Ni Trưởng thượng Đàm hạ Lựu

    614

    (1933 – 1999)

    I. Thân thế

    Thế danh của Ni trưởng cũng chính là Đạo Hiệu. Song thân khó nuôi con, nên lúc Ni trưởng hơn hai tuổi, hai cụ đã đem vào chùa gởi cho Sư cụ Đàm Soạn, trụ trì chùa Cự Đà nuôi dưỡng và được Sư cụ đặt tên là Đàm Lựu. Phụ thân của Ni trưởng là cụ ông Đặng Văn Cán và mẫu thân là cụ bà Nguyễn Thị Cả. Ni trưởng sinh vào ngày 04 tháng 8 năm 1933 (nhằm ngày 13 tháng Sáu năm Quý Dậu), tại làng Tam Xá, xã Thanh Oai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông.

    II. Thời kỳ xuất gia tu học

    Năm 1948, Nghiệp sư (tức Sư cụ Đàm Soạn) nhận thấy Ni trưởng là người tuy còn nhỏ tuổi, nhưng ý chí cao vời, tâm nguyện bao la nên được truyền thụ Sa-di-Ni giới tại chùa Cự Đà, Hà Đông, thuộc Sơn môn Tổ đình Trung Hậu. Thụ giới Sa-di-Ni lúc 16 tuổi nhưng thật sự đã được Nghiệp sư chính thức cho thế phát xuất gia khi còn là “Bạch sĩ”.

    Tuổi vị thành Niên, nhưng lòng ham tu, hiếu học; nhất là chí nguyện xuất trần, thì người thanh Niên cũng hiếm ai bì kịp. Do vậy, Sư cụ Nghiệp sư đã không ngần ngại cho đi tham học hầu hết các chùa trong Sơn môn tại miền Bắc như Sư cụ Cự Đà, Thanh Nhàn, Nhân Hạ, Từ Hàng,  Trung Hậu, Vân Hồ, Đức Viên…

    Năm 1951, Đại giới đàn tổ chức tại chùa Quán Sứ, Hà Nội, quy tụ hầu hết các bậc cao Tăng trong hàng Giới sư bấy giờ. Nhận thấy đây là một Đại giới đàn đặc biệt, thêm vào đó sức học và chí tu của Ni trưởng cũng vững chãi, nên Sư cụ Nghiệp sư đã hướng dẫn Ni trưởng đi đảnh lễ quý Tổ cầu xin quý ngài Yết-ma cho thêm tuổi để được thụ giới; vì lúc ấy Ni trưởng mới hơn 19 tuổi. Nhờ vậy, Ni trưởng đã được đặc cách thụ Tỳ-kheo-Ni Bồ-tát giới tại Đại giới đàn nêu trên. Trong hàng Giới sư Tăng lúc bấy giờ có các Tổ như : Pháp chủ Mật Ứng, Thượng thủ Tuệ Tạng, Pháp chủ Đức Nhuận, cao Tăng Tố Liên, Trí Hải… bên Ni có chư Hòa thượng Ni như : Sư cụ Đàm Soạn, Sư cụ Trịnh Xá, Sư cụ La Hán… Sau khi đắc giới, được Nghiệp sư cho hầu cận làm Thị giả.

    Đầu năm 1952, Sư cụ Nghiệp sư được chư Tôn đức Tăng Ni thỉnh cử vào Nam nhận lãnh ngôi vị trụ trì chùa Dược Sư tại Gò Vấp và Ni trưởng được theo hầu cận. Tiếp nhận xong chùa Dược Sư, Sư cụ đi thỉnh chư Tôn đức Tăng Ni tại địa phương để mở Ni trường, đào tạo Ni tài. Thế là chùa Dược Sư trở  thành Ni trường. Ni trưởng trở thành một trong những Ni sinh ưu tú đầu tiên của Ni trường này. Tại đây, hai chương trình nội điển và ngoại điển được dạy song song :

    – Năm 1960, Ni trưởng thi đỗ Tú tài.

    – Năm 1961, sau 9 năm tu học tại Ni trường Dược Sư mãn khóa, Ni trưởng về lưu trú tại chùa Phước Hậu, Sài Gòn.

    – Năm 1964, được Ni trưởng Đàm Hướng giới thiệu đi du học ở Tây Đức, ngành Xã hội học. Thời gian lưu học tại đây, Ni trưởng vừa học, vừa hướng dẫn tinh thần cho sinh viên Việt Nam du học.

    – Năm 1969, tốt nghiệp ngành Xã hội học, Ni trưởng về nước nhận lãnh Phật sự thuộc sở học, sở tu của mình.

    III. Thời kỳ hành đạo

    Năm 1970, Ni trưởng được chư Tôn đức Tăng Ni tín nhiệm giao phó Phật sự trong chức vụ Giám đốc Cô nhi viện Lâm Tỳ Ni tại Sài Gòn.

    Năm 1977, Ni trưởng đến đảo Kuchin – Malaysia, hoạt động Phật sự tại đây gần hai năm.

