiêu người đau khổ.

    Tánh đức ôn hòa và thuần hậu; với các vị Tôn túc thì kính lễ; với đạo bạn giữ niềm hòa khí, đặc biệt với chư Tăng trẻ tuổi hiếu học cần tu thì Ni trưởng lưu tâm ủng hộ mọi phương diện từ vật chất đến tinh thần.

    Về tinh thần tu học, Ni trưởng là một tấm gương tinh tấn bất thối chuyển dù niên cao lạp trưởng hay lúc bệnh đau, không bao giờ tự mãn. Ni trưởng luôn luôn cần cầu học hỏi với các bậc Thiện tri thức và tham dự các khóa thiền một cách siêng năng để thỉnh vấn những điểm cần yếu.

    Hằng ngày Ni trưởng chuyên lễ sám và trì tụng Kinh Pháp Hoa, hướng dẫn đạo tràng Pháp Hoa mỗi tuần một ngày tại chùa Từ Nghiêm. Kinh không rời tay, Y không lìa thân để cùng với Phật tử thấm nhuần trọn vẹn lời Kinh ngõ hầu trở về với tri kiến Phật.

    Hình ảnh của Ni trưởng với đức tướng uy nghiêm đĩnh đạc là nét sáng và đẹp trong Ni giới. Ni trưởng đi qua nơi nào đều mang đến niềm hoan hỷ, như luồng gió mát.

    IV. Thời kỳ viên tịch

    Năm 1983, sau khi trùng tu Tổ đình Vĩnh Bửu, Ni trưởng thọ bệnh, đến ngày mùng 9 tháng 1 năm Giáp Tý (1984) sức khoẻ yếu dần. Theo định luật vô thường, Ni trưởng an nhiên thâu thần viên tịch vào lúc 21 giờ tại chùa Từ Nghiêm, trụ thế 71 tuổi, hạ lạp 49 năm.

    Với công hạnh và sự nghiệp giáo dưỡng đối với giới Ni cũng như công sức đóng góp chung cho ngôi nhà Phật pháp nên nhục thể của Ni trưởng đã được hỏa táng và tôn trí xá lợi tại chùa Từ Nghiêm, chùa Vĩnh Bửu và các tự viện của hàng đệ tử.

    Bổn nguyện của Ni trưởng trong lời di chúc : “Từ khi mới xuất gia tôi đã có chí nguyện sống chung với đoàn thể, mở mang phát triển cho đoàn thể và khi về với Phật cũng nằm trong đoàn thể”.