8.4 C
London
Thứ Tư, Tháng Mười Hai 1, 2021

NI TRƯỞNG thượng NHƯ hạ HOA (1909 – 1989) – Nguyên giám viện Phật học Ni viện Từ Nghiêm- Trụ trì chùa Phước Huệ

- Advertisement -
- Advertisement -

I. THÂN THẾ

Ni trưởng sinh năm 1908 (Mậu Thân) tại huyện Thạnh Hưng, tỉnh Đồng Tháp, thế danh Chế Thị Ngàn, Pháp danh là Như Hoa, Pháp hiệu Chơn Ngạn. Ni trưởng là con cả trong một gia đình trung nông, Nho giáo nhưng có lòng tin Phật. Thân phụ là cụ ông Chế Văn Cảnh, Pháp danh Tế Thời và thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Xướng, Pháp danh Huệ Phụng, lúc xế chiều song thân đều xuất gia học Phật.

Ngay từ lúc 7 tuổi, ngoài việc học ở trường làng, Ni trưởng còn được cụ ông hướng dẫn chắt chiu về Nho học.
Ni trưởng có hai người em gái, một người thuận theo dòng đời để kế thừa gia nghiệp, còn người em út về sau cũng nối gót Ni trưởng xả tục cầu chơn (đó là Ni trưởng Như Ngọc – Viện chủ chùa Phước Huệ tỉnh Đồng Tháp).
Với lứa tuổi trăng tròn tràn nhựa sống, Ni trưởng nhiều lần xin xuất gia học đạo và đều bị song thân ngăn cấm nhưng không làm lay chuyển được tấm lòng quyết chí của nữ nhi.

II. THỜI KỲ XUẤT GIA TU HỌC

Năm 1928 khi 19 tuổi, với ý chí kiên định, Ni trưởng quyết định xuất gia dù biết rằng song thân sẽ buồn. Ni trưởng cầu xin Hòa thượng Tọa chủ chùa Kim Huê cho phép được cắt tóc xuất gia, học đạo và đã được Hòa thượng chấp thuận. Tuy học đạo ở chùa Tăng, nhưng lúc nào Ni trưởng cũng khép mình theo quy luật của thiền môn, một mực tinh cần nghiêm thân tấn đạo, được hai giới xuất gia và tại gia quý mến.

Năm 1932, Ni trưởng ra Huế tham học tại Ni trường Diệu Đức, trong thời gian này, Ni trưởng tiếp thu được nhiều tinh hoa từ giáo điển.
Năm 1936, chiến sự bùng nổ ở các tỉnh miền Tây nhất là tại Đồng Tháp và đạo pháp cũng không ngoài sự thịnh suy của đất nước. Được tin quê nhà đang có chiến sự, Ni trưởng xin phép Ban Giám Viện cho trở về để hòa mình trong thương đau.

III. THỜI KỲ HÀNH ĐẠO

Khi trở về quê nhà, Ni trưởng một mặt khắc phục khó khăn trong đời sống do thời cuộc, một mặt vẫn tham cứu đạo mầu với quý Hòa thượng như : Hòa thượng Vạn An, Bửu Chung, Phước An, Long An…
Năm 1941 lúc cuộc chiến gay go, kinh tế chùa Kim Huê ngày càng eo hẹp, Hòa thượng Kim Huê có ý định lãnh ngôi chùa Phước Huệ và đưa Ni chúng trên 30 vị về đây tu học và giao cho Ni trưởng đảm trách, Hòa thượng chỉ làm cố vấn.

Năm 1946, Hòa thượng Kim Huê giao việc trụ trì chùa Phước Huệ cho Ni trưởng, vì biết Ni trưởng có đủ trình độ Phật pháp lại có bản chất hài hòa lịch thiệp. Trong giai đoạn này, chùa đang lâm vào cảnh kinh tế khó khăn mà Ni chúng thì đông, nhưng với tài thao lược của Ni trưởng nên mọi việc trong ngoài đều ổn định. Một mặt lo kinh tế nhà chùa, mặt khác lo chỉnh đốn sự tu học của Ni chúng, kiến tạo lại ngôi Tam Bảo đã bị hỏa hoạn do chiến tranh.

Từ năm 1958 đến 1960, Ni trưởng làm Giám viện Ni trường Dược Sư, nhận thấy không thể bó mình trong môi trường nhỏ hẹp cá nhân mà phải có trách nhiệm dấn thân lợi tha vô kỷ. Với suy nghĩ này, Ni trưởng dốc hết sức lực, tâm trí vào việc xiển dương Phật pháp làm cho Ni trường Dược Sư chuyển mình mạnh mẽ, một sự canh tân phù hợp giữa trách nhiệm, quyền lợi và kết quả là Ni trường Dược Sư ngày càng phát triển, Ni tài được đào tạo ngày càng đông.
Cũng trong giai đoạn này (năm 1959), Ni trưởng lãnh thêm chùa Thiên Hậu (Phước Hậu ngày nay) tọa lạc tại số 120/16 Trần Hưng Đạo – Quận I – TP. Hồ Chí Minh để làm cơ sở cho Ni chúng tu học.

Do chiến tranh đã gieo rắc tang thương, thê thảm nhất là những trẻ mồ côi, nên tấm lòng từ bi của người con Phật luôn rộng mở, không thể làm ngơ trước những thương đau đó và nhiều Cô Nhi viện, Ký Nhi viện được thành lập khắp nơi để đón nhận những trẻ mồ côi không nơi nương tựa và Ni trưởng cũng thành lập Ký Nhi Viện Dược Sư, đồng thời làm Cố vấn trong hai năm từ 1960 đến 1962.

Pháp nạn 1963, nhiều Tăng, Ni bị bố ráp, giam cầm trên khắp hai miền Trung – Nam đất nước, có một số vị bị đày đi Rạch Cát, bị giam cầm ở Chí Hòa… Trong hoạn nạn đó Ni trưởng đều chung lo chia sẻ.

Sau Pháp nạn năm Quý Mẹo (1963), Ni trưởng đã tích cực tham gia vào việc thành lập Ni bộ có trụ sở Trung ương tại chùa Từ Nghiêm.

Năm 1963 – 1969, lại một biến cố bi đát của thời đại đã đưa Phật giáo lâm vào đại nạn, nhiều Thượng tọa, Đại đức Tăng, Ni bị chính quyền Sài Gòn giam cầm, nhiều cuộc biểu tình đòi quyền sống, chấm dứt chiến tranh của Tăng Ni, Phật tử diễn ra làm chấn động thế giới. Ý thức hệ từ cuộc chiến chống Mỹ cứu nước đã đưa nội bộ Phật giáo lúc đó ngày càng mâu thuẫn chia ngăn và điển hình là Việt Nam Quốc Tự ngôi chùa hiện hữu do thành quả tranh đấu đòi bình đẳng tôn giáo đã chìm trong tang tóc.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Giáo hội, Ni trưởng về Việt Nam Quốc Tự đảm nhận chức Trưởng ban Hậu cần cho Tăng Ni và Phật tử, đây là giai đoạn phức tạp vì nhiều quần chúng, Tăng Ni và Phật tử tụ tập tại đây. Ở thời điểm này, với tinh thần quả cảm, phục vụ đạo pháp, Ni trưởng thật xứng danh với cương vị hành Bồ-tát hạnh, một mẫu từ thương kính đúng với  lời thơ của một Phật tử thân tặng :

“ Người hỡi bàn tay đầy quán xuyến,
Lo Tăng Ni, Phật tử lúc gian nan,
Cơm rau, cháo sớm thân bao quản,
Chỉ nguyện Tăng Ni được ấm lòng. ”

Ôi! Cao quý thay một tâm hồn quảng đại, một sự hy sinh chịu đựng để góp công tô bồi đạo pháp.

Từ năm 1968 đến 1975, biến cố thiên tai bão lụt khủng khiếp xảy ra tại miền Trung, ở hải ngoại thì bà con Việt kiều đang sinh sống tại Campuchia bị chế độ cầm quyền tại đây đàn áp nên phải hồi hương. Đây là trọng tâm cứu trợ của Giáo hội, Ni trưởng là một trong những cán bộ đắc lực theo phương châm : “Nơi nào Phật sự cần thì đến, Phật tử cần thì đi, không ngại gian lao chẳng từ khó nhọc”.

Những tưởng thời gian nhàn hạ trong lúc tuổi già để tấn tu niệm Phật, cùng sớm hôm với mẫu từ tuổi quá 80. Nhưng không ! Gánh nặng còn mang, ân Phật pháp phải đền.
Thế rồi, một sáng tinh sương theo tiếng gọi của tinh thần trách nhiệm, Ni trưởng đã đến Từ Nghiêm để dấn thân vào công tác với chức năng Giám Viện Phật học Từ Nghiêm trong nhiệm kỳ hai năm, Ni trưởng luôn tỏ ra xứng đáng với trách nhiệm lợi mình lợi người.
Mùa xuân Đại thắng 1975, nước nhà thống nhất, Đảng và Nhà nước đặt trọng tâm kiến tạo lại quê hương cho giàu đẹp; Phật giáo Việt Nam cũng cần phải thống nhất thành một thể, theo nguyện vọng của Tăng Ni, Phật tử.

Năm 1981, Đại hội Đại biểu Phật giáo Việt Nam lần thứ nhất đã diễn ra tại thủ đô Hà Nội, Ni trưởng đã tham dự tại Đại hội này và được Đại hội suy cử chức vụ Ủy viên Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Tiếp theo năm 1982, là thành viên Ban Trị sự Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh.
Bên cạnh đó, Ni trưởng vẫn lo đến Phật sự tại quê nhà (tỉnh Đồng Tháp) như :
– Thành lập Tỉnh hội Phật giáo.
– Xây dựng lò thiêu cho Tăng Ni, Phật tử.
– Nhắc nhở Tăng Ni y theo Nghị quyết của Giáo hội và Nghị quyết 297 của Nhà nước trong việc tu học và sinh hoạt.
Dù niên cao lạp trưởng, sức khoẻ hao mòn theo năm tháng, nhưng Ni trưởng không từ một Phật sự nhỏ nào khi Giáo hội giao phó, ngoài xã hội Ni trưởng rất nhiệt tình đối với những công tác từ thiện như :
– Góp quỹ xây dựng trường Cao cấp Phật học Việt Nam (Cơ sở II) tại TP. HCM.
– Hưởng ứng phong trào mua công trái của Chính phủ.
– Hưởng ứng đóng góp cứu trợ bão lụt miền Trung.
– Nhiệt tình đóng góp xây dựng thủy điện Trị An.
Với những công việc trên, Ni trưởng quả thật đã nói lên tinh thần : “Kính đạo – Trọng dân – Yêu nước”.

IV. THỜI KỲ VIÊN TỊCH

Nhiều lần không kháng cự nổi với huyễn thân tứ đại, Ni trưởng vào điều trị tại bệnh viện An Bình, Chợ Rẫy, tại những nơi này Ni trưởng thường động viên, tâm sự với các bệnh nhân nhằm xoa dịu cơn đau bệnh tật.

Mặc dù đã điều trị nhưng bệnh không thuyên giảm, Ni trưởng về lại chùa, sẵn sàng đón nhận sự phân ly khi vô thường đã đến. Ni trưởng vẫn cứng rắn với nội tâm, nụ cười luôn nở trên môi, vẫn thường giảng dạy đạo pháp cho đệ tử, nhiều lần đệ tử hỏi về giây phút cuối cùng của Người nên làm thế nào? Ni trưởng ôn tồn bảo: “Các con ơi! Xác thân thầy giờ này không phải là của các con nữa, thầy muốn về chùa Xá Lợi, hiến cúng thân xác này vào việc công ích”. Và Ni trưởng đã đọc bài thơ :

“ Lai thời hoan hỷ, khứ thời bi,
Bi hữu nhân tình các hữu chi,
Địa nhật tương phùng bi hỷ lạc,
Lai thời hoan hỷ khứ thời bi. ’’

Để thanh nhàn trong dưỡng bệnh, Ni trưởng trở về ngôi chùa Phước Huệ và đại chúng thân thương tỉnh Đồng Tháp, nơi đã chan hòa sức sống, tình nghĩa đệ huynh thuở xa xưa.

Hơn 80 năm với cuộc đời và 60 mươi năm làm Phật sự, Ni trưởng đã dâng trọn niềm tin lên ngôi Tam Bảo.

Với 8 tháng kể từ khi lâm trọng bệnh, âu cũng chỉ dòng sông đổ về biển, những khoảnh khắc âu lo hồi họp lướt nhẹ, những phút giây tím ngắt cõi lòng của người đệ tử, giờ đã trở thành sự thật.

Trong một buổi sáng mờ sương, chùa Phước Huệ đón nhận một tin dữ ! Ni trưởng đã viên tịch lúc 8 giờ 40 ngày 28 tháng 9 năm Kỷ Tỵ (ngày 27/10/1989), trụ thế 80 năm, 60 hạ lạp, giữa âm vang niệm Phật và muôn lòng khắc khoải tiếc thương!
Thế là hết, trăng Lăng Già phẳng lặng, mây Phổ Đà ngừng trôi, phút chốc người đã ra đi, biển vô thường vẫn dậy sóng, sông khổ lụy vội cứ trôi, nhưng giác linh của Ni trưởng như vẫn còn in dấu chốn vô thường.

“ Dòng sanh diệt tử sanh cuốn trôi tình nhân thế
Kiếp phù vân vay trả nợ tầm dâu
Phút ra đi ai chẳng xót xa lòng
Giờ ly biệt ai nhìn không thương tiếc
Ôi! thế là hết như mây trôi, như gió thoảng.
Đời tu hành thầy gởi trọn nơi đây
Giờ xa cách xin ghi dòng lưu niệm
Đôi nét bút sử xanh lưu hậu thế
Nghìn thu sau môn đệ chẳng lợt phai.”

- Advertisement -
Latest news
- Advertisement -
Related news
- Advertisement -