    Năm 1979, Ni trưởng được Hòa thượng Thanh Cát tọa chủ chùa Giác Minh, Palo Alto bảo lãnh sang Hoa Kỳ.

    Năm 1980, Hòa thượng đề cử Ni trưởng về vùng San Jose để hành đạo và sáng lập chùa Đức Viên.

    Khởi đầu cho chùa Đức Viên, Ni trưởng thuê một ngôi nhà nhỏ tọa lạc tại số 2003, Evelyn Ave, San Jose, CA 95122. Chùa tuy đơn sơ nhưng tấm lòng của người hướng dẫn tinh thần lại bao la. Do vậy, những Phật sự tuy khiêm tốn, nhưng vô cùng quan yếu sau đây được khởi sự :

    · Tu Bát Quan Trai, tụng Kinh thuyết giảng, đáp ứng mọi nhu cầu tín ngưỡng cho quần chúng Phật tử Việt kiều tại nước ngoài.

    · Mở lớp dạy tiếng Việt đầu tiên tại vùng San Jose.

    · Sinh hoạt thanh thiếu Niên, thành lập Gia đình Phật tử mang tên Đức Viên, quy tụ trên 200 em.

    · In Kinh, sang băng giảng để cúng dường các chùa, tặng các thư viện, ấn tống cho Phật tử, gửi tặng các nơi khác tại Đông Nam Á.

    Vì nhu cầu tu học, quần chúng và Phật tử đồng hương quy tụ khá đông, ngôi chùa không đủ sức chứa, để đáp ứng nhu cầu Phật sự nên vào năm 1984, Ni trưởng phát nguyện kiến lập chùa chính thức. Khởi đầu cho công tác Phật sự khá quy mô này, Ni trưởng nghĩ ra một cách mà mọi người giàu nghèo đều có thể đóng góp công sức, tài vật để gieo trồng căn lành với Tam Bảo, đó là thu gom đồ đã qua sử dụng đem bán để gây quỹ xây chùa. Kẻ góp công sức, người góp tài vật.

    Năm 1985, mua được khu đất tương đối rộng và một ngôi nhà cũ để thỉnh Phật về an vị, nơi đây tiếp tục sự nghiệp tu tập, hoằng truyền Chánh pháp.

    Năm 1986, nhân duyên Phật pháp đưa đến, Ni trưởng được sự ủng hộ và khuyến khích từ chư Tôn đức Tăng Ni và thập phương thiện tín, nên đã mua tiếp lô đất kế cận với tâm nguyện không những hoằng truyền Chánh pháp, mà còn mang văn hóa Dân tộc – được gói gém qua hình ảnh ngôi chùa Việt tại Hoa Kỳ “Tới cổng Từ bi, chiêm bái chùa Việt nơi đất Mỹ. Vào chùa lễ Phật, hoằng dương Phật pháp tại trời Tây”

    Diện tích chung cho cả hai lô đất này là 94.000 bộ vuông, đủ rộng để xây một ngôi chùa mang tính biểu trưng cho một nền Văn hóa cổ truyền của Dân tộc với 4.000 năm Văn hiến.

    Năm 1991, ngôi đại tự Đức Viên chính thức đặt viên đá đầu tiên khởi công kiến tạo đúng với tầm cỡ hầu đáp ứng nhu cầu tu tập của Ni chúng và quần chúng Phật tử.

    Năm 1995, ngôi Đại điện được giấy phép chính thức sinh hoạt, đáp ứng khả dĩ một số nhu cầu Phật sự quan trọng. Tuy vậy, đây cũng chỉ mới đạt được phân nửa tâm nguyện kiến tạo của Ni trưởng. Nửa phần còn lại là Ni xá, nhà bếp và nhà ăn cho đại chúng chưa được thực hiện thì Ni trưởng đã được “bổ xứ Phật sự nơi khác”.

    Từ ngày ngôi Đại điện Đức Viên chính thức sinh hoạt đến nay, các Phật sự sau đây được mở rộng:

    1) Thuyết giảng Kinh pháp

    Đúng với hạnh nguyện, pháp môn vô lượng thệ nguyện học, Ni trưởng đã cung thỉnh chư Tôn đức thuộc nhiều truyền thống Phật giáo như : Việt Nam, Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện, Hàn Quốc, Nhật Bản, Lào, Mỹ… về thuyết giảng. Riêng truyền thống Phật giáo Việt Nam đã có các bậc cao Tăng và Pháp sư sau đây đến thuyết giảng : Hòa thượng Tâm Châu (Canada); Hòa thượng Thanh Cát, Hòa thượng Mãn Giác, Hòa thượng Hộ Giác, Hòa thượng Giác Nhiên, Hòa thượng Thanh Đạm (Hoa Kỳ); Thiền sư Nhất Hạnh (Pháp); Hòa thượng Tịnh Hạnh (Đài Loan); Thiền sư Thanh Từ (Việt Nam); Thượng tọa Như Điển (Tây Đức); Hòa thượng Minh Tâm, Thượng tọa Thiện Huệ, Thượng tọa Nhất Chơn (Pháp); Hòa thượng Như Huệ (Úc); Thượng tọa Chí Minh (Na Uy); Hòa thượng Huyền Diệu (Ấn Độ). Ngoài ra, Ni trưởng còn y luật Phật chế cung đón tất cả các vị cao Tăng, Ni thăm viếng nước Mỹ có dịp ghé qua thăm chùa Đức Viên để Ni chúng và Phật tử được đảnh lễ , cùng dường hầu tăng trưởng đạo phong, đạo lực.

    2) Chiêm bái Phật tích, Thánh tích và danh lam Cổ tự

    Nhằm phát huy Niềm tin, thâm tín Tam Bảo, nỗ lực tu tập và tích cực Phật sự, Ni trưởng đã tổ chức nhiều chuyến hành hương chiêm bái Phật tích tại Ấn Độ; các chuyến hành hương chiêm bái Thánh tích và thăm viếng danh lam Cổ tự tại các quốc gia Phật giáo vùng Đông Nam châu Á như Trung Quốc, Thái Lan, Miến Điện…

    3) Truyền bá giáo lý

    Trong hạnh nguyện hiển chánh tồi tà, Ni trưởng không những tiếp tục cho in ấn Kinh sách và băng giảng để phổ biến trong quảng đại quần chúng, mà còn hỗ trợ các đài phát thanh tiếng Việt có chương trình phát thanh giáo lý Phật Đà.

    4) Đào tạo Ni chúng và giúp đỡ hậu học

    Trong hạnh nguyện tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức, Ni trưởng đã giáo dưỡng Ni chúng hữu duyên về xuất gia tu học tại đạo tràng Đức Viên, gửi Ni chúng đi tham học các trung tâm tu học ở các quốc gia, cho Ni chúng theo học kiến thức phổ thông tại các trường Đại học Mỹ. Ngoài ra, Ni trưởng còn hỗ trợ tài chánh cho các Tăng Ni sinh du học tại các trường Đại học ở Ấn Độ, Đài Loan, Hoa Kỳ cũng như bảo trợ các trường Phật học tại quê nhà như Bà Đá, Quán Sứ (Hà Nội), Vạn Hạnh, Quảng Nam, Thủ Đức, Trà Vinh…

    5) Bảo tồn di tích và phát huy cơ sở

    Bảo tồn di tích, phát huy cơ sở Phật giáo là một trong những Phật sự mà Ni trưởng hằng quan tâm. Do vậy, Ni trưởng đã tích cực hỗ trợ các chương trình trùng tu các Cổ tự và danh lam tại Việt Nam; hưởng ứng các chương trình xây cất Tu viện tại Việt Nam, Trung Hoa, Ấn Độ…

    6) Bảo tồn văn hóa và thể hiện lòng từ

    Để bảo tồn văn hóa, thể hiện qua danh ngôn: “Tiếng ta còn, nước ta còn”, Ni trưởng đã mở trường Việt ngữ Đức Viên để cho con em Việt kiều trau giồi tiếng Việt. Thể hiện lòng từ bằng cách khuyến khích Phật tử và đồng hương giúp đỡ đồng bào đang gặp khó khăn và gần đây nhất là tích cực trong việc hỗ trợ đồng bào bị thiên tai tại Việt Nam, cũng như vùng Nam Mỹ; thăm viếng tù nhân, giúp đỡ các trại cùi và các trung tâm trẻ em tật nguyền…

    IV. Những ngày cuối cùng

    Hữu thân hữu bệnh, hữu sanh hữu tử đó là quy luật tất nhiên, Ni trưởng thân mang ba chứng bệnh nan y đã được bác sĩ cho biết là tiểu đường, ung thư và bệnh đông máu. Nhưng, tâm nguyện hoằng truyền Chánh pháp, phục vụ chúng sanh đã khiến Ni trưởng quên đi bệnh tật cần được chữa trị. Do vậy, đến khi căn bệnh phát sanh tới hồi nguy kịch, thì bác sĩ đành bó tay !!!

    Mặc dù Phật sự đa đoan, nhất là những tháng cuối khi cơn bệnh được bác sĩ thông báo là không trị được, nhưng Ni trưởng vẫn thản nhiên trong việc hành trì pháp môn trì chú Niệm Phật, cầu được vãng sanh không lúc nào xao lãng.

    Ni trưởng đã xả bỏ báo thân, sanh về cõi Phật vào lúc 21 giờ 27 phút, ngày 26 tháng 3 năm 1999 (nhằm ngày 09 tháng Hai năm Kỷ Mão. Thọ thế 67 năm; 48 hạ lạp năm (1).

    Chú thích:

    (1)  Mục lục hành chánh theo đơn vị hành chánh Tỉnh – Thành của Việt Nam theo vần A, B, C. Nhưng Ni trưởng định cư và viên tịch tại Hoa Kỳ, để tiện tra cứu  nên xếp Ni trưởng vào danh sách chư Ni Hà Nội